Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Từ thi pháp đến ký hiệu

 

Nhà văn Nguyễn Tuân từng nói mỗi nhà văn có cách nhìn riêng, có cái tạng riêng – Ông dẫn một thuật ngữ tiếng Pháp, chúng tôi không biết tiếng Pháp nên không dám “nói chữ”. Mấy anh nghiên cứu giảng dạy văn học không chịu (Xin lỗi – nguyên văn ông dùng từ rất nôm na), tìm hiểu cái đó, lại cứ chủ nghĩa này, thi pháp nọ. (Dẫn theo Nguyễn Đăng Mạnh: Nhà văn – tư tưởng và phong cách).

Một học giả nước ngoài, Giáo sư Tô-đô-rốp, cũng nói, đại ý, nghiên cứu văn học là đi tìm hiểu kinh nghiệm sống của con người. Nhưng nhiều người lại đi truyền giảng tư tưởng của mình hơn là tác phẩm của nhà văn (Tô-đô-rốp: Văn chương lâm nguy). Đọc Dẫn luận Thi pháp học văn học của Trần Đình Sử (NXB Đại học Sư phạm. H.2017) và Phê bình Ký hiệu học – Đọc văn như là quá trình tái thiết ngôn ngữ – của Lã Nguyên (NXB Phụ nữ. H.2018), thấy rất rõ tình trạng đó. Dẫu rất vui mừng thấy chị em phụ nữ của chúng ta ngày nay đã quan tâm đến những vấn đề rất phức tạp của khoa học văn học bên cạnh khoa học gia đình và nội trợ, cũng phải nhắc lại phát biểu của Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh rằng: “Thi pháp học ngày nay đang là một “cơn sốt” trong nghiên cứu, phê bình văn học ở nước ta” (Lời nói đầu. Giáo trình Thi pháp học của Trần Đình Sử. TP.HCM – 1993). Hơn một phần tư thế kỷ qua, cơn sốt Thi pháp học vẫn đang tăng tiến. Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh – thực ra do Đoàn trưởng Văn đoàn độc lập cầm trịch – trao cho Trần Đình Sử năm 2017 và Lã Nguyên sau đó, chắc chắn tăng thêm lòng tự tin cho hai tác giả này. Và trước đó nữa, cũng Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh trao giải Sách hay cho Miền hoang, cuốn tiểu thuyết mà Lã Nguyên và Trần Đình Sử đều đánh giá rất cao, coi là văn liệu quý giá quan trọng cho Phê bình Ký hiệu học và Thi pháp học. Chúng tôi rất nghi ngờ Giải thưởng này. Song vì Chủ tịch Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh đã tuyên bố chấm dứt hoạt động nên chúng tôi cũng không bình luận gì thêm. Dưới đây chúng tôi chỉ xem xét Cơn sốt Thi pháp học là cơn sốt vỡ da – dậy thì hay là cơn ngoại cảm đã nhập lý.

Một nhà Thi pháp học trẻ, TS. Phạm Ngọc Hiền, Đại học Sài Gòn, cho biết: “Thi pháp học là bộ môn khoa học chuyên nghiên cứu hình thức nghệ thuật tác phẩm văn chương. Bộ môn này xuất hiện từ thời Cổ đại… Đầu thế kỷ XX, Thi pháp học hiện đại hình thành và chia làm nhiều khuynh hướng. Thi pháp học thể loại; Ngôn ngữ – Hình thức; Cấu trúc – Ký hiệu học; Phê bình mới; Thi pháp học Văn hóa – Lịch sử. Thi pháp học ở Việt Nam cũng có đầy đủ các khuynh hướng trên…” (Thi pháp học. NXB Tổng hợp TP.HCM – 2019). Nếu có một phong trào nghiên cứu sâu rộng, nghiêm túc, theo tinh thần khoa học thì phải hoan nghênh, khích lệ. Để thấy được phong trào, lại phải xem xét từng trường hợp cụ thể. Theo chúng tôi, Thi pháp học của Trần Đình Sử và Phê bình Ký hiệu học của Lã Nguyên có rất nhiều bất cập cần phải trao đổi, như tinh thần của chính Trần Đình Sử, là phải đối thoại.

Trước khi đi vào tác giả cụ thể, xin nói những điểm chung giữa hai tác giả. GS.TS Trần Đình Sử và PGS.TS Lã Nguyên tức Lã Khắc Hòa đều là đồng nghiệp đồng sự với nhau ở Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội. Quan hệ trực tiếp về chuyên môn học thuật lại kề vai sát cánh trong không gian và thời gian hành sự chuyên môn khiến họ có quan hệ đặc biệt tốt lành, luôn dành cho nhau những lời có cánh. Đó là điều bình thường, đáng mừng trong quan hệ nhân sinh. Nhưng trong học thuật lại phải tỉnh táo, qua đoạn trích dưới đây:

“Sự giải mã của Lã Nguyên đối với văn học giai đoạn trước không phải là giải mã của kẻ đương thời, mà là kẻ giải mã của người thời đại sau, khi dòng thác ký hiệu của một thời đã đi qua, nó có ý vị như một sự phản tỉnh, một tái nhận thức, một lời chào biệt. Ông không đứng ở vị trí của người đam mê đương thời, không ở vị trí của “fan” hâm mộ Nguyễn Tuân. Sự giải mã đối với Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Xuân Khánh… lại có ý vị khác. Nó là giải mã đồng thời là chào mừng, mời gọi một ngôn ngữ mới, thúc giục chúng nảy sinh. Chính ở đây thể hiện bản chất của phê bình” (Phê bình Ký hiệu học. Lời bạt… Sđd. Trg.403).

