Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Truyện “Kép Tư Bền”

 

Kép Tư Bền là truyện ngắn nổi tiếng của Nguyễn Công Hoan, được đương thời cũng như hậu thế đánh giá cao. Kép Tư Bền có một xuất xứ rất cảm động được chính Nguyễn Công Hoan thuật lại trong Đời viết văn của tôi, NXB Văn học. H.1971 và NXB Thanh niên in lại nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-2003).

Chuyện đáng nói là trong một số công trình nghiên cứu về Phạm Quỳnh gần đây, xuất xứ của Kép Tư Bền đã bị cắt xén, xuyên tạc. Xin trích dẫn một số để giúp cho bạn nghiên cứu có thêm tư liệu.

Trong cuốn Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc của tác giả Khúc Hà Linh, in ở NXB Thanh niên, lần đầu năm 2010. Tái bản năm 2012, đoạn về xuất xứ của Kép Tư Bền trang 120-121 như sau:

“Phạm Quỳnh mất năm 1945, sau đấy 26 năm nhà văn Nguyễn Công Hoan đã có lời chia sẻ: “… Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải vì danh. Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều Thượng thư Nam triều. Mà cũng chẳng phải vì lợi. Đơn cử làm chủ bút Nam Phong, Phạm Quỳnh được cấp 600 đồng một tháng. Món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ đổi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884 (nghĩa là Pháp chỉ đóng vai trò bảo hộ còn công việc trong nước thì để vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Trên thực tế Pháp đã lấn quá sâu vào nội bộ triều đình Huế – KHL). Vậy là một người yêu nước như Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua là một việc miễn cưỡng trái với ý mình để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng một người dân mất nước ai không đau đớn, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ ra được truyện Kép Tư Bền tả một anh kép nổi tiếng về bông lơn đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà lên sân khấu nhà hát làm trò cười ngay cái tối cha mình đang hấp hối” (Đời viết văn của tôi – NXB Văn học Hà Nội, năm 1971).

Trong khi chính nhà văn Nguyễn Công Hoan, ở cuốn Đời viết văn của tôi, NXB Văn học. H.1971, tức là khi nhà văn còn tại thế (từ trang 172 đến 174), viết:

“Ngày này, tôi dạy học ở trường phủ Kinh Môn, nhưng gia đình vẫn ở thị xã Hải Dương. Các con tôi còn nhỏ, cũng mới từ 5 đến 9 tuổi. Em ruột tôi là Nguyễn Công Mỹ làm nghề dạy tư ở Hải Phòng, chủ nhật nào cũng về Hải Dương thăm tôi. Chú hay đùa với các cháu, lại hay dạy các cháu hát, nên các cháu rất yêu chú, chỉ mong cho chóng đến chủ nhật để đi đón chú.

So-616--Anh-minh-hoa---Truyen-Kep-Tu-Ben---Anh-1

Ngày này, Mỹ có người vợ chưa cưới đương ốm nặng, nằm ở Cẩm Giàng. Được tin dữ, Mỹ về ngay Hải Dương từ tối thứ bảy, để sáng hôm sau đi Cẩm Giàng sớm. Mỹ nói chuyện với tôi về bệnh tình nguy kịch của người yêu, rất buồn và rất lo. Nhưng các cháu có biết đâu là chú đương như chết từng khúc ruột. Các cháu cứ bắt chú hát, và hát những bài vui để cười. Để chiều lòng các cháu, chú phải hát và làm trò cười, nhưng luôn luôn thở dài và nhăn nhó.

Tôi nhìn thấy cảnh bề ngoài cười nụ bề trong khóc thầm này, thì sực nghĩ đến Phạm Quỳnh. Tôi cho Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những người có chính kiến. Thấy ở nước ta, ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau, Nguyễn Văn Vĩnh mới chủ trương thuyết Trực trị. Người Pháp trực tiếp cai trị người Nam, như ở Nam kỳ, không phải qua vua quan người Nam, thì dân được hưởng nhiều chế độ rộng rãi hơn. Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết Lập hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884, chỉ đóng vai bảo hộ, còn công việc trong nước thì vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh. Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn biết mấy Thượng thư Nam triều. Cũng không phải vì lợi. Làm báo Nam Phong, Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan, chỉ là để rồi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều, đòi Pháp phải trở lại Hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị, chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, chứ thực lòng, là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ ra được truyện Kép Tư Bền, tả một anh kép hát nổi tiếng về bông lơn, đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả, mà ra sân khấu nhà hát làm trò cười, ngay cái tối cha anh đương hấp hối.

Có lạ gì trình độ chính trị của tôi thời này. Nếu tôi tinh khôn, thì tôi đã hiểu hai thuyết Trực trị và Lập hiến chẳng qua chỉ là thủ đoạn của bọn cướp nước bảo hai tên tay sai bày ra để lòe bịp, để ru ngủ người ta đương được chủ nghĩa cộng sản thức tỉnh.

