Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Truyền thống lịch sử dân tộc Việt không ăn thịt chó

(Trích trong sách Tự hào Văn Minh Việt, tái bản lần thứ 2/ cuối năm 2018)

Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội Vừa Đề Xuất Cấm Bán, Chế Biến, Ăn Thịt Chó Mèo Trên Địa Bàn Hà Nội Đã Gặp Nhiều Ý Kiến Phản Đối Cho Rằng “Thịt Chó Là Món Ăn Truyền Thống Của Dân Tộc Việt Nam”. Vậy Sự Thật Lịch Sử Là Thế Nào?

Xin Giới Thiệu Bài Viết Của Ông Vũ Ngọc Phương Để Bạn Đọc Thư Giãn

 

Ngược dòng lịch sử, năm 247 trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc lúc đó có địa giới chủ yếu là phía bắc sông Hoàng Hà và một phần của nước Sở ở lưu vực sông Dương Tử (sông Trường Giang), kết thúc thời Chiến quốc. Năm 218 trước Công nguyên, nhà Tần sai Hiệu úy Đồ Thư cầm 50 vạn quân (nửa triệu quân chưa kể dân phu) chia làm 5 đạo cùng với các tội nhân tiếp vận lương cùng vượt sông Dương Tử tiến về phía Nam đánh chiếm đất của Bách Việt. Chỉ trong khoảng hơn một năm (217 Tr.CN), quân Tần đã chiếm được gần hết vùng đất rộng lớn của Bách Việt từ nam sông Dương Tử ngày nay ở Trung Quốc là các tỉnh Hồ Bắc, An Huy, Chiết Giang, Hồ Nam, Giang Tây, Phúc Kiến, Quảng Đông… đến Hải Nam. Sau khi chiếm đất Bách Việt, Nhà Tần đưa những người bị tội vào ở lẫn lộn với người Bách Việt 13 năm, thực hiện lần đầu tiên chính sách đồng hóa chủng tộc của người Hoa Hạ – sau gọi là Hán.

Sử sách thời cổ đại ở Trung Quốc viết năm 214 Tr.CN, quân Tần đi xuyên sơn vào đất Lạc Việt, bị khốn gần 10 năm, người Tây Âu và Lạc Việt không chịu hàng bỏ vào rừng, đêm ra đánh, lâu ngày quân Tần hết lương, bèn phá tan quân Tần chết mấy trăm vạn, giết được Đồ Thư. Quân Tần đại bại, đến năm 207 Tr.CN, vua Tần Nhị Thế phải cho quân Tần rút về nước. Mười phần lúc nhà Tần khởi binh xâm lược Bách Việt, khi thua trận tàn quân chạy về chỉ còn 2 ~ 3 phần chạy về Trung Nguyên (Trung Hoa).

Đây chính là một trong những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đầu tiên, vĩ đại nhất thời Cổ đại của người Lạc Việt được ghi rất nhiều trong sử sách Trung Hoa. Những sự kiện lịch sử của người Lạc Việt phần lớn được ghi trong hàng trăm thư tịch cổ Trung Hoa. Vào những năm cuối thập niên 60 và thập niên 70, 80 của thế kỷ XX, khảo cổ học Trung Quốc đã khai quật được rất nhiều di vật khảo cổ về vũ khí, áo giáp, xe, hài cốt người… có niên đại thời nhà Tần. Trong các di chỉ khảo cổ học của người Việt được khai quật có xương chó, vũ khí in, đúc, khắc hình con chó.

So-517--Truyen-thong-lich-su-dan-toc-Viet-khong-an-thit-cho---Anh-6
Tượng đồng người dắt hai con chó – Di tích khảo cổ Phú Lương, Hà Đông, Văn hóa Đông Sơn trung kỳ niên đại 2,000 năm Tr.CN.

Dã Sử và truyền thuyết thời cổ nói rằng các đội quân Việt khi đánh quân xâm lược thì trong các Đoàn quân Việt thường nuôi hàng trăm con chó, được huấn luyện để canh gác nơi đóng quân cũng như được đưa ra xung trận đầu tiên làm rối loạn hàng ngũ quân giặc rồi quân Việt mới tiến công. Sự việc nuôi chó trong quân Việt đã được ghi lại trong sách Đại Nam nhất thống chí về việc Tướng quân Nguyễn Xí huấn luyện hàng trăm con chó trong quân khởi nghĩa của Lê Lợi chống nhà Minh. Trong các di vật Khảo cổ Văn hóa Hòa Bình đến Văn hóa Đông Sơn có nhiều chứng tích về thuần dưỡng chó và sự quý mến của người Việt với con chó nhà.

