Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Từ thi pháp đến ký hiệu

(Tiếp theo số báo 578, ngày 26-12-2019)

 

Lý luận bây giờ chính là con voi mà hầu hết các nhà lý luận Việt Nam hiện đại thường chỉ mới là mấy anh mù tội nghiệp đang bắt đầu sờ soạng…”.

“Đây là cuốn sách của một người làm lý luận. Coi như là mấy câu trả lời của tôi đối với một số vấn đề lý luận văn học hiện đại”.

(GS.TS.NGND Trần Đình Sử. Trên đường biên của lý luận văn học. NXB Phụ nữ. H.2016. Các trang 281-282 và trang gấp bìa 4)

Đoạn trích trên là ở bản in lần thứ 2. Lần đầu in năm 2014, do NXB Văn học – Hội Nhà văn Hà Nội mà Phạm Xuân Nguyên cầm trịch, trao giải thưởng năm 2017. Có dự giải ở Hội Nhà văn Việt Nam nhưng không có hồi âm.

Xuất xứ trên cho thấy ánh sáng từ Con voi lý luận Trần Đình Sử là một chủ định nhằm soi rọi cho các nhà lý luận Việt Nam hiện đại mù mờ tội nghiệp đang bắt đầu sờ soạng. Là một độc giả quan tâm đến lý luận, chúng tôi rất hoan hỉ Trên đường biên của lý luận văn học và Dẫn luận Thi pháp học văn học (NXB Đại học Sư phạm. H.2017), mong được sáng láng đôi điều.

Trước hết xin lỗi GS.TS.NGND Trần Đình Sử được viết tắt tên tác giả, là TG.TĐS. Nếu viết đầy đủ thì dài quá và phải lặp lại nhiều lần.

TG.TĐS quy mọi sự nghèo nàn, lạc hậu, tình trạng khủng hoảng của lý luận văn học hiện nay là do hình thái lý luận Nhà nước. Ông viết: “Một thời đại lý luận văn học do Nhà nước hoàn toàn bao cấp đã đi qua. Và thời đại lý luận văn học của những người làm lý luận văn học, nghiên cứu về học thuật đã đến” (Sđd. Trg.278). Ở đoạn khác, ông cho rằng: “Thành tựu lý luận văn học lớn nhất trong thời gian 30 năm qua là phê phán các giáo điều lý luận xơ cứng và làm cho chúng mất thiêng. Đó là một điều kỳ diệu do thời đại ban tặng” (Sđd. Trg.275).

Ông kín kẽ lắm. Ở bản in trước, ông viết: “Lý luận văn học Marxist cũng trở nên bơ vơ, hầu như không còn nơi nương tựa” (Sđd. Bản 2014. Trg.277). Hoặc: “Có thể nói cả một hệ thống nguyên lý lý luận văn học chặt chẽ đã mất thiêng, không còn sức ràng buộc” (Sđd. Bản 2014. Trg.264).

Và còn nhiều nữa. Đại loại như thế. Ông cho rằng lý luận văn học là lý luận thứ phát dựa vào lý luận nguyên phát (triết học Marx). Vì vậy khi Liên Xô và hệ thống XHCN sụp đổ thì lý luận văn nghệ Marxist cũng sụp đổ theo. Lý luận văn học ở Việt Nam do lấy học thuyết Marx – Lenin làm nền tảng nên cũng… theo nhau “về trời”.

Như thế, điểm nhìn, điểm xuất phát của TG.TĐS là Liên Xô và hệ thống CNXH sụp đổ đồng nghĩa với học thuyết Marx – Lenin sụp đổ, lý luận văn nghệ Marxist sụp đổ và lý luận văn học Việt Nam do Nhà nước hoàn toàn bao cấp cũng sụp nốt. Đó là phương pháp tư duy theo hiệu ứng đôminô. Ba bề bốn bên lửa cháy cả rồi. Nhanh chân lên. Có phải bỏ của cũng đành…

Chúng tôi thấy cần bình tĩnh xem xét lại, từ các vấn đề sau:

Học thuyết Marx – Lenin – Tư tưởng Hồ Chí Minh có còn giá trị lý luận và thực tiễn không? Đây là chủ đề rất lớn. Chỉ xin nêu mấy tiểu tiết để cùng tham khảo.

