Người tốt - Việc tốt

Trở về thành phố thân yêu trong mùa xuân đại thắng

Kỷ Niệm 47 Năm Giải Phóng Miền Nam – Thống Nhất Đất Nước (30/4/1975 – 30/4/2022)

 

1. Tôi đến Sài Gòn lúc mới 15 tuổi. Từ vùng quê miền Trung, chưa biết thành phố là gì, nhưng khi vào Sài Gòn thấy nhà cao cửa rộng, đường phố dăng dăng như bàn cờ, không có cảm giác choáng ngợp, lơ ngơ mà “hội nhập” khá nhanh. Vượt qua khó khăn ban đầu, với nghề bán báo dạo để có tiền nuôi thân, đi học; Sài Gòn nuôi tôi lớn lên, trưởng thành. Rồi tham gia công tác cách mạng, thoát ly ra vùng giải phóng đất Củ Chi, ngoại ô không bao xa trung tâm thành phố là mấy, nhưng chưa có lần nào trở về.

Là một học sinh tôi cũng như nhiều thanh niên khác ưa ca hát, thuộc một số bài hát của nhạc sĩ miền Nam. Ngày rời Sài Gòn vào vùng giải phóng, tôi một mình âm thầm ra bến xe đò đi Bình Dương để vào chiến khu, mang theo niềm phấn khởi ngân nga bài hát “Biệt Kinh Kỳ” của nhạc sĩ Minh Kỳ: “Bạn ơi, quan hà xin cạn chén ly bôi/Ngày mai tôi đã đã đi xa rồi… Người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên/Giã từ trường yêu với bao nhiêu bạn hiền/Có về là khi nước non vui bình yên… Ngày nao đất nước hết binh đao/Giữa đoàn hùng binh có tôi đi hàng đầu/Trở về thành đô nắm tay ta mừng nhau”… Tác giả dùng từ như vậy nên người bên cách mạng có thể hiểu là chính mình cũng được. Nếu là anh lính Cộng hòa thì sao phải đến ngày “đất nước hết binh đao” mới trở về thành đô? Chỉ có những người đi kháng chiến ngày chiến thắng trở về mới như thế.

Ra đi kháng chiến ai cũng mong ngày trở về trong đoàn “hùng binh” ấy, tôi cũng vậy.

Nhưng tôi không được vinh dự đó. Ngày 30/4/1975, tôi đang ở nước ngoài, không có mặt trong nước.

2. Một lần trên đường công tác, tôi bị lọt ổ phục kích, lính Mỹ bắt đưa đi giam ở Hố Nai (Biên Hòa) rồi Phú Quốc. Cuộc chiến đấu trong “nanh vuốt kẻ thù” này kéo dài hơn năm năm rưỡi. Cha ông ta có câu “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” rất đúng hoàn cảnh những người tù chúng tôi. Địch thường xuyên kiếm chuyện khủng bố, bắt tù tra tấn đánh đập vô cùng dã man, họ bắn cả đại liên vào trại giam sát hại một lúc hàng trăm người. Nhà tù của địch là thành trường học, nơi luyện rèn ý chí của người cách mạng, thành con người “thép”, vượt qua những tàn bạo, gian ác của quân thù.

Cuộc sống của người tù bị đối phương luôn tìm cách diệt sinh mệnh chính trị, kéo dài không có án như chúng tôi – bị đưa vào diện tù binh, chỉ kết thúc chiến tranh mới có ngày về – nhưng niềm tin cách mạng chiến thắng vẫn giữ vững, hy vọng vẫn nung nấu, tin tưởng cách mạng sẽ chiến thắng. Và ngày ấy đã đến khi địch buộc phải trao trả tù binh theo Hiệp định Paris 1973. Ngày 15/3/1973, tôi được trao trả tại sông Thạch Hãn, Quảng Trị, về an dưỡng, học tập tại T72 thuộc Ban Thống nhất đóng ở Sầm Sơn – Thanh Hóa. Nói sao hết niềm vui của những người mất “tự do” giờ được “sổ lồng” về với Đảng, với dân. Con sông Thạch Hãn, ranh giới giữa ta và địch lúc đó, bên bờ Nam của chế độ Sài Gòn tiêu điều, u hoài không một mái nhà, bóng cây. Bên kia bờ Bắc, khẩu hiệu, cờ MTDTGP, những căn nhà bạt dã chiến, những đoàn xe đang nối đuôi, những cán bộ đón tiếp đang chờ đón những người con từ ngục tù đế quốc trở về. Những bài ca cách mạng vang vang trên loa phóng thanh, làm nao nức lòng những người con yêu đang từ trên xà lan của địch nhảy xuống sông lội vào bờ với những vòng tay trìu mến của đồng chí đồng đội từ bờ Bắc chạy ra đón tiếp, ân tình tha thiết như người thân từng sống chết với nhau nay gặp lại. Tôi như được “tái sinh” từ cõi chết trở về của những người chiến thắng.

tapchi19--Tro-ve-thanh-pho-than-yeu-trong-mua-xuan-dai-thang
Nhân dân Sài Gòn đón chào quân Giải phóng chiếm phủ tổng thống ngụy, trưa 30/4/1975. (Ảnh tư liệu/TTXVN)

3. Sau thời gian an dưỡng, học tập, kiểm điểm thời gian bị địch bắt, chiến đấu trong tù, được Ban Bí thư Trung ương Đảng xét công nhận “Đảng tịch”. Qua Tết 1975, tổ chức cho tôi sang Quế Lâm (Trung Quốc) trị bệnh. Đây là bệnh viện bạn dành cho cán bộ trung cao cấp của Việt Nam sang an dưỡng, trị bệnh, kinh phí trích từ tiền viện trợ của họ dành cho Việt Nam. Lúc đó, tôi chưa đủ tiêu chuẩn nhưng được ưu tiên. Toàn bộ cán bộ y, bác sĩ, y tá, hộ lý… đều người Trung Quốc. Chỉ một bếp trưởng là người Việt để chỉ đạo nấu những món ăn hợp khẩu vị với bệnh nhân người Việt. Tôi đến bệnh viện chừng một tháng thì bên nhà diễn ra trận đánh vào Buôn Ma Thuột. Tuy ở nước ngoài nhưng tin tức cập nhật hàng ngày nhờ có nhiều anh em đem theo radio để theo dõi thời sự trong nước. Sau chiến thắng Tây Nguyên đến Trị – Thiên qua Đà Nẵng nhanh tới Phú Yên – Khánh Hòa. Khi quân Giải phóng vượt Phan Rang vào Long Khánh “cánh cửa thép” cuối cùng của chính quyền, quân đội Sài Gòn tan rã thì tin tức quân ta tiến vào Dinh Độc Lập bắt sống Tổng thống Dương Văn Minh cũng vang vang trên các làn sóng radio của bệnh nhân trong bệnh viện. Không khí vô cùng sôi động, từ bệnh nhân tới người phục vụ. Mới hơn 2 tháng ở bệnh viện, chưa hết thời gian tối thiểu dành cho mỗi người là 3 tháng, nhưng tôi không thể nào yên tâm ở lại trị bệnh nên xin xuất viện về Hà Nội để về Nam.

Ban Thống nhất cho tôi nhập đoàn cán bộ của T72 đang học tại Trường Nguyễn Ái Quốc 4, có vợ tôi học để cùng về Nam. Đoàn xe gần 20 chiếc tiếp nhận chúng tôi từ bờ Nam sông Lam sau khi đi tàu hỏa từ Hà Nội vào Vinh, qua phà Bến Thủy. Các bác tài rất giỏi, không xảy ra sự cố nào từ khi xuất phát cho tới đích tại Ban Đón tiếp của Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam lúc đó đóng gần khách sạn Đệ Nhất quận Tân Bình, đường Hoàng Văn Thụ ngày nay. “Tài sản” của tôi là một va ly sách và ảnh Bác Hồ mua ở Hà Nội đưa về Nam.

4. Cuối tháng 5/1975, về tới Sài Gòn, cái thành phố quá quen thuộc với tôi đã xa cách gần tròn 15 năm, nơi đây có nhiều người thân, họ hàng sinh sống từ những năm 1954 đến nay. Trong khi chờ tổ chức phân công về thành phố nhận công tác, tôi xin phép về thăm người chú và anh cô cậu ở quận 3 và quận 10. Những đường phố đang hiện trước mắt tôi, quá thân thuộc, so với trước kia giờ đây cũng không có gì thay đổi ngoài việc có thêm những dãy nhà cao tầng làm nơi ở của đội quân viễn chinh, còn người dân lao động của thành phố, xe cộ, đời sống không khác mấy so với khi tôi chưa ra chiến khu.

Những năm công tác trong chiến khu, người thân mấy lần vào thăm, cô tôi vào 3 lần tới khi tôi bị bắt mới đứt liên lạc. Suốt những năm trong nhà tù của địch, để giữ bí mật lý lịch tôi không viết thư về nhà. Ngày Sài Gòn giải phóng, từ Quế Lâm tôi gửi thư về Hà Nội để chuyển về Nam. Nhận được thư gia đình gửi ra Hà Nội, biết địa chỉ nên đi thẳng tới nhà mà không phải tìm kiếm. Lúc đó chú tôi đang làm chủ tịch phường, vì ông hoạt động bí mật tại thành phố. Mọi người vui mừng nhất là được nhận quà từ miền Bắc: Ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh (dệt bằng lụa).

Trở về Sài Gòn nơi ghi nhiều kỷ niệm một thời trai trẻ, khi ra đi hát bài “Biệt Kinh Kỳ”, nhưng giờ đây những bài hát cũ đó đã được thay thế bằng hàng trăm bài hát của Cách mạng, đã in đậm vào tâm trí tôi. Bởi tôi có chiếc radio chủ nhật nào cũng chép nhạc học hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Giải phóng. Ngay khi ở trong tù cũng học được nhiều bài hát mới như “Tiếng đàn Ta Lư” (tác giả Huy Thục), “Tiếng hát trên đường quê hương” (tác giả Lê Anh Chiến)… do anh em vào sau dạy lại, học cả dân ca miền Bắc như điệu Lới Lơ làm phong phú sự hưởng thụ âm nhạc của mình. Sài Gòn bây giờ đang rộn ràng niềm vui phấn khởi được giải phóng sau thời gian dài bị đế quốc xâm lược chiếm đóng. Bài hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui Đại thắng” (nhạc và lời Phạm Tuyên) khi từ Quế Lâm về Hà Nội đã nghe thật xúc động, giờ lại nghe hát giữa Sài Gòn thân thương làm tâm hồn tôi nhớ thương Bác vô cùng: “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng/Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng/Ba mươi năm đấu tranh giành trọn vẹn non sông/Ba mươi năm Dân chủ Cộng hòa kháng chiến đã thành công. Việt Nam Hồ Chí Minh