Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Tư duy đội ngũ trong văn học

 

Tư duy đội ngũ chỉ phù hợp với những đối tượng có tính thống nhất cao, gần như tuyệt đối, như đội quân của quân đội, dàn nhạc giao hưởng hay thính phòng, vũ điệu trong múa, lớp học trong trường học. Chẳng hạn các sáng thứ hai nhà trường THPT thường có lễ chào cờ. Sau đó thầy hiệu trưởng tổng kết chung trong tuần, nêu mặt tích cực, mặt tiêu cực, nêu các điển hình cá nhân hay lớp, đề ra nhiệm vụ cho tuần tới…

Vận dụng tư duy đội ngũ vào khảo sát đời sống văn học, nhất là ngành lý luận – phê bình là rất không phù hợp. Vì các đội viên trong đội ngũ này thường không thống nhất, thậm chí có sự đối lập. Đó là một thực tế. Cố GS. Nguyễn Đăng Mạnh đã chia ra phái Tiên phong đổi mới và phái Bảo thủ cơ hội. Trong các buổi sinh hoạt văn học, các phái đều co cụm lại như Bônsêvích và Mensôvích ở tận nước Nga thời xưa. Có nhà thơ lại chia ra thành phái vui tươi và phái hầm hầm… Về quan điểm học thuật, sự khác nhau thậm chí đối lập nhau vẫn tồn tại hiện tiền.

Sự bất cập này thể hiện rất rõ trong bài Đội ngũ lý luận – phê bình trên tiến trình đổi mới và hội nhập của PGS.TS Trần Khánh Thành (Tạp chí LLPBVHNT, số tháng 4-2019).
Tác giả chia đội ngũ LLPB ra làm 3 khu vực:

1. Các trường Đại học và Viện nghiên cứu.

2. Các báo và Nhà xuất bản.

3. Các nhà văn nhà thơ viết lý luận – phê bình.

Sau khi nêu khái quát đội ngũ chung và ở mỗi khu vực, tác giả nêu lên một số “đội viên tiêu biểu” và chỉ nêu mặt tích cực. Cứ như đội ngũ này, cả chung lẫn riêng đều chỉ có một điều tốt đẹp và như vậy, công cuộc đổi mới và hội nhập vui như trẩy hội.

Cách nhìn đó hoàn toàn sai lệch với thực tế. Chỉ là cách nhìn, cách đánh giá chủ quan, một chiều của người nghiên cứu. Thể hiện rất rõ ở khu vực Các trường Đại học và Viện nghiên cứu. Tác giả nêu lên mấy “đội viên tiêu biểu” là GS. Trần Đình Sử, GS. Lê Ngọc Trà, PGS. Lã Nguyên… với những lời ngợi ca có cánh. Cụ thể:

GS. Trần Đình Sử: Được xem là “Nhà khoa học đầu ngành tạo dấu ấn riêng đậm nét… truyền bá và vận dụng thành công Thi pháp học trong các công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu… Công trình Trên đường biên của lý luận văn học có ý nghĩa phương pháp luận nghiên cứu mới mẻ, hữu hiệu…” (Đội ngũ… Tạp chí LLPB, số tháng 4-2019; trg.49).

Đây là một đánh giá không đúng với thực tế học thuật của GS. Trần Đình Sử.

Chúng tôi đã có nhiều dịp xem xét GS. Trần Đình Sử, từ 1995 (Luận chiến văn chương Q.I. Bài “Nhắc lại rồi qua đi”), tiếp đến 2013 về việc GS bảo vệ cơ chế Đào tạo trên đại học qua Luận văn của Đỗ Thị Thoan; xem Khổng Tử là nhà phê bình kiểm dịch đầu tiên của nhân loại… Về Luận án Lý thuyết trò chơi mà GS là người hướng dẫn khoa học. Về biên soạn Ngữ văn 9, nhất là quan điểm phản khoa học và tư cách học thuật đáng phàn nàn ở công trình Trên đường biên của lý luận văn học (Xem Luận chiến văn chương Q.III – 2015, Q.IV – 2017, Q.V – 2019).

Chúng tôi đã đưa ra một mệnh đề về GS. Trần Đình Sử: Có hai Tố Hữu trong một Trần Đình Sử. Có hai Trần Đình Sử trong một Tố Hữu.