Trong bài viết “Quan hệ nhân – khuyển qua minh chứng của khảo cổ học” ngày 7/3/2018 của Học giả – Tiến sỹ Nguyễn Việt đã chứng minh nhiều sự vật minh chứng cho người Việt đã thuần hóa và nuôi chó cách đây vài chục nghìn năm. Xin lược trích có biên tập dưới đây:

“Trong số xương cốt động vật mà E. Patte, nhà khảo cổ học người Pháp khai quật tại cồn sò điệp Đa Bút (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) từ những năm 30 thế kỷ XX, đã có xuất hiện một số mảnh xương hàm chó. Những mảnh xương đó được các nhà khoa học xác nhận thuộc một loài chó nhà gần với loài chó Phú Quốc. Địa điểm khảo cổ học Đa Bút có niên đại carbon phóng xạ C14 có niên đại 7,000 năm cách ngày nay được coi như niên đại sớm nhất thuần dưỡng chó ở Việt Nam. Năm 2004, khai quật khảo cổ mộ bó xương người có niên đại gần 20 ngàn năm tại mái đá Đú Sáng (Kim Bôi, Hòa Bình) thuộc Văn hóa Hòa Bình cũng đã phát hiện một cặp hàm trên và hàm dưới của một loài chó. Cặp hàm này thuộc một cá thể chó trưởng thành được chôn như vật tùy táng trong ngôi mộ, có thể thấy đây phải là vật nuôi thân thiết với con người khi còn sống.

Tại các di chỉ Khảo cổ, xương chó đã được phát hiện rải rác trong các địa điểm khảo cổ học hậu kỳ đá mới và thời đại kim khí. Một số tượng chó, hình chó được người Việt khắc đúc được biết đến nay có niên đại khoảng 3,500 năm Tr.CN. Trong số tượng đất nung cỡ nhỏ phát hiện ở các hố đất đen tại di chỉ Văn hóa Đồng Đậu (Minh Tân, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) hầu hết là xương gia súc, trong đó có những tượng chó bằng đất nung. Dường như chó đã trở thành vật nuôi gắn bó trong đời sống cư dân Việt có nền Văn minh kinh tế trồng trọt, canh tác lúa nước.

So-517--Truyen-thong-lich-su-dan-toc-Viet-khong-an-thit-cho---Anh-7
Vòng đồng Văn hóa Đông Sơn niên đại 2,500 năm Tr.CN có hình đôi chó.

Trong các di vật đồ đồng Văn hóa Đông Sơn thời kỳ 2,500 năm Tr.CN đến thế kỷ trước và sau Công nguyên. Con chó được thể hiện rất nhiều trong sinh hoạt, chiến trận của người Việt. Hình ảnh chạm khắc, tượng chó giúp người săn hươu là hình ảnh tiêu biểu trên hàng trăm rìu chiến hình mũi hài Đông Sơn. Ở đây, những chú chó luôn chặn đầu đàn hươu đang chạy, đối diện phía bên kia là những thợ săn giương cung, vung rìu trên các con thuyền độc mộc. Trên những tang trống hay thân thạp đồng có trang trí thuyền chúng ta thấy chó còn được đưa lên thuyền chiến đi cùng các chiến binh hóa trang tham dự lễ xuất quân hoặc lễ khải hoàn chiến thắng. Chó cũng từng thấy gắn bó với cảnh sinh hoạt của một nhóm người Đông Sơn hành lễ được đúc trên một cán dao găm bằng đồng và được đúc trên các vật trang trí gắn trên đồ gỗ hay trang phục, đầu tóc quý tộc Đông Sơn. Nhưng có lẽ bức tượng người bằng đồng đứng thẳng trong tư thế hai tay thân thiện đặt trên lưng hai con chó được khai quật trong khu mộ thân cây khoét rỗng Phú Lương (Hà Đông, Hà Nội) là hình ảnh tiêu biểu và sinh động nhất về quan hệ giữa người Đông Sơn và “loài khuyển” đáng quý này. Cho đến nay đã phát hiện được hai khối tượng như vậy. Nghệ nhân đúc đồng đã thể hiện một người đàn ông búi tó cao khoảng 8cm với cặp chó như sinh đôi ở hai bên đứng cao tới trên thắt lưng của người đàn ông đó. Hai tay người đàn ông đặt ngang lưng hai con chó, rất khoan thai, thân thiết.

