Người tốt - Việc tốt

Từ kẻ “xướng ca vô loài” đến người “kỹ sư tâm hồn”

(Trích)

Hạnh phúc lớn lao nhất của đời tôi, cái áng hương trong tâm trí tôi mãi mãi không bao giờ phai lạt là tôi đã được gặp Bác Hồ! Tên Bác đã rung động hàng triệu triệu con tim. Ngày tạm biệt miền Nam, lên đường tập kết, bà con, cô bác giao cho tôi một nhiệm vụ, đơn giản mà rất thiêng liêng: “Có gặp Bác Hồ thì thưa giùm với Bác rằng bà con trong này ngày đêm trông Bác về thăm!”. Tuy gật đầu lia lịa sẵn sàng nhận lời, nhưng tôi vẫn thầm nhủ rằng không dễ gì có được vinh dự ấy.

Vậy mà tôi lại được gặp Bác! Năm 1954, đoàn Tuồng khu Năm được vào Phủ Chủ tịch diễn tuồng Chị Ngộ. Anh chị em trong đoàn ai cũng náo nức bồn chồn, nguyện đem hết sức mình diễn cho Trung ương, cho Bác xem. Đứng trên sân khấu, tôi lách nhẹ tấm màn nhung, nhìn ra qua kẽ hở: Bác Hồ! Đó, Bác ngồi đó! Bận quần áo nâu giản dị, ung dung thanh thản, hiền cách chi là hiền! Tôi tưởng như thuở nào mình đương đóng vai nường Xuân Hương mà gặp được Tiên ông ban phép thần để có sức mạnh xua tan quân giặc. Rồi chẳng hiểu sao, tôi thấy rào rào trong tim mạch và nước mắt trào ra lúc nào tôi đâu có biết!

Khi diễn lớp chị Ngộ bị giặc bắt buộc phải ôm đầu anh Tài quăng xuống cống, tôi nhìn thấy Bác chống tay lên cằm nghiêng đầu cúi xuống. Tôi lo lo. Đến khi buông màn kết thúc, Bác nắm tay chúng tôi động viên cổ vũ. Đồng chí Trường Chinh nói cho biết là xem lớp đó, Bác nói với các đồng chí ngồi bên rằng: “Thấy giặc quăng đầu đồng chí mình như vậy, Bác đau nhói trong tim, chịu không nổi!”. Lời Bác nói đã làm chúng tôi giật mình nhìn kỹ lại, khiến ai cũng ghê sợ lớp tuồng đó. Bác đã thức dậy trong chúng tôi, đã dạy chúng tôi một cảm xúc thẩm mỹ mới. Từ ấy không ai có thể diễn nổi lớp đó nữa, và cũng từ ấy lớp đó được cắt bỏ.

So-486-Bac-Ho-xem-bieu-dien-van-nghe---Anh-1
Bác Hồ xem biểu diễn văn nghệ – Ảnh tư liệu

Qua năm 1959, chúng tôi lại được Bác gọi lên lần nữa. Lần này ông Táo và tôi diễn lớp Trại Ba níu chồng là Địch Thanh. Theo lời đồng chí Lê Văn Hiến kể lại, thì Bác thích lớp tuồng này lắm.

Diễn xong, tôi được nắm tay Bác và được nghe lời Bác dạy. Tôi quên sao được cái nhìn trìu mến như cha nhìn con, tiếng nói đượm hơi ấm tình thương của Bác: “Hay lắm! Nghệ thuật của cha ông để lại hay lắm. Phải giữ cho được, nhưng chớ gieo vừng ra ngô!”.

Có lần Bác đến khu Văn công thăm chúng tôi bất ngờ đến mức chẳng ai kịp mở cửa đón Bác vào nhà. Bác phải ngồi ngay ở bậc thềm, chờ chúng tôi y như cha mẹ đến nhà chờ lũ con cháu. Chúng tôi đổ ra quây quần bên Bác, một chú lùn của đoàn xiếc cũng lỏm thỏm chạy đến thật nhanh để được kề sát bên Bác. Chẳng biết chú thích thú mê mẩn thế nào mà chú sờ hết tay chân đến đầu Bác, rồi còn kéo những sợi râu của Bác như đùa nghịch. Ấy thế mà Bác vẫn ấm giọng từ tốn nói đùa:

- Đừng kéo đứt râu Bác! Một sợi râu một xâu bánh!

Chúng tôi cười ồ lên một lượt, vui cái hồn nhiên, nhân hậu từ con người Bác tỏa ra.

Cũng có lần Bác đến mang theo cả kẹo, già trẻ xúm đông quá, ai cũng chìa tay ra chờ Bác chia kẹo cho mình. Bác nói… Già thì một, trẻ ăn hai, bé ăn ba, bốn. Cứ vậy, Bác phân phát hết cả túi kẹo. Hôm ấy, tôi được hai cái, và có cháu được đến cả nắm.

Lại có năm, mồng 2 Tết, Bác đến mà cả khu Văn công vắng ngắt. Thơ thẩn dạo quanh chẳng gặp ai, nghe tiếng nhị réo rắt từ trong một căn nhà lá dội ra, Bác lần bước tới. Vào nhà, Bác đã đứng sát bên cạnh anh Phát đang kéo nhị mà anh chẳng hay biết gì. Bác lên tiếng:

- Hay quá! Chà! Chà!

Anh Phát vẫn làm thinh, Bác liền tiếp:

- Nghệ sĩ say sưa quá hè!

Tưởng đâu bè bạn đến đùa nghịch, anh Phát xẵng giọng:

- Đi đi, chỉ được cái tổ phá quấy người ta!

Bác lại vỗ vai anh như muốn báo cho anh biết là Bác đến thăm. Không ngờ anh vẫn mải mê vào đàn, gạt bàn tay rồi kêu:

- Khổ quá, quấy mãi thế!

Bác liền quay người đứng trước mặt anh và cúi xuống hỏi:

- Chỉ có mình chú ở nhà thôi?

Anh liền ngửng nhìn lên, thình lình quăng cây nhị đi, rồi reo tướng như la làng:

- Bác! Trời ơi! Bác!

Nghe tiếng anh la, tôi mới lật đật chạy sang ôm chầm lấy Bác, nước mắt cứ trào ra. Thế đấy, Bác đã đến với chúng tôi và chúng tôi đã đến với Bác như thế đấy, không lần nào gặp Bác mà tôi nín được nước mắt.

Tôi khóc vì tình thương của Bác quá lớn, đó cũng là những giọt nước mắt tiễn đưa cái kiếp “xướng ca vô loài” thời nô lệ, để đón nhận cái vinh quang được làm người nghệ sĩ cách mạng, người kỹ sư tâm hồn mà Đảng đã giao cho.

Hà Nội, 31-12-1975

Nghệ sĩ tuồng Ngô Thị Liễu
Lê Ngọc Cầu (ghi)
(Từ sách Bác Hồ với văn nghệ sĩ. Nhiều tác giả. NXB Văn hóa – Văn nghệ – 2013)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 486

Ý Kiến bạn đọc