Kèm theo đó trích dẫn nguyên văn 13 đoạn văn GS. Trần Đình Sử hết lời ca ngợi Tố Hữu và Lý luận văn học Nhà nước trong công trình Thi pháp thơ Tố Hữu (1987) và 9 đoạn văn hạ thấp, giễu nhại Tố Hữu và Lý luận văn học Nhà nước trong công trình Trên đường biên của lý luận văn học (2016). Bạn đọc có thể xem ở Luận chiến văn chương Q.V, từ trang 96 đến 103. Trước Đổi Mới, GS. Trần Đình Sử xem Thơ Tố Hữu đã trở thành thơ ca dân tộc, thì sau Đổi Mới, thơ Tố Hữu trở thành thơ vận động tuyên truyền, thành thơ ca hò vè lại giống, ngôn ngữ hành vi của Tố Hữu là không đáng tin cậy (ở câu: Tôi đã là con của vạn nhà…) và Thành tựu của 30 năm đổi mới lý luận văn học là làm cho lý luận Nhà nước mất thiêng… Là “lý luận văn học chỉ có thể phát triển trên đường biên của các không gian lý luận khác, ở trung tâm bao giờ cũng xơ cứng. Trung tâm và ngoại biên chuyển đổi cho nhau. Nếu trước đây lý luận và văn học cách mạng là trung tâm thì nay đang chuyển đổi vị trí cho các thứ lý luận và văn học ngoại biên như Thơ bên lề (Nhã Thuyên), Thơ rác, Thơ Nghĩa địa; như trò chơi văn học là chơi để phá hủy các cơ cấu tư tưởng và xã hội… Và đây là tư tưởng của Trần Đình Sử: Toàn bộ văn hóa văn học… đều tồn tại trên đường biên, trên ranh giới (Trên đường biên của lý luận văn học. NXB Văn học. 2016. Trg. 313).

GS. Trần Đình Sử là người con của Cố đô Huế, ông tập kết ra Bắc năm 15 tuổi. Rồi đi du học ở Trung Quốc, Liên Xô… nhưng chắc chất Huế trong con người ông vẫn còn sâu nặng. Xin GS giải thích cho Ca Huế, màu tím Huế, nhạc cung đình, hò sông Hương, mắm tôm chua, kẹo mè xửng, bánh bột lọc, cơm hến, bánh khoái chợ Đông Ba… nó ở đường biên nào vậy?

Cần phải nói Thi pháp học của GS. Trần Đình Sử là thứ lý thuyết ngoại nhập rất cực đoan, trở thành thảm họa cho đời sống văn học. Đâu đâu cũng lên cơn thi pháp: Thời gian nghệ thuật. Không gian nghệ thuật. Quan niệm nghệ thuật về con người. Văn xuôi nghệ thuật. Ngôn từ nghệ thuật. Cấu trúc nghệ thuật… Chỉ nhìn hình thức mà xem nhẹ nội dung. Dường như tất cả đều nằm ở hình thức mang tính nội dung. Rồi thi pháp của nhà này, thi pháp của nhà kia rồi mượn hình thức để đưa vào tính nội dung rất phản nhân văn. Điển hình ở luận điểm Loại hình tác giả của TS. Nguyễn Bá Thành và các lớp ngôn ngữ của Lã Nguyên mà chúng tôi sẽ nói dưới đây.

So-548--Anh-minh-hoa---Tu-duy-doi-ngu-trong-van-hoc---Anh-1

Trong công trình Trên đường biên… GS. Trần Đình Sử đưa ra quan niệm văn học phải khám phá cái khả năng, cái vô thức. Ông cho rằng cái hiện thực chỉ là một trong vô vàn cái khả năng, do điều kiện nào đó mà trở thành hiện thực. Vì vậy, cái khả năng mới là sự phong phú của cuộc sống và đó là miền đất hứa cho khám phá sáng tạo văn học. Và quan hệ giữa ý thức với vô thức, tiềm thức cũng như vậy. Đây là luận điểm cực kỳ nguy hại cho đời sống văn học. Nó phản lại quy luật đời sống. Lịch sử của con người là lịch sử của những dòng hiện thực kế tiếp nhau. Trong muôn vàn cái khả năng, con người đã lựa chọn cái khả năng có thể trở thành hiện thực, sẽ trở thành hiện thực. Sự sáng tạo của loài người chính là sự lựa chọn cái khả năng có thể trở thành hiện thực. Trong muôn vàn cục đá, con người đã lựa chọn một cục đá nhất định để chế tác thành công cụ sản xuất. Trong muôn vàn loài thực vật, con người đã lựa chọn những cây có thể nuôi sống mình, thuần dưỡng nó để trở thành hiện thực của cây lúa cây ngô cây sắn. Trong muôn vàn loài động vật, con người đã lựa chọn những con vật có khả năng giúp ích cho con người, thuần dưỡng nó, trở thành hiện thực của cuộc sống như các loài gia súc
gia cầm.