Trải qua trên 7,000 năm gắn bó Nhân – Khuyển, chó càng trở thành người bạn không thể thiếu trong đời sống người Việt. Chó được trân trọng đặt canh cổng trong các kiến trúc tâm linh như: đền, miếu, lăng mộ… và có lẽ đã được gia nhập linh vật Việt dưới dạng Nghê thần. Thậm chí chó còn được lập đền thờ cúng như một Linh Cẩu. Đặc biệt, từ hơn 2,000 năm trước, chó còn được chọn đặt trong số 12 con vật tượng trưng cho mùa màng, cho số phận của con người và trời đất: Cứ 12 năm lại quay một vòng trở về với Tuất. Năm nay là năm Mậu Tuất”.

So-517--Truyen-thong-lich-su-dan-toc-Viet-khong-an-thit-cho---Anh-8
Rìu chiến Văn hóa Đông Sơn 2,500 Tr. CN có khắc hình người và chó săn hươu.

Có thể vì thế mà con chó được người Việt tôn thờ làm Linh vật Chó Đá canh giữ cổng đền, chùa hay trước cổng những gia đình khá giả ở xã thôn miền Bắc, ở trước nhiều ngôi mộ cổ, lăng… Nhiều nơi dưới chân tượng chó đá thường có một bát hương để thắp lễ vào các ngày rằm, mùng 1, ngày Tết Nguyên đán… Trong đời sống tâm linh người Việt, đặc biệt là người dân ở vùng Đồng bằng Bắc bộ, ở các tỉnh như Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Hà Nam, Thái Bình, Hải Dương thì người ta tin rằng con chó đá để ở ngoài cổng có thể đuổi được tà ma. Dân gian có câu “Mèo đến nhà thì khó, Chó đến nhà thì sang” là ý coi trọng con chó đã được người Việt thuần hóa, gắn bó từ hàng vạn năm. Con mèo là một gia súc tự thuần hóa vì thấy nơi ở của con người nhiều chuột, sẵn thức ăn, vậy nên bản tính hoang dã của con mèo cao hơn con chó.

Chùa Cầu ở Hội An, Quảng Nam ở miền Trung được xây dựng vào thế kỷ XVII có bảng câu đối chữ Hán có nhắc đến Chó là Thiên Cẩu – là một linh vật, Nhà Văn hóa Dân gian Nguyễn Bội Liên (1911-1996) có dịch và giải nghĩa câu đối chữ Hán ở phía cửa đông cầu:

“Thiên cẩu song tinh an cấn thổ,
Tử vi lưỡng tỉnh định khôn thân”

Dịch là:

“Hai sao thiên cẩu ở yên nơi đất cấn
Hai tướng tử vi định được chốn quẻ khôn”

Đôi câu đối chữ Hán ở cửa phía tây của cầu:

“Ngoạn nguyệt khách du châu vĩ điện,
Khán hoa nhân đáo mã đề lôi”

Dịch là:

“Khách ngắm trăng thuyền nhanh như chớp
Người xem hoa vó ngựa sấm vang”

Ở Hà Nội, gần sát đoạn lên dốc đường Thanh Niên, trên hồ Trúc Bạch có một gò đất nhỏ nổi lên, xưa có một ngôi miếu nhỏ, hoang phế gọi là Đền Cẩu Nhi. Thời kỳ 1980 – 1990, trong giới học giả Văn hóa đã từng có nhiều tranh luận về có hay không tục thờ chó của người Việt, người phản đối tục thờ chó gay gắt nhất lúc đó là cố Giáo sư Đỗ Văn Ninh, ông là một học giả uyên thâm, rất giỏi Hán văn và Pháp văn lại là một trong những học giả hàng đầu về khảo cổ học, sử học… Tuy nhiên, cuộc tranh luận cũng không phân thắng bại. Sau những năm 1995 – 2005, chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng đã phục hồi nhiều nghi lễ thờ phụng cổ truyền trong dân gian. Sau khi được xã hội hóa cho phép phục dựng lại ngôi miếu hoang phế thành đền đã được khánh thành tháng 8/2017, trên cửa đền có biển là Thủy Trung Tiên. Sách Tây Hồ Chí có ghi lại sự tích đền Cẩu Nhi có liên quan đến cuộc định đô Thăng Long của vua Lý Công Uẩn. Thời Hậu Lê, đền có tên là Thủy Tiên Từ. Theo một số tài liệu và bài viết về lịch sử ngôi đền Cẩu Nhi có dẫn tài liệu của Thư viện Quốc gia về một tấm ảnh chụp ở đây khoảng cuối thế kỷ XIX thấy có tấm hoành của miếu cũ ghi chữ Thủy Tiên Từ.