Câu cuối của đoạn trích trên bộc lộ tính nôn nóng hiếu thắng của Trần Đình Sử. Bản chất của phê bình chỉ là chào biệt văn học giai đoạn trước và chào mừng, mời gọi, thúc giục một ngôn ngữ mới như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài thôi ư? Sao lại có thứ phê bình biệt người cửa trước rước người cửa sau thế nhỉ. Một quan niệm, một thái độ học thuật như thế đủ để bạn đọc không cần mất thời gian về Thi pháp Trần Đình Sử và Ký hiệu Lã Nguyên làm gì. Nhưng như thế sợ hai Thầy ấm ức. Nên chi cũng cần sự tại văn bản.

Nếu phải chào biệt thì vì sao mà phải chào biệt. Nếu được đón mời thì vì sao mà được đón mời. Rất hay, chính Trần Đình Sử đã tóm tắt bản chất của Ký hiệu học mà hiểu rộng ra cũng là của Thi pháp học trong đoạn văn này:

Phê bình Ký hiệu học chính là phát hiện, kiến tạo ký hiệu, giải mã ký hiệu, phiên dịch ký hiệu, là giải thích ý nghĩa của các ký hiệu. Ký hiệu học cũng là nghĩa học. Từ nghĩa của người phát, sang nghĩa của văn bản đến nghĩa của người giải thích đều đã có sự thay thế, sự đổi thay. Văn bản bao giờ cũng đa mã, đa nghĩa, mã văn bản và mã giải thích không đồng nhất, đồng thời trong quá trình tồn tại của văn bản có những ý nghĩa chết đi và ý nghĩa mới sinh thành theo ngữ cảnh mới. Một sự giải mã mới sẽ khiến cho cách giải mã cũ trở nên vô hiệu và khi chưa có cách giải mã khác thì nó vẫn là cách đọc hợp lý. Đây chính là thực chất của lịch sử phê bình và tiếp nhận và cũng là ý nghĩa của Phê bình Ký hiệu học hôm nay” (Trần Đình Sử. Lời bạt… cho Phê bình Ký hiệu học của Lã Nguyên. NXB Phụ nữ. H.2018. Trg.403-404).

Ta có thể lấy Trần Đình Sử rán Trần Đình Sử như sau: “Thi pháp học không phải là hướng nghiên cứu văn học duy nhất trong thời gian qua…” (Thi pháp học văn học. NXB ĐHSP. H.2017. Trg.448).

Nhưng như thế, sự ấm ức sẽ lại tăng hơn. Nên chi cũng cần phân tích cho hai năm rõ mười. Nếu Thi pháp học không phải là hướng nghiên cứu duy nhất thì không nên rậm lời. Vì các hướng nghiên cứu khác cũng có cái lý của nó. Và dưới đây mới là vấn đề chính của Phê bình Ký hiệu học. Quan niệm về phê bình văn học của chúng tôi rất khác, thậm chí đối lập với Trần Đình Sử. Phê bình văn học phải chiếm lĩnh được giá trị của tác phẩm, tức là đánh giá được tác phẩm. Giá trị của tác phẩm trước hết phải được xác định bởi tác phẩm – tác giả và thời đại (ngữ cảnh, như cách nói của Trần Đình Sử) của nó. Nếu có tác phẩm – tác giả còn có giá trị cho nhiều thời đại sau thì không phải ngữ cảnh mới (hoàn cảnh xã hội mới) đem lại giá trị cho nó mà chính là con người có những khát vọng giống nhau, tương đồng nhau, vượt không gian và thời gian. Đó là khát vọng Chân – Thiện – Mỹ. Người Việt Nam hôm nay tiếp nhận được Đỗ Phủ, Lý Bạch, Puskin hay Gô-gôn, Sếchxpia hay Xéc-văng-téc… chính là khát vọng chung trên cái nền của lý tưởng thẩm mỹ. Nếu mỗi ngữ cảnh lại nhìn thấy một giá trị khác với các ngữ cảnh trước đó thì tác phẩm – tác giả sẽ có vô vàn giá trị tùy theo cách đọc của nhà phê bình. Điều đó chỉ có đối với thứ học thuật cơ hội, theo gió trở cờ. Vì tác phẩm được cố định bằng văn bản dù theo những văn tự khác nhau. Dù gọi là Ký hiệu hay siêu Ký hiệu hay gì gì đi nữa, thì nội dung của tác phẩm, tư tưởng của tác giả vẫn có tính ổn định nhất định. Tác giả dù là siêu thiên tài thì vẫn chỉ có một hay hơn một tư tưởng mà thôi. Họ đâu phải là thánh. Phê bình hay lịch sử của phê bình chỉ có thể làm phong phú hơn sâu sắc hơn giá trị của tác phẩm – tác giả mà không thể gán cho tác phẩm – tác giả theo ngữ cảnh mới được. Chúng tôi hiểu như thế.

