Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Từ Giảng văn đến Đọc hiểu văn bản
phần I

Trong sự sa sút chung của chất lượng giáo dục, chất lượng môn học Ngữ văn cũng không tránh khỏi sa sút. Riêng với trình độ tiếp nhận các bài văn học – nghệ thuật, cũng có nhiều điều đáng phàn nàn. Thường người ta qui nguyên nhân ở trình độ giáo viên. Nhưng không thể không nói đến nguyên nhân ở sự chỉ đạo, cả ở tầm quốc gia. Những biểu hiện lúng túng khi cứ thay đi đổi lại các điều rất cơ bản về lý luận, về chương trình sách giáo khoa (SGK) là điều không khó thấy. Và mỗi lần lại nghe các chuyên gia cốt cán cấp Bộ, kể cả các vị có vai trò “học phiệt” bài bác cái cũ để khẳng định sự sáng tạo ở cái mới, người giáo viên không có điều kiện tìm hiểu sâu thường rất hoang mang. Rất cần có sự phản biện xã hội từ nhiều phía. Bài này xin góp bàn về môn học trước gọi là Giảng văn, hơn chục năm nay đổi tên là Đọc Hiểu Văn Bản.

CÁI TỘI CỦA GIẢNG VĂN?

Để làm cuộc “đổi mới” dạy môn Ngữ văn, trong đó có việc dạy đọc văn, vị chủ soái Trần Đình Sử phải lên án quan niệm và dùng tên môn là Giảng văn cũng như thực hiện theo cách hiểu trước kia. Xin nghe vài luận điểm ở bản án:

Giảng văn chủ yếu là công việc của thầy.(…) Giá trị của các bài giảng văn, cũng như vị trí, vai trò của thầy trên lớp và lời giảng của thầy là điều không phải bàn cãi, nhưng rõ ràng là vị trí của trò trong môn học văn hoàn toàn là một vị trí bị động, trong lúc thực chất giờ học phải là giờ hoạt động của trò dưới sự dẫn dắt của thầy trên cơ sở SGK và đồ dùng dạy học. Sai sót của quan niệm về phương pháp dạy học văn trên xét theo tinh thần giáo dục hiện đại rất dễ nhận thấy. Bởi vì bản thân văn học – nghệ thuật và nói chung các văn bản là sáng tạo ra cho từng người đọc (1), và mỗi người đọc phải tự mình đọc lấy thì hình tượng, cảm xúc và nội dung mới từ văn bản dấy lên trong lòng mình.(…)

Thầy giáo làm người thưởng thức văn chương hộ rồi giảng lại cái hay cho học sinh chép (?!). Đến lượt thi cử, học sinh chỉ cần thuộc lời thầy là làm được bài, tự mình không cần đọc vẫn thi được. Cách dạy đó đi ngược lại bản chất của văn chương, đi ngược lại nguyên tắc dạy học, là phương pháp cách ly tốt nhất học sinh – người đọc khỏi tác phẩm, làm cho học sinh không có dịp trực tiếp đối diện với văn bản, do đó không có thói quen tự mình khám phá văn bản và tất nhiên đánh mất luôn năng lực tự học của họ (2).

Thực ra đó chỉ là cách nhìn một phía, một lối “nói lấy được”! Qui trình dạy một bài Giảng văn vẫn là thầy yêu cầu trò “chuẩn bị bài” – tự đọc bài văn và trả lời các câu hỏi trước khi đến lớp nghe giảng. Thầy dạy tử tế thường kiểm tra việc chuẩn bị của trò, và thưởng phạt. Khi dạy trên lớp thầy vẫn yêu cầu học sinh theo dõi, đọc to hay đọc thầm để tham gia phát biểu. Còn như trong thực tế trò không tự tiếp cận bài văn, “không có dịp trực tiếp đối diện với văn bản, do đó không có thói quen tự mình khám phá văn bản” là lỗi ở trò. Thầy nào lại cấm đoán, lại thực hiện “phương pháp cách ly tốt nhất học sinh – người đọc khỏi tác phẩm”?!

Nếu hiểu rõ về lý luận và thực tế, ta phải nhận định khác!