Hôm ấy, tôi đương đau mắt nặng. Nhưng cốt truyện hay quá, tôi không thể chờ đến ngày tôi bình phục. Tôi phải viết ngay. Đợi lúc vợ con đã ngủ yên, vào khoảng mười giờ, tôi lẳng lặng dậy, thắp đèn, vặn nhỏ ngọn, che giấy bốn bên cho kín ánh sáng, rồi viết. Tôi viết xong, đọc để sửa, lại đọc lại để sửa lại. Lúc thật được vừa lòng, thì tôi nghe chuông đồng hồ điểm năm tiếng. Tôi nhìn ra ngoài, đã thấy mờ mờ sáng.

Hôm sau, hai mắt tôi sưng húp, đau nặng dần, tưởng đến mù.

Đỗ Văn đọc truyện Kép Tư Bền, thì phục quá, viết ngay giấy mời tôi lên Hà Nội chơi. Bấy giờ tôi mới biết không phải bộ ba xe pháo mã viết báo Nhật Tân. Tòa soạn có Tạ Đình Bính, Nguyễn Triệu Luật và Vũ Trọng Phụng. Tôi làm quen với Vũ Trọng Phụng, còn Nguyễn Triệu Luật là bạn cùng lớp với tôi năm 1919 ở trường Bưởi, rồi lại gặp nhau trong trường Nam Sư phạm”.

Nhân đây cũng xin chua thêm chuyện gia đình Phạm Quỳnh được Cụ Hồ tiếp. Tác giả Khúc Hà Linh viết (Sđd. Trg.128):

“Chiều hôm ấy, Phạm Khuê dự mít tinh về đến nhà, tay vẫn còn cầm cờ đỏ sao vàng, mới biết cha và anh rể vừa bị bắt.

Phạm Khuê lên tàu hỏa ra Hà Nội, báo tin chẳng lành. Cả nhà cùng bàn để hai chị lớn là Phạn Thị Giá và Phạm Thị Thức (là vợ Giáo sư Đặng Vũ Hỷ) xin lên gặp Cụ Hồ, mang theo thư do Phạm Khuê chấp bút, theo ý kiến của gia đình.

Phạm Thị Giá tìm gặp ông Hoàng Hữu Nam tức Phan Bôi, và hai bà được Hồ Chủ tịch tiếp từ 11 giờ trưa ngày 31-8-1945. Người hứa là sẽ cho tìm hiểu kỹ sự việc đã xảy ra.

Theo Vũ Đình Huỳnh, về sau này khi nghe chuyện về Phạm Quỳnh, Bác đăm chiêu suy nghĩ bảo: “Giết một học giả như vậy nhân dân ta được gì, cách mạng được gì. Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với cụ Phạm ở Pháp. Đó không phải là người xấu”. Cũng qua nhà thơ Huy Cận, Bác có nhắn lại gia đình là: “Cụ Phạm là người của lịch sử sẽ được lịch sử đánh giá lại. Con cháu cứ vững tâm đi theo cách mạng…”.

Sự việc này được bà Thức thuật lại trong một bức thư đề ngày 28-10-1992 gửi các em bên Pháp năm 1992. Trong thư có đoạn: “Tháng 8 năm 1945 thầy tôi ra đi!! Than ôi cả thầy me tôi và các con đều không có thể ngờ rằng thầy tôi ra đi mãi mãi!!! Chúng tôi khóc tưởng như có thể chết đi sống lại!! Sau đó, chị tôi (bà Phạm Thị Giá – KHL chú) và tôi nhờ một anh bạn là ông Vũ Đình Huỳnh ngày ấy làm garde corp (bảo vệ) cho Cụ Hồ, giới thiệu đến thăm Cụ và hỏi chuyện. Cụ bảo: “Hồi ấy tôi chưa về, và trong thời kỳ khởi nghĩa quá vội vã có thể có nhiều sai sót đáng tiếc!” và tôi nghe một bà bạn tôi là nữ sĩ Hằng Phương đến dâng Cụ ít cam và một bài thơ, nhân nói đến Thầy tôi, Cụ bảo: “Thật là đáng tiếc, dẫu sao cũng là một nhà văn học…”.

Tư liệu về Vũ Đình Huỳnh và Huy Cận là không có cơ sở. Chúng tôi đã nói nhiều lần về sự việc này.