Chủ nghĩa tư bản đã có lịch sử hơn 500 năm (từ 1500 đến nay) và bản chất của nó không thay đổi. Việt Nam đã có các tỷ phú tỷ đô. Người cao nhất hơn 7 tỷ USD. Thấp nhất trên 1 tỷ USD. Còn tỷ phú VND thì nhiều lắm. Các vụ đại án nghìn tỷ. Tỷ lệ người nghèo khoảng 1,5% trên 100 triệu dân. Chấp nhận kinh tế thị trường nhưng vẫn giữ định hướng XHCN. Thực tế này có ảnh hưởng đến lý luận văn học không?

Khi GS. Nguyễn Mạnh Tường trở lại thăm Paris (Pháp) sau Đổi Mới, bạn bè hỏi ông suy nghĩ gì về chủ nghĩa Cộng sản. Ông đáp: Cần phân biệt học thuyết của Marx và những người thực hiện chủ nghĩa Cộng sản.

Đã và đang có nhiều Hội nghị Quốc tế, nhiều công trình nghiên cứu về chủ nghĩa Marx trên phạm vi thế giới. Học thuyết Marx vẫn được đánh giá cao, có giá trị đối với tương lai nhân loại. Xem Vì sao Marx đúng? NXB Lý luận Chính trị. H.2015.

Như vậy, sự sụp đổ CNXH ở Liên Xô và Đông Âu là chưa đủ cơ sở để tin rằng chủ nghĩa Marx đã sụp đổ, lý luận văn nghệ Marxist trở nên bơ vơ không còn nơi nương tựa. Nhà lý luận không nên và không thể là con bài đôminô!

Nếu thật sự học thuật thì không nên đặt ra khái niệm Hình thái lý luận Nhà nước. Cần nhớ và nhất quán là Công cuộc Đổi Mới xã hội toàn diện trong đó có văn học – nghệ thuật và lý luận văn học. Không phải là đoạn tuyệt toàn diện và triệt để với giai đoạn trước, với lý luận Nhà nước. Do đó phải xem xét lý luận văn học trước đó như thế nào. Cái gì còn tiếp tục. Cái gì phải đổi mới. Không nên xem trước và sau đổi mới là hai thời đại khác nhau đến đối lập nhau.

Văn học Việt Nam 1945-1975 đã hoàn thành sứ mệnh của nó, góp phần vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, làm nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của nước Việt Nam hôm nay. Không thể xem giai đoạn văn học đó là vô giá trị. Nhà Lý luận văn học, nhà Thi pháp học Trần Đình Sử và nhà Ký hiệu học Lã Nguyên có thể không thích, không hâm mộ Tố Hữu hay Nguyễn Tuân. Đấy là quan điểm và học thuật của hai ông. Nhưng Tố Hữu và Nguyễn Tuân là những giá trị tiêu biểu của văn học cách mạng và kháng chiến. Lịch sử văn học đã khẳng định như thế. Vì vậy, nhìn nhận và giải quyết vấn đề lý luận văn học Việt Nam sau đổi mới không thể phủ nhận thời đại văn học trước Đổi Mới, dù từ bất kỳ thứ lý luận nào.

Nhà nước của mỗi quốc gia, mỗi xã hội phải tổ chức – điều hành đời sống văn hóa của quốc gia đó, xã hội đó. Đấy là nguyên lý triết học và là thực tiễn lịch sử từ Cổ Kim Đông Tây. Dân chủ đến đâu cũng không thể đối lập với Nhà nước trong tính lịch sử – cụ thể của nó. Vấn đề phải xem xét bản chất, thực tế lý luận văn học của Nhà nước đó để khắc phục, làm cho tốt hơn lên, phù hợp hơn, học thuật hơn. Không phải là làm cho nó mất thiêng, kết tử nó.