Trước hết nên nghe lại lời bậc thầy Đặng Thai Mai trong quyển “Giảng văn Chinh Phụ ngâm” ghi lại một tập bài giảng cho cấp học chuyên khoa từ năm 1949. Ông nêu rõ “giảng văn trước hết, là chỉ ra sự thống nhất giữa hình thức và nội dung, giữa kỹ thuật và tư tưởng một tác phẩm văn chương”… “Về phương diện chủ quan, một kỹ thuật giảng văn sâu sắc và chính xác cũng là một động cơ để xây dựng và bồi dưỡng trong tâm hồn người nghe, người đọc những hứng thú văn chương dồi dào và đúng đắn”. Ông còn nói nhiều đến ý nghĩa việc giảng cho học sinh hiểu bằng những lời lẽ “ý nhị” như: “Ai bảo rằng con người hồn nhiên ngồi ngâm nga một vần thơ mà nó không hiểu đến nơi đến chốn, cũng là con người thưởng thức được thâm trầm, bạo dạn hơn một con người vừa “cảm” thấy là hay, lại vừa “hiểu” là hay?”, và ông nhắc lại: “Cảm thấy hay chưa đủ. Có hiểu là hay, sự thưởng thức mới có nghĩa lý và có tác dụng”.

Chúng tôi muốn bổ sung thêm bằng cách hiểu của mình về việc dạy Giảng văn trước kia. Cũng như dạy Ngữ văn nói chung, Giảng văn là dạy một môn học thực hành. Kết quả của việc học là có kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, và thể hiện năng lực trong thực hành. Kết quả đó chỉ có được khi được dạy theo cách dạy thực hành.

Nguyên lý căn bản của việc dạy thực hành đã được rút ra từ việc dạy nghề lao động chân tay mà nhiều sách dạy nghề đã nêu ra. Đó là việc Học Theo Mẫu. Người thầy đưa ra một cái Mẫu, phân tích giảng giải về cách làm ra cái thành phẩm đó (các nhóm hoạt động – các thao tác – các lưu ý về kỹ thuật). Có vẻ trong “nghề” hoạt động trí óc người ta ngại nói đến “cách học theo mẫu” đó, thậm chí còn dị ứng, phản đối vì sợ sự sao chép, thiếu sáng tạo. Thực ra “làm theo mẫu” là một cách học tập của nhiều nhà văn, nhà văn hóa… và trong nhiều hoạt động giáo dục hữu thức (Tất nhiên họ không rập khuôn, “lắp ráp” theo mẫu, mà thường họ đã cải biên “mẫu” và “sáng tạo” thêm từ kinh nghiệm bản thân. Dù không đồng ý với quan niệm không đúng về “bản năng bắt chước” của nhiều người, John Dewey vẫn nói đến việc bắt chước cách làm chứ không bắt chước mục đích và bản thân việc làm. Sự bắt chước theo ông, dù ở một hành động đơn giản cũng vì lợi ích bản thân, xuất phát từ sự chủ động của cá nhân.

Ở trên lớp, trước đây các thầy dạy Giảng văn thực chất cũng là dạy thực hành. Khi Giảng văn các thầy thực hiện công đoạn Làm Mẫu về cách đọc – học trò xem thầy làm mẫu (thị phạm) rồi thực hành, đọc theo cái mẫu của thầy. Tất nhiên ở lớp trò có thực hành cũng chỉ là phát biểu vài câu về đại ý – bố cục – tham gia phân tích vài chỗ theo mẫu thầy đang làm… hoặc nghe gợi ý để về nhà tìm hiểu, trả lời theo cách đọc của mình. Nhưng phải thấy cái mẫu ấy dần nhập tâm học trò để học trò biết cách đọc có thể rất hồn nhiên nhưng về cơ bản đúng với qui trình thầy đã làm mẫu.

Các thầy theo phương pháp sư phạm phương Tây du nhập vào ta từ đầu thế kỷ trước đã dạy như thế và lớp lớp học trò của các vị đã có những thành đạt trong lĩnh vực đọc sách, trở thành nhà văn, nhà phê bình, nghiên cứu là thực tế nên trân trọng (3). Tất nhiên, ai cũng biết muốn “làm mẫu” được, thầy cũng phải biết đọc ở trình độ có thể làm thầy và cũng quan trọng là thầy phải có trình độ thẩm định văn chương tinh tế đến mức nào đó để không “làm mẫu”… sai!