So-517--Truyen-thong-lich-su-dan-toc-Viet-khong-an-thit-cho---Anh-4
Tượng con Nghê trước điện Thái Hòa, Huế.

Nghiên cứu Dân tộc học đã cho thấy con chó được coi là Vật Tổ (Totem) trong tín ngưỡng của người Cơ Tu. Truyền thuyết kể rằng, thuở xưa có một trận đại hồng thủy tiêu diệt muôn loài. Chỉ còn một cô gái và một con chó sống sót nhờ trốn vào một chiếc trống. Cô gái sống cùng với con chó như vợ chồng, sinh ra hai người con, một trai, một gái. Lớn lên, người con trai xuống đồng bằng, người con gái ở lại miền núi. Cuối cùng hai người lại gặp lại và lấy nhau, sinh ra một quả bầu. Từ quả bầu đó, người Cơ Tu, người Bru, người Tà Oi, người Việt… ra đời.

Truyền thuyết về ông Tổ Chó cũng còn thấy ở nhiều dân tộc khác ở Việt Nam như Chăm, Xê Đăng, Lô Lô, S’tiêng, Giẻ Triêng, Dao… Người Dao có truyền thuyết và phong tục thờ ông Tổ Chó. Truyền thuyết kể rằng: “Xưa kia có ông vua của người Dao không có con trai chỉ sinh được 12 người con gái. Một ngày giặc sang xâm lược, vua liền truyền rằng ai đánh thắng giặc vua sẽ gả cả cho 12 cô con gái, vua cầu khấn Trời để xin. Rồi xuất hiện một Long Khuyển ngũ sắc, đầu Chó, mình Rồng, lông ngũ sắc, lại có 12 cái đuôi, đến xin vua cho đánh giặc. Long Khuyển ra trận diệt hết giặc rồi trở về gặp vua. Nhà vua liền gả các con gái cho Long Khuyển được vua truyền ngôi báu”. Để nhớ ơn con Long Khuyển đã có công dẹp giặc cứu dân nên người Dao thêu hình con chó với 4 chân chó ở sau áo.

Văn học dân gian có tác phẩm Lục súc tranh công (khuyết danh) viết bằng chữ Nôm, xuất hiện khoảng đầu TK XX, con chó có mặt để nói về công trạng của mình:

“Đêm năm canh con mắt như chong:
Đứa đạo tặc nép oai khủng động.
Ngày sáu khắc, lỗ tai bằng trống,
Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh.
Lại đến ngày kỵ lạp tiên sinh,
Cũng ra sức săn chồn, đuổi sóc.
Bao quản chui gai, lước góc,
Chi này múa mỏ, lòn hang…”

“Khi sống thì giữ gìn của đời,
Khi thác xuống giữ cầu âm giải,
Người có phước, muông đưa ra khỏi,
Ai vô nhân, qua chẳng đặng đâu!
Chủ có lòng suy trước, xét sau,
Khi lâm tử gạo tiền tống táng.
Chủ đã có công dày ngãi rộng,
Muông dễ không tiếp rước đãi đưa…”

Trước thời điểm ra đời của Lục súc tranh công, có lẽ dân Việt chỉ biết chó qua văn chương Hán học. Khi được coi là Linh vật, chó đá được đục khắc một hình hài oai nghiêm tĩnh lặng đặt hai bên trước cổng đền, chùa, miếu. Trong nghệ thuật tín ngưỡng Việt, từ hình ảnh chó – một gia súc, qua sáng tạo, thần hóa thành Chó Đá, rồi để tăng thêm sự linh thiêng, quyền uy trấn giữ ma quỷ nhưng vẫn gần gũi với đời sống người Việt thì Chó Đá biến thành con Nghê, với tư thế 4 chân ngồi canh giữ giống chó đá, nhưng về hình thức lại biến hóa có vây, có vẩy, dáng ngồi như chó, thân hình lại như rồng mà không phải là rồng.