Về Ký hiệu, cũng đừng làm xiếc, tung hứng cho thỏa sở thích. Con người đã biết quy ước với nhau những Ký hiệu cần cho giao tiếp trong cuộc sống từ rất lâu đời. Nhìn vào lá cờ hiệu, nghe tiếng trống tiếng kèn theo điệu nào người ta nhận biết được đó là đám tang hay đám hội. Người Việt xưa chưa có Ký hiệu – biển hiệu giao thông như thời hiện đại. Nhưng khách bộ hành thấy trước mặt có một chà rào (ngọn tre) hay cành cây hay mấy hòn đá chắn ngang thì hiểu có trở ngại, cần phải thận trọng… Đại để như thế. Tiếng nói lời nói là Ký hiệu của tư tưởng. Chữ viết là Ký hiệu của lời nói. Văn bản là Ký hiệu của tư tưởng tác giả, tức là của nội dung tác phẩm. Có sự khác nhau là Ký hiệu giao thông hay y tế thì đơn nghĩa, chỉ có một nghĩa. Thấy biển hiệu có chữ thập đỏ thì biết đó có cơ sở y tế. Thấy biển hiệu đầu lâu trên hai khúc xương bắt chéo thì chớ có xông vào. Còn Ký hiệu ngôn ngữ – văn tự thì rất phong phú phức tạp, đa nghĩa lắm. Tại sao như thế thì phải cậy nhờ các nhà Ngôn ngữ học, Ký hiệu học. Ngọt như mật mà cũng đắng như mật. Nước lên to lắm (lũ lụt) khác với anh ta (hay ả ta) xuống nước rồi. Nước ăn. Nước cờ. Đường đi nước bước… Lá buồm dương to như mảnh hồn làng (Tế Hanh), nhưng nhà báo Đặng Minh Phương hay trêu tác giả bằng cách đọc lái lại – họ vốn là bạn thân với nhau. Cũng như câu của Tú Mỡ: Hồ tù ngán nỗi con rồng lộn / Ngọc nát thương tình kẻ cố đeo… Ký hiệu văn bản nó phong phú đa dạng như thế nhưng vẫn có một nghĩa chủ đạo, xác định. Nghĩa này không chỉ nằm trong văn bản mà còn phải tìm ở những quan hệ ngoài văn bản. Trước hết phải tìm ở tác giả. Ở tư tưởng và thái độ của tác giả. Dù ngữ cảnh có thay đổi đến đâu thì ý nghĩa của Ký hiệu vẫn được xác định bởi tư tưởng của tác giả, của chủ thể sáng tạo, của thời đại của tác giả – tác phẩm. Ký hiệu học cực đoan ở phương Tây cho rằng tác giả đã chết, Trần Đình Sử đã dẫn ra như thế. Chỉ còn có văn bản – cách đọc; kiến tạo ký hiệu – giải mã… mã văn bản (của tác giả) và mã giải thích (của nhà phê bình) không đồng nhất, trong quá trình tồn tại của văn bản có những ý nghĩa chết đi và ý nghĩa mới sinh thành theo ngữ cảnh mới. Như thế thì tác giả đã chết là đúng rồi. Từ nay giá trị tác phẩm tùy thuộc vào mã giả thích và ngữ cảnh mới. Nhà phê bình Ký hiệu tạo sinh (kiến tạo) ra giá trị văn học, không phải tác giả – tác phẩm (văn bản). Hay đấy nhưng mà nghịch lý lắm. Người thưởng thức, tiếp nhận mong tiếp nhận giá trị văn học của tác phẩm đó – tác giả đó ở ngữ cảnh đó. Những giá trị nào còn phù hợp với thời đại mới – ngữ cảnh mới, những giá trị nào không còn phù hợp… Nghĩa là giá trị của tác phẩm – tác giả chứ không phải giá trị do nhà phê bình gán cho ở những ngữ cảnh mới. Quan điểm của Trần Đình Sử là biến phê bình văn học thành trò chơi chữ nghĩa, ký hiệu. Một trò chơi có dụng ý, mượn tính đa thanh đa nghĩa đa mã của văn bản để lồng vào ý đồ của mình. Là chào biệt văn học 1945-1975, xếp Tố Hữu vào kho lưu trữ rất cẩn thận. Và đón mừng, mời gọi, thúc giục… những Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… Phê bình Ký hiệu học của Lã Nguyên tiếp tục ý đồ cơ hội của Trần Đình Sử. Chúng tôi sẽ diễn giải điều đó ở các bài tiếp theo.

Đồng Nai Hạ, 18-12- 2019

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 578

Ý Kiến bạn đọc