Lịch sử văn minh của loài người chính là lịch sử của sự lựa chọn và biến cải cái khả năng để trở thành hiện thực, nhờ đó con người tồn tại và phát triển. Trong chính trị và quân sự, qui luật này càng rõ. Trong rất nhiều khả năng chính trị và quân sự ở năm 1945, những nhà cách mạng ưu tú đã lựa chọn khả năng tổng khởi nghĩa. Từ “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (Trường Chinh chấp bút – sau 9-3-1945) đến Cơ hội ngàn năm có một, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải quyết giành lại độc lập (Hồ Chí Minh). Từ chối khả năng đánh nhanh thắng nhanh để đánh chậm chắc thắng đã đưa chiến cuộc Điện Biên Phủ trở thành hiện thực năm 1954. Đáng lẽ văn học – nghệ thuật phải khám phá những kinh nghiệm quý báu của cái khả năng đã trở thành hiện thực, được trở thành hiện thực nhờ hành động sáng suốt của con người thì GS. Trần Đình Sử lại muốn văn học phải đi ngược lại, phải khám phá lịch trình của những khả năng không thể thành hiện thực, của những Nguyễn Hải Thần, Trần Trọng Kim, Ngô Đình Diệm… Đương nhiên lịch sử cũng phải xem xét những khả năng không trở thành hiện thực đó nhưng là để khẳng định quy luật lịch sử, khẳng định cái hiện thực đã giành được, khẳng định sự lựa chọn đúng đắn trước vô vàn những khả năng của cuộc sống. Luận điểm của GS. Trần Đình Sử chỉ để biện hộ cho những khả năng phản lịch sử, cũng là phản văn hóa, phản nhân văn, phản lại nguyên lý Chân – Thiện – Mỹ.

Phải phân tích rõ – dù có dài dòng – để thấy tính chất tiêu cực trong học thuật của GS. Trần Đình Sử. Càng cần thiết khi ông được tôn vinh là nhà khoa học đầu ngành, nhà thi pháp học đầu tiên của Việt Nam, nhà chủ biên, nhà tổng chủ biên sách giáo khoa.

Trần Đình Sử đã trở thành người phát ngôn của trường phái được cãi cầm thua cãi cố… Cần phải vạch rõ thực chất vừa phản khoa học vừa xu thời cơ hội của nhà khoa học đầu ngành này. Chủ đề này cần phải tiếp tục trong sinh hoạt văn học.

GS. Lê Ngọc Trà: Được Trần Khánh Thành đánh giá cao sau Trần Đình Sử. Chúng tôi đã có dịp phản biện lại luận điểm rất ồn ĩ của ông hồi đầu Đổi Mới. Đó là luận điểm cho rằng Văn học trước hết, chủ yếu không phải phản ánh hiện thực mà là nghiền ngẫm về hiện thực.

Đây là luận điểm độc đáo một cách ngược đời, không có bột vẫn muốn gột nên hồ. Hồ đó là hồ Lê Ngọc Trà. Chữ hồ này có nghĩa là hồ nước, ao hồ… như ta nói hồ Ba Bể (Bắc Cạn), hồ Thuyền Quang (Hà Nội) hay hồ Cốc, hồ Tràm (Xuyên Mộc – Đồng Nai).

Chưa nhận thức được đầy đủ mà nghiền ngẫm thì cũng như Thầy bói xem voi hay Bẩm quan con vịt… Chúng tôi cho đây là cách diễn đạt của Lê Ngọc Trà. Nếu nói văn học chủ yếu là nghiền ngẫm về hiện thực thì người đọc vẫn hiểu được là nghiền ngẫm trên cơ sở nhận thức đầy đủ về hiện thực. Nhưng cách diễn đạt của Lê Ngọc Trà dẫn đến xem nhẹ phản ánh hiện thực. Vấn đề của Lê Ngọc Trà thực ra không có gì mới mẻ. Nguyễn Du đã viết rất rõ và đủ:

Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Như thế, Lê Ngọc Trà có đổi nhưng chưa mới!

Lã Nguyên: Đây chỉ là cái bóng của Trần Đình Sử, nên không cần nói nhiều, chỉ dẫn hai trường hợp.

Về Tố Hữu, Lã Nguyên đã khái quát thơ Tố Hữu thành ba lớp ngôn ngữ: Ngôn ngữ nhà binh; Ngôn ngữ dòng tộc và Ngôn ngữ hội hè. Ngôn ngữ nhà binh, ngôn ngữ cai đội, lính tẩy thì chỉ có thưa bẩm, Mẹc-xà-lù, A-lê-hấp… Ngôn ngữ dòng tộc gợi lên âm hưởng cung kính thứ bậc bề trên kẻ dưới… Còn ngôn ngữ hội hè thì nhộn nhịp lắm đây… Lã Nguyên không nói ra như thế, nhưng người đọc có thể liên tưởng ra như thế. Là một cách tầm thường hóa Tố Hữu.