Còn bản của tác giả Nguyễn Hải, ở trang 559-560, trong “Những người Thầy”. NXB Văn học. H.2016, viết:

“Sau cách mạng tháng 8-1945, khi hay tin sự cố đã xảy ra với Phạm Quỳnh, Hồ Chủ tịch đã gặp ngay đồng chí Hoàng Hữu Nam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ bàn việc cho người vào Huế đón bà quả phụ Lê Thị Vân (vợ của Phạm Quỳnh) và gia quyến ra Hà Nội. Khi ấy, Hồ Chủ tịch đã nói với Hoàng Hữu Nam và những người được giao việc này là: “Tôi đã từng gặp, giao tiếp với cụ Phạm ở Pháp. Đó không phải là người xấu”.

Khi bà Vân cùng các con đến nơi, Hồ Chủ tịch đã ân cần thăm hỏi. Người nói với bà Vân: “Bà ơi! Đã lỡ mất rồi!”. Sau đó Người đã dặn dò bà Vân cố gắng dạy dỗ con cháu, tích cực làm việc cho dân, cho nước.

Về khoản tài chính cho Nam Phong, tác giả Nguyễn Hải, trong “Những người Thầy”. NXB Văn học. H.2016, về khoản trợ cấp cho Nam Phong, ở trang 547, viết:

“Làm chủ bút một tờ báo do quan thầy Pháp chủ trương, hơn nữa lại nhận tài trợ của nhà cầm quyền Pháp (đầu tiên là 400 đồng, sau là 600 đồng Đông Dương). Có người nói Phạm Quỳnh làm báo Nam Phong được hưởng lương 600 đồng Đông Dương một tháng, cao gấp 3 lần lương một vị Thượng thư triều đình Huế. Thực ra, 600 đồng Đông Dương đó là để tài trợ cho tòa soạn chứ không cho riêng Phạm Quỳnh. Vì cùng với Phạm Quỳnh, trong tòa soạn còn nhiều người làm bỉnh bút, và trợ bút như: Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Bá Học, Đông Hồ, Nguyễn Mạnh Bổng và Nguyễn Bá Trác…”.

Nhưng Hồ Hữu Tường cho biết:

“Tôi tìm thấy những tập Nam Phong ở nhà một ông cậu tên là Lý Kim Thanh, tục gọi là “Ông Hội đồng Thanh”; vì là địa chủ giàu có và Hội đồng nên “bị” mua Nam Phong. Hồi đó mỗi làng đều “bị” mua một số; những vị Cai tổng, bang biện, hội đồng cũng buộc phải mua, nhiều người lấy tiền công nho (công quỹ) mà mua. Những số Nam Phong tôi thấy ở nhà ông cậu đều chưa được ai đọc cả, mấy chị dâu của tôi nói: “Thằng Thuộc (tên của tôi) mày cứ mang về mà đọc, nếu không thì mấy chị cũng sẽ dùng mà nhúm lửa hay là đưa vào cầu tiêu”. Do đó, tôi ôm Nam Phong về nhà đọc. Đọc nhưng chẳng hiểu gì, tuy thế vẫn đọc vì tò mò thấy có nhiều tiếng mới lạ, đọc cho hết những tiếng đó. Lớn lên, nghe những bậc đàn anh phê phán thái độ bênh Tây của nhóm Nam Phong, rồi chánh tôi cũng tự nhận ra như thế, nên không đọc nữa và cho đến bây giờ, tôi cũng không bao giờ đọc lại Nam Phong vì không thèm đọc, vì gớm ghét nó. Phải nói tôi dốt Nam Phong!

*
Lúc tôi còn thiếu niên, trong những buổi hội hè, ăn giỗ, tôi nhớ thỉnh thoảng một vài vị hương chức hội đồng có bàn về Nam Phong qua mục Văn uyển mà thôi.

Tại sao đọc Văn uyển? Miền Nam vẫn bị tiếng oan là đồng chua nước mặn không làm thơ văn và cũng không biết thưởng thức thơ văn. Phạm Quỳnh lúc vào Nam có nói chuyện ở Mỹ Tho đưa ra nhận định trên, nên đã bị đả kích kịch liệt. Thực ra sách văn chương quá ít, nên báo nào ra đời, dù là báo thực nghiệp, cũng có mục Văn uyển để đáp ứng nhu cầu thèm thơ văn, chính vì thế mà mấy người yêu văn thơ tìm đọc mục Văn uyển trong Nam Phong” (Hồ Hữu Tường trong Trường hợp Phạm Quỳnh. NXB Nam Sơn, Sài Gòn. 1974).

Một tờ tạp chí ra hàng tháng, phát hành đến các phú hào, ở làng xã, các công sở… đều “bị mua” thì bạn đọc sẽ hình dung được tình hình tài chính của nó mạnh đến như thế nào! Nghĩ đến An Nam tạp chí của Tản Đà mà cám cảnh thay!

Và chuyện tam sao thất bản không phải chỉ có ở thời xưa mà bây giờ xem ra còn nhiều hơn.

Hà Nội, tháng 10-2020

Vương Bảo Viên
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 616

Ý Kiến bạn đọc