So-517--Truyen-thong-lich-su-dan-toc-Viet-khong-an-thit-cho---Anh-5
Nghê đá trước lăng Diên Hương, Hiệp Hòa, Bắc Giang.

Tra chữ Nghê trong Từ điển Hán Việt từ nguyên của Bửu Kế, tại trang 1213 có ghi chú giải chữ Nghê là Ráng Trời, viết bộ Võ, nghĩa là “Trời mây sắc đỏ”. Không rõ chữ “Nghê” là một danh từ thuần Việt, không có trong Hán tự, hay là chữ Nôm? Khác chó đá ở hình thái linh vật bên ngoài, con Nghê có lúc được đưa lên cao hơn khi Chó Đá chỉ ngồi ở dưới đất. Nhiều tượng con Nghê được đặt trên đỉnh trụ tam quan, trên mái đền, chùa ở khắp các vùng Bắc bộ Việt Nam. Con Nghê còn được dùng để trang trí trong các ngôi đình cổ ở Việt Nam. Hình tượng con Nghê được chạm xà bẩy từ cột ra để đỡ xà dọc ở mái ngoài, được gắn trên đầu đao đình, chùa, đền, phủ.

Lược trích một số thông tin về hình tượng con Nghê: Một số cổ vật tượng và hình con Nghê đang lưu giữ tại Bảo tàng Guimet, Paris, Pháp: 1/ Chân đèn có tượng Nghê, chế tạo vào năm 1637 tại Bát Tràng, Hà Nội. 2/ Đĩa vẽ hình con Nghê. Tại Bảo tàng lịch sử Quốc gia, Hà Nội hiện đang lưu giữ 8 cổ vật hình con Nghê được làm qua nhiều triều đại phong kiến Việt Nam. Con Nghê thường được thấy qua các món đồ gốm cổ như: Tượng con Nghê, bình đốt trầm hương trên bàn thờ, nậm rượu hình con Nghê, chân đèn hình con Nghê, đĩa trang trí hình con Nghê. Còn lưu giữ được các hiện vật con Nghê thời Lý làm bằng gốm ở chùa Cổ Chất, tỉnh Nam Định.

Về chữ “Cẩu” có thể được dùng đầu tiên của Cao Bá Quát làm bài thơ tả hai ông quan chửi nhau vào thời vua Tự Đức (1847-1883). Các danh từ về chó có trong thơ văn như Khuyển mã hay Sài lang, là nói về giống Chó rừng hung dữ, xấu xí đáng ghét, không phải là loài chó nhà hiền lành thông minh, có hình dáng, lông sắc phong phú như sau này. Trong các sách truyện đời xưa, khi dùng từ “quân cẩu trệ” là muốn m chỉ sự nhục mạ đối tượng. Đây là mặt trái, xấu bẩn và ác của “Con” chó cũng như phần xấu, ác trong “Con” của Người.

Như vậy con chó là một trong những loài vật được người Việt nuôi từ rất sớm, nếu không nói là một trong những Dân tộc đầu tiên thuần hóa Chó rừng thành Chó nhà trong buổi bình minh Nhân loại. Từ những chứng minh khoa học đã được công bố, xác minh, trong phong tục truyền thống Việt đã không ăn thịt chó. Giáo lý cổ xưa nay còn lưu giữ truyền kỳ của Đạo Thánh Mẫu Việt có trên di tích Thiên Đàn do Vua Việt là Đế Minh lập để tế cáo Trời, Đất, dấu tích hiện vẫn còn trên núi Đại Minh, Quảng Tây, Trung Quốc có niên đại khá chính xác là năm Nhâm Tuất, cách đây 4,879 năm có khắc hàng nghìn chữ Việt cổ về chiêm bói, cúng tế và hình khắc vẽ chim và các biểu tượng khác được giải nghĩa thờ Tam vị là Trời, Đất, Nước… đến nay vẫn còn tồn tại trong tục thờ phụng Gia Tiên của Tam Tòa Thánh Mẫu là cấm kỵ ăn thịt chó, vì ăn thịt chó không khác gì ăn thịt người bạn trung thành. Người Việt gọi Chó là Tuất, được xếp hạng thứ 11 trong Lịch 12 con Giáp, Tuất đứng trước con Lợn – là Hợi.