Trường hợp thứ hai, ngược hẳn lại với trường hợp Tố Hữu, là từ một quyển tiểu thuyết có nội dung xấu – Miền hoang – xuyên tạc thậm tệ cuộc chiến tranh tình nguyện của người lính Việt ở Campuchia với thứ ngôn ngữ tục bẩn kinh khủng, qua cái nhìn thi pháp của Lã Nguyên bỗng trở thành độc sáng. Bạn đọc có thể xem ở Luận chiến văn chương Q.IV, bài Sự tráo trở của thi pháp. Năm trước, cái giải thưởng mang tên cụ Phan Châu Trinh trao cho Lã Nguyên là có cơ sở lắm. Vì Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh đã chấm dứt hoạt động nên chúng tôi không tiện bình luận.

TS. Nguyễn Bá Thành: Tác giả Trần Khánh Thành chỉ nêu danh suông TS. Nguyễn Bá Thành thuộc đội ngũ lý luận – phê bình ở khu vực Các trường đại học và các viện nghiên cứu, không nêu công trình. Đây là cái tiện lợi của tư duy đội ngũ, có thể xen các Đông Quách(*) vào dàn nhạc LLPB.

Cần nói thẳng ra là TS. Nguyễn Bá Thành, trong công trình Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945-1975 (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – 2016) đã mượn thi pháp học, mượn chủ nghĩa hình thức để đánh đồng thiện – ác, chính – tà. Cụ thể là lấy loại hình tác giả để cào bằng Hồ Chí Minh với Vũ Hoàng Chương, Tố Hữu với Thanh Tâm Tuyền, Chế Lan Viên với Bùi Giáng. TS. Nguyễn Bá Thành định nghĩa Tư duy thơ là thế này: Tư duy thơ là hành động sáng tạo sáng tác thơ. Từ đó ông khẳng định có một nền thơ dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa với hàng trăm tác giả. Về nền văn học quốc gia thì ông quan niệm đó là toàn bộ tác phẩm tác giả ở mọi vùng miền không phân biệt khuynh hướng tư tưởng… Tất cả đều được xếp chung vào một kệ sách. Chúng tôi đã phân tích trường hợp Lã Nguyên và Nguyễn Bá Thành trong Luận chiến văn chương Q.V, NXB Văn học 2019, nay không nhắc lại.

*
Chúng tôi thấy không cần phân tích đội ngũ LLPB ở hai khu vực còn lại. Chỉ lưu ý, tác giả Trần Khánh Thành cho rằng các bài LLPB ở khu vực Báo chí và Xuất bản thường là ở dạng điểm sách, dạng tiểu phẩm, chưa phải là bài LLPB có tính chuyên nghiệp. Đó cũng là cách suy luận hình thức chủ nghĩa. Một bài LLPB phải căn cứ vào nội dung của nó. Vấn đề nó đặt ra. Ngắn hay dài chỉ là chuyện phụ, chuyện hình thức. Chúng tôi xem Hồng Diệu là một trong những tiêu biểu cho đội ngũ LLPB ở các báo – NXB. Ông viết rất ngắn nhưng giá trị nội dung không hề ngắn. Hãy xem bài Một nhận định sai về thơ Việt Nam hiện đại trên Văn hóa – Văn nghệ Công an số 423, ngày 6-12-2018, thì thấy rõ. Để phản biện lại một luận điểm, phải đọc lại cả một nền thơ hay một giai đoạn, thời kỳ thơ.

Có thể kết luận ngắn gọn về bài viết của PGS.TS Trần Khánh Thành: Nếu Trần Đình Sử, Lã Nguyên, Nguyễn Bá Thành… đã vận dụng hình thức nghệ thuật một cách cực đoan (Thi pháp học) nên nhìn vào hiện thực đời sống văn học – nghệ thuật chỉ thấy ra những giá trị ảo thì PGS.TS Trần Khánh Thành, bằng cách nhìn đội ngũ, đã xếp các Đông Quách vào hàng tiêu biểu của dàn nhạc Lý luận – phê bình trong tiến trình đổi mới và hội nhập.

Hà Nội, tháng 5-2019

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 548

———————–
(*) Đông Quách: Theo Cổ học tinh hoa, Đông Quách thổi sáo rất dở nhưng đứng lẫn vào dàn nhạc cung đình nên vẫn được tiếng hay. Một hôm, nhà vua ban lệnh: Ta muốn nghe riêng từng người vào tấu cho ta nghe. Đông Quách nghe lệnh đó liền trốn biệt.

Ý Kiến bạn đọc