Người tốt - Việc tốt

Tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ nhất là Người đã xuất phát từ cái chung, cái nhân loại, từ những chân lý phổ biến, những “lẽ phải không ai chối cãi được” để nhận thức và lý giải những vấn đề của thực tiễn. Ở Người không bao giờ tìm được biểu hiện nhỏ nào của xu hướng biệt phái, phiến diện, cực đoan. Để đàm phán, thuyết phục đối phương đi tới đồng thuận, Người thường lập luận trên cơ sở nguyên tắc về tính đồng nhất nguyên lý. Nhà thơ Liên Xô Ô-xíp Man-đen-sơ-tam, vào cuối năm 1923, sau khi gặp gỡ, trò chuyện với Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này), đã viết một bài đăng báo Ogoniok (Ngọn lửa nhỏ), có đoạn: “Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy được sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới” (1).

Về quyền dân tộc

“Tuyên ngôn Độc lập” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình trước nhân dân Việt Nam và bạn bè thế giới vào ngày 2-9-1945 với “những lẽ phải không ai chối cãi được” là “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” (2) đã đập tan luận điệu “trở lại bảo hộ” nước ta của thực dân Pháp. Qua đó, bản Tuyên ngôn cũng đã tranh thủ được sự ủng hộ của toàn dân và cộng đồng thế giới đối với nước Việt Nam mới. Giáo sư Nhật Bản Singo Sibata đã đánh giá: “Cống hiến nổi tiếng của Cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ đã phát triển quyền con người thành quyền dân tộc” (3). Thực tế chứng minh rằng sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, một phong trào giải phóng dân tộc đã bùng lên mạnh mẽ, đập tan hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân.

Nhan-dan-thu-do-Binh-Nhuong-don-mung-Ho-Chu-tich-sang-tham-huu-nghi-nuoc-Cong-hoa-dan-chu-nhan-dan-Triau-Tien
Nhân dân thủ đô Bình Nhưỡng đón mừng Hồ Chủ tịch sang thăm hữu nghị nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên (1957) – Ảnh tư liệu

Trong thư gửi những người bạn Pháp ở Đông Dương năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muốn nó độc lập. Các bạn yêu đồng bào của các bạn và muốn họ được tự do… Chúng tôi cũng phải được yêu nước của chúng tôi và muốn nó độc lập chứ! Chúng tôi cũng phải được phép yêu đồng bào chúng tôi và muốn họ được tự do chứ! Cái mà các bạn coi là lý tưởng, cũng phải là lý tưởng của chúng tôi” (4). Do đó, sau 9 năm kháng chiến gian khổ nhưng thắng lợi vẻ vang bằng chiến thắng Điện Biên Phủ “vang vọng năm châu, chấn động địa cầu” (1954), Việt Nam đã buộc kẻ thù phải ký vào Hiệp định Genève vào ngày 20-7-1954 để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Quyền độc lập, tự do ở nước nào cũng vậy, đều do xương máu của những nghĩa sĩ và đoàn kết của toàn quốc dân mà xây dựng nên” (5).

Về chủ nghĩa xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất dị ứng với mọi biểu hiện của lối suy nghĩ cạn hẹp, cực đoan, phiến diện, một chiều. Theo Người, lịch sử là một dòng chảy không ngừng, cách mạng là đột biến trong liên tục, cái mới sinh ra từ cái cũ, có khi lật ngược cái cũ, nhưng không vứt bỏ những yếu tố đúng đắn, hợp lý của cái cũ. Do đó, chủ nghĩa xã hội không phủ định sạch trơn mà là sự kế thừa có chọn lọc những giá trị văn hóa – văn minh của nhân loại.

Do đó, là người cộng sản nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh có thái độ tôn trọng, và luôn luôn có ý thức khai thác, vận dụng những yếu tố tích cực của các học thuyết chính trị và tôn giáo như Nho, Phật, Lão, Thiên chúa giáo… vào sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như xây dựng xã hội chủ nghĩa. Người cho rằng: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêxu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn “mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội”. Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy” (6).

Về quan hệ quốc tế

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nỗ lực xây đắp tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân thế giới với tinh thần muốn là bạn với mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai. Người từng viết: “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau: Ấy là dân nào cũng ưa sự lành và ghét sự dữ” (7).

Chu-tich-Ho-Chi-Minh-tham-Thu-do-Vacxava-(Ba-Lan)-thang-7-1957
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Thủ đô Vácxava (Ba Lan), tháng 7/1957 – Ảnh tư liệu

Kết quả là từ vỏn vẹn 11 nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam năm 1954, đến năm 2015 nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 nước, thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 thị trường tại tất cả châu lục; đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện với nhiều quốc gia chủ chốt trên thế giới. Năm 1990, nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, UNESCO đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất.

Bà Katherine Muller – Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam trong lễ kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 2010 đã nhận định: “Hồ Chí Minh là một vĩ nhân có tầm nhìn xa trông rộng, Người đã đoán trước được sự phát triển vĩ đại của dân tộc này và do đó, đã góp phần vào việc xây dựng một phong cách mới của ngoại giao Việt Nam, một phong cách đã giúp Việt Nam xác lập thành công vị trí của mình ở khu vực và trên thế giới, rất phù hợp với những khái niệm về hợp tác hòa bình và hiểu biết lẫn nhau trên thế giới được UNESCO quảng bá” (8).

Huế, ngày 13-4-2017

Nguyễn Văn Toàn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 446

_________________

(1) Hồ Chí Minh – Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2011, tr. 462-463.
(2) Hồ Chí Minh – Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 1.
(3) PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, “Ý nghĩa thời đại của bản Tuyên ngôn Độc lập”, Báo Tin Tức, cập nhật lúc 7 giờ 8 phút ngày 27-8-2014. Xem: http://baotintuc.vn/thoi-su/y-nghia-thoi-dai-cua-ban-tuyen-ngon-doc-lap-20140827213540144.htm.
(4) Hồ Chí Minh – Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 65.
(5) Phát biểu ngày 4-7-1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi viếng mộ các nghĩa sĩ tại đồi Mont Valérien (nơi phát xít Đức xử bắn những du kích kháng chiến Pháp trong Thế chiến thứ hai). Xem: http://govap.hochiminhcity.gov.vn/chuyende/lists/posts/post.aspx?Source=/chuyende&Category=&ItemID=386&Mode=1.
(6) Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Chủ biên), “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 43.
(7) Hồ Chí Minh – Toàn tập, tập 4. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 397.
(8) Phát biểu của bà Katherine Muller – Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội, tại lễ kỷ niệm lần thứ 120 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Hồ Chí Minh – Một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc”, Báo Sài Gòn Giải Phóng điện tử, cập nhật lúc 2 giờ 51 ngày 19-5-2010. Xem: http://www.sggp.org.vn/chinhtri/hochiminh/2010/5/226294/.