Nếu có những nhà lãnh đạo Nhà nước am hiểu văn hóa, văn học – nghệ thuật, đề xuất lý luận và điều hành hoạt động thực tiễn thì đó là điều đáng mừng, điều may mắn. Nếu lý luận của họ có chỗ không còn phù hợp với thực tiễn thì cần phân tích để khắc phục. Không thể quy vào hình thái lý luận Nhà nước để đoạn tuyệt.

Các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng… cũng là những nhà văn hóa kiệt xuất. Hồ Chí Minh được UNESCO vinh danh là Danh nhân Văn hóa. Các yếu nhân của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và của nền học thuật Việt Nam mới như Đặng Thai Mai, Vũ Đình Hòe, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Trần Văn Giàu, Ca Văn Thỉnh… Di sản của họ là vốn quý, là nền tảng lý luận của nền văn hóa Việt Nam mới, sao có thể làm cho mất thiêng được, trừ phi người ta cố tình nhắm mắt, quay lưng ngoảnh mặt.

Đọc các cuốn sách trên của TG.TĐS, nhất là Lời bạt cho Phê bình Ký hiệu học của Lã Nguyên mà chúng tôi sẽ đề cập tới trong bài viết sau, chúng tôi thấy TG.TĐS tỏ ra là người đứng ngoài, đứng trên đời sống văn học trước Đổi Mới (1986). Từng trang từng dòng toát lên giọng điệu của những Việt kiều chống Cộng quá khích… Một giọng điệu hoàn toàn xa lạ với những danh hiệu mà Hình thái lý luận Nhà nước đã phong tặng cho ông. Xin được dẫn lại để bạn đọc cùng thưởng thức:

GS.TS Trần Đình Sử, sinh năm 1940.

Quê quán: Phú Lễ, Quảng Phú, Quảng Điền, Thừa Thiên – Huế.

Giảng viên ĐHSP Hà Nội (1961-2007).

Giảng viên ĐHSP Vinh (1966-1975).

Danh hiệu Nhà giáo Nhân dân (2010).

Giải thưởng Nhà nước (2000).

Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1997).

Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội (2015).

Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh (2017).

Nội dung trên in kèm chân dung TG.TĐS ở trang gấp bìa 1 cuốn Trên đường biên của lý luận văn học, ngoài những tác phẩm tiêu biểu, ông còn ghi rõ: “Tổng chủ biên, biên soạn sách giáo khoa Ngữ văn phổ thông, chủ biên, viết chung và dịch thuật nhiều công trình khoa học khác”.

Chỉ có một Điệp viên lý luận văn học cỡ Phạm Xuân Ẩn mới có thể tồn tại song trùng như thế được.

Có thể TG.TĐS là một “con voi” đã thồ được khối lượng lớn lý thuyết của Bakhtin, Lốtman, của nhiều học giả Trung Quốc về Việt Nam. Chúng tôi ghi nhận điều đó. Nhưng cái quan trọng hơn là vận dụng lý thuyết đó vào đời sống văn học Việt Nam. Điều đó, trong bài viết sau chúng tôi sẽ nói đến vận dụng Thi pháp học, Ký hiệu học để đánh giá thơ Tố Hữu hay tiểu thuyết Miền hoang.

Trong bài Tính nhân văn trong phê bình văn học hôm nay (Trên đường biên của lý luận văn học), TG.TĐS nói rất hay mọi nhẽ, nhất là tinh thần đối thoại dựa trên nền tảng tôn trọng sự tồn tại của mỗi người, xem con người là chủ thể, không phải đồ vật… (Sđd. Trg.322). Quả thật, chúng tôi phải cố gắng lắm để không bị chói lòa, quáng mắt trước con voi lý luận Trần Đình Sử. Ông nói: Là chủ thể, con người không chấp nhận người khác kết luận về mình một cách tùy tiện… (Sđd. Trg. 322). Chúng tôi sẽ cố gắng xem xét những kết luận của TG.TĐS và Lã Nguyên về Tố Hữu là có cơ sở như thế nào. Xin trình bạn đọc ở phần tiếp theo.

Đồng Nai Hạ, 20-12-2019

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 579

Ý Kiến bạn đọc