Còn chuyện các người kêu dạy Giảng văn thì “vị trí của trò trong môn học văn hoàn toàn là một vị trí bị động” thì lại cần phải hiểu “Thế nào là bị động và chủ động trong hoạt động học tập”? Trong Giảng văn, thầy cũng vẫn thực hiện việc huy động sự “tham gia” của trò bằng những câu trả lời nhờ đã chuẩn bị tìm hiểu ở nhà. Nhưng hoạt động nghe giảng và tiếp nhận văn chương là một hoạt động tâm lý, cái chủ động – bị động của nó phải hiểu khác… Trước đây nhiều người cứ tưởng học sinh ào ào giơ tay phát biểu xây dựng bài trong giờ Giảng văn là cả lớp tích cực hoạt động (và không ít giáo viên đã chuẩn bị, dàn dựng và “diễn” theo cách đó khi tham gia thi thố!). Thực ra khi thầy giảng, trò chăm chú nghe với sự hoạt động trí não, sẽ có thể có sự “bừng sáng” nào đó, và có cảm xúc theo sự truyền cảm của thầy thì đó là lúc trò đang thật sự tích cực hoạt động!

ĐỌC HIỂU VĂN BẢN MỘT SÁNG TẠO ĐỔI MỚI?

Sau khi triệt để bài bác cách làm trong việc dạy Giảng văn trước đây, ông Trần Đình Sử đã nêu ra nội dung của việc đổi mới tên gọi bộ môn là “Đọc Hiểu Văn Bản” theo quan niệm của ông.

Nhìn vào môn văn nhiều nước trên thế giới mới bỗng thấy giật mình. Người ta hiểu môn văn trong nhà trường là môn đọc văn. Dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc, kỹ năng đọc để học sinh có thể đọc – hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại. Từ đọc hiểu văn mà trực tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính. Đó là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho học sinh năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mỹ. Do đó hiểu bản chất môn văn là môn dạy đọc văn vừa thể hiện cách hiểu thực sự bản chất của văn học, vừa hiểu đúng thực chất việc dạy văn là dạy năng lực, phát triển năng lực là chủ thể của học sinh (2b).

Ông Phan Trọng Luận, Tổng chủ biên một bộ sách giáo khoa cấp THPT, trong “Văn học nhà trường – nhận diện, tiếp cận, đổi mới” cũng khẳng định mạnh mẽ:

“Phương pháp dạy học mới đổi khác về mục đích, về con người đạt đến mục đích, do đó cũng đổi khác về cơ chế hoạt động dạy học cùng hàng loạt vấn đề về tiến trình tổ chức giờ dạy, phương pháp tiếp cận tác phẩm ở học sinh (Bản in năm 2011, tr.246).

Thiển nghĩ không hẳn là như vậy! Điều này, như đã nói, cũng là mục đích của dạy Giảng văn. Giảng văn không dạy học sinh đọc – phân tích để hiểu bài văn? Thực ra chỉ là khác nhau phần nào về cách thực hiện. Có thể cách dạy thiên về thuyết trình ở nhiều thầy cô trước đây là điều đáng phê phán, và trước đây người ta cũng đã phê phán. Có thể người ta không đặt ra yêu cầu quyết liệt việc cho học sinh được tự làm việc “đọc văn” tức là tìm hiểu và phân tích bài văn. Và trong thực hiện với nhiều sức ép từ các “chuẩn kiến thức” đến chỉ đạo đánh giá, người ta cứ giảng và đọc chép cho xong việc. Nhưng theo tôi, hơn chục năm đổi mới mà vẫn có tình trạng “đọc – chép” tràn lan thì cũng đâu phải nhờ “đổi tên môn học” mà tình hình đã được cải thiện. Mà phải nói thật, một vài chuyên gia cấp cao cỡ GS. TS vẫn cứ trình bày những hiểu biết rất lơ mơ về việc dạy đọc hiểu (4).
Ông Trần Đình Sử còn có những lời hùng hồn về ý nghĩa của việc dạy “Đọc Hiểu”:

Quan niệm đọc hiểu gắn với tư tưởng nhà trường phải bồi dưỡng năng lực ngữ văn cho học sinh, gắn với năng lực làm văn, thẩm văn cho người học.

Đề xuất vấn đề đọc hiểu văn bản như một khâu đột phá trong việc đổi mới học Ngữ văn và thi môn Ngữ văn là một yêu cầu bức thiết đối với việc đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến và góp phần khắc phục lối học cũ: thầy đọc trò chép.

Muốn cho quốc gia mạnh thì phải biến xã hội của quốc gia đó thành xã hội học, ngay từ trên ghế nhà trường, nhà trường phải đào tạo mỗi học sinh thành một (người?) đọc đích thực, đọc chủ động, sáng tạo chứ không phải đào tạo một xã hội những người đọc a dua, chuyên ăn theo nói leo một số người nào đó (2c).

Đó là điều đúng và càng quan trọng, khi ngày nay các phương tiện nghe nhìn đã cạnh tranh quyết liệt với thời gian đọc, thu hẹp thời gian đọc của mọi người. Nhưng rất tiếc điều đó là “lý tưởng”! Vì cũng có nhiều người được đào tạo tử tế ở Đông Tây, đọc được các văn bản nước trong nước ngoài với những lý thuyết tân kỳ nhưng không sàng lọc, cứ sùng ngoại, cứ tải về nhiều điều sống sit rồi khoe chữ và khoe sai thì cũng đâu phải là người ta không được dạy “Đọc – Hiểu”!

(Còn tiếp)

Lê Xuân Mậu
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 386

————————–

(1) Ai lại làm thế được, trừ khi viết thư riêng! Chuyện tiếp nhận mới có chuyện “cho từng người” và từng người phải tự làm thôi.
(2) Xem bài “Đọc hiểu văn bản – một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay”, ông Trần Đình Sử viết năm 2003, in ở báo Văn Nghệ và sửa lại năm 2013 đưa lên mạng.
(3) Xin giới thiệu một đoạn nhà giảng dạy Giảng văn và nghiên cứu văn học bậc thầy Đặng Thai Mai nói về kết quả việc học Giảng văn với cụ Milon ở trường sư phạm:
Mấy năm học với cụ Milon, tôi đã học tập được nhiều. Học cách đọc một văn bản văn học, cách nghiên cứu về cấu trúc và tinh thần một kiệt tác. Tôi đã hiểu được ý nghĩa chân thực của các bản tuyên ngôn văn học dưới ánh sáng những tác phẩm cụ thể. Nhưng, đối với tôi, điều quí hơn nữa là cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề. Giáo trình của cụ Milon là cả một phương pháp luận giảng văn và về nhiều vấn đề cụ chỉ làm mỗi một việc là đặt câu hỏi mà chưa trả lời để cho thính giả được tự tìm lấy một đáp án nếu họ vui lòng. Sau ngày ra trường, tôi đã để một thời gian đọc lại một vài giáo trình của cụ Milon. Đối với tôi, sự ôn lại cũng bổ ích khá nhiều cho tôi trên đường học tập và nghiên cứu sau này.
(HỒI KÝ ĐTM – Nxb Văn Nghệ TP.HCM năm 2001, tr.267)
(4) Xin xem quyển “Kỹ năng đọc hiểu Văn” của GS.TS Nguyễn Thanh Hùng và một số bài bồi dưỡng giáo viên khác của vị này. Xin đọc vài câu trong sách trên:
Đặt vấn đề đọc hiểu trong môi trường đọc (!) trong vùng trời (!) phong phú đa dạng của nó ta thấy hiện lên một hệ thống các nhân tố có liên quan mật thiết với nhau.(…). Trong hệ thống ấy có những nhân tố giấu mặt, đó là “cái để đọc” (!) mà ta gọi là văn bản (?) đọc. Văn bản sẽ qui định cách thức đọc, phép đọc (?), tiến trình đọc. Tùy theo đặc điểm phong cách văn bản, việc đọc sẽ mang đậm tính chất đặc thù của nó trong các kiểu đọc.
Vị này còn liệt kê đến hơn trăm kiểu đọc trong đó có kiểu đọc tếu, đọc điếu văn và… đọc chép!

Ý Kiến bạn đọc