Về nguồn gốc phong tục ăn thịt chó của người Bắc Việt Nam hiện vẫn chưa có một tài liệu, chứng cứ khoa học xác thực nào. Sự ăn thịt chó của người Bắc Việt Nam có được một số giáo sĩ người Pháp viết trong bài “Bản tường trình về xứ Đàng Ngoài của cha Baladinotti” được dịch theo bản tiếng Pháp: “La relation sur le Tonkin du P. Buldinotti. BEFEO. 1903. tr. 71 -78, được viết từ Ma Cao, ngày 12-11-1626 và chuyện người Việt ăn thịt chó trong bài “Những ghi chép về xứ Bắc kỳ của đức ông De la Bissachère” được ghi như sau: “Thịt chó được xem là tuyệt hảo hơn cả và giá bán là rất đắt. Lần đầu tiên 1 người châu Âu ăn thịt chó cần phải dằn lòng và cảm thấy bị cứa nát trái tim song đã qua rồi thì chẳng còn thấy khổ đau chi nữa”. Tiếp nữa là cuốn “Lịch sử tự nhiên, dân sự và chính trị xứ Đàng Ngoài” của tác giả người Anh là Richard, ông này cũng là thầy tu. Về tục ăn thịt chó thì ông ta viết như sau: “Tôi đã chứng kiến họ mổ thịt con chó, sau đó họ chế biến ra các món”, cho thấy người dân Đàng Ngoài (miền Bắc Việt Nam) đã ăn thịt chó từ thế kỷ XVIII, các thư tịch trước đó hiện chưa tra cứu được tục ăn thịt chó của người Việt. Ông Horcacs có viết trong sách “Một chiến dịch ở Bắc kỳ”. Tác giả là bác sĩ trong đội quân Pháp đánh thành Hà Nội vào cuối thế kỷ XIX. Horcacs viết chuyện khi ở Thăng Long – Hà Nội có kể bán thịt chó: “Năm 1883, tôi từ trong thành Hà Nội đi ra chợ Cửa Đông chơi, tôi thấy có quá nhiều người bày bán thịt chó, họ để cả con vàng ươm. Nó được mang từ ngoại ô vào…”.

Tác giả Tôn Thất Thọ viết trong bài “Thịt chó có phải món ăn truyền thống của người Việt” đăng trên Web nghiencuulich sư – This entry was posted on Tháng Sáu 8, 2017, in Kho tàng văn hóa and tagged âm thực, Tôn Thất Thọ, thịt cầy, thịt chó. Bookmark the permalink có nhận xét (lược trích):

“Khoảng thập niên 1930, Hà Nội chỉ mới có 4 hay 5 quán thịt chó. Trong khi đó ở Nam bộ Việt Nam không có quán nào, gần như không mấy người biết ăn. Nguyên nhân là vì miền Nam lệ thuộc nhiều vào văn hóa Pháp, họ rất thương chó, dĩ nhiên là họ có đủ mọi phương tiện luật pháp để ngăn cấm. (Nhưng cũng có thể là do chưa có ai bày cách làm thịt chó, nhất là cách dùng các thứ gia vị!). Cũng theo nhà văn này, ở trong Nam, tương tự như món phở, chỉ biết thưởng thức món thịt chó từ sau phong trào “di cư” 1954 của dân miền Bắc. Trước 1975, tại một vài xóm đạo, chợ Ông Tạ, giáo xứ Tân Hương ở Tân Bình và Thủ Đức… những “tông đồ” có thể tìm cho mình những thứ khoái khẩu, “nguyên zin” với cách pha chế được bê nguyên từ phương Bắc vào.

Như vậy có thể đoán là thịt chó chỉ phổ biến và thịnh hành trong dân gian ở miền Bắc vào khoảng thập niên 1910-1920. Thời điểm này trùng hợp với tình trạng chiến tranh và loạn sứ quân bên Trung Quốc sau Cách mạng Tân Hợi (1911), phải chăng sự thiếu thốn là lý do đầu tiên đưa đến việc nhiều người phải dùng đến món thịt chó như bên Trung Quốc, và từ đó mới phổ biến lan sang tới Việt Nam, Trung Quốc, thì thế nào cũng lan truyền qua Việt Nam theo đường biên giới. Điều này có thể kiểm chứng được bằng dữ kiện cho thấy, đa số cư dân ở các vùng ven biển từ Móng Cái – Lạng Sơn chạy dọc theo bờ biển về đến Hải Phòng đều biết ăn và làm thịt Cầy (có người cho rằng, từ Cầy có lẽ xuất phát từ chữ Cẩu nhưng được đọc âm khác đi vì kiêng cữ, sợ nói thành “thịt Cậu” chăng?)…”.

Như vậy, việc ăn thịt chó tại miền Bắc Việt Nam xuất hiện khi người Trung Quốc chạy sang cư ngụ ở Bắc bộ Việt Nam từ loạn Bạch Liên giáo ở Trung Quốc thời kỳ vua Gia Khánh (1796-1820) đến các triều đại Hàm Phong, Đồng trị Nhà Thanh đến loạn Thái Bình Thiên quốc, Thiên địa Hội, loạn Người Mèo và Giáo phái ở Quý Châu, lại còn có Hồng Hiệu, Thanh Hiệu, Bạch Hiệu,… mỗi cuộc biến loạn tập hợp được từ vài vạn đến hàng mấy chục vạn quân vì “ Dân thù quan binh hơn thù giặc” .

Theo cố Giáo sư Trần Quốc Vượng, cội nguồn ăn thịt chó bắt đầu từ lễ hiến tế chó trong tín ngưỡng dân gian. Kết quả khảo cứu thực tiễn hơn 37 năm lại cho thấy trong tất cả các Lễ hội dân gian cũng như thư tịch cổ ở miền Bắc Việt Nam chưa từng có mâm Lễ nào có món thịt chó, đến ngay mâm cúng giỗ Gia tiên cũng tuyệt đối không có thịt chó. Tra cứu các Giáo lý truyền kỳ mấy nghìn năm thì thịt chó là một trong các điều cấm kỵ của Đạo Thánh Mẫu Việt. Khi tra cứu về khảo sát Dân tộc học cũng như thư tịch cổ đều không rõ GS Trần Quốc Vượng căn cứ vào đâu để đưa ra nhận định như vậy? Sau này có nhiều báo chí, bài viết chỉ copy một cách vô thức, đã không đối chiếu khoa học cứ chép nguyên như vậy là một sai lầm tai hại.

Học giả Hoàng Xuân Hãn khi phát hiện sách cổ có ghi các món ăn xưa của người Việt được viết bằng chữ Nôm gọi là Cảo. Cảo ghi chép những món ăn cùng với cách làm các món ăn cách đây hơn 250 năm. Sách được viết vào khoảng đầu đời vua Cảnh Hưng nhà Lê (1744). Cảo ấy mang tên “Thực vật tất khảo tường kí lục”, nghĩa là “Sách ghi rõ những phép phải khảo khi làm các món ăn”. Nội dung sách cổ này không thấy đề cập gì đến món thịt chó. Theo Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia, hiện nay vẫn có 11 vùng lãnh thổ trên thế giới ăn thịt chó, bao gồm: Trung Quốc, Indonesia, Hàn Quốc, México, Philippines, Polynesia, Đài Loan, Việt Nam, Bắc Cực, Nam Cực, và Thụy Sĩ. Hy vọng trong tương lai gần sẽ tìm thêm được những ghi chép cổ sử về thời gian, nguyên nhân xuất hiện tục ăn thịt chó ở miền Bắc Việt Nam được ghi trong thư tịch cổ của người Việt, của Trung Quốc hoặc của các nhà truyền giáo phương Tây hiện lưu giữ tại các thư viện nước ngoài.

Đến đây, tôi nhận thức rằng: “Lịch sử Dân tộc Việt rất coi trọng con chó, vì thế căn cứ vào Sử liệu thì tục ăn thịt chó mới chỉ xuất hiện ở miền Bắc Việt Nam khoảng những năm 1780 thế kỷ XVIII, do một bộ phận người Hán ở phía Nam Trung Quốc chạy loạn đưa vào”. Vì thế, đề xuất cấm mua bán, chế biến, ăn thịt chó, mèo của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội là phục hồi truyền thống Nhân văn của Dân tộc Việt.

Hà Nội, ngày 12/9/2018

Vũ Ngọc Phương
(Chủ tịch Trung ương Hội Khoa học phát triển nguồn Nhân lực Nhân tài Việt Nam)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 517

Ý Kiến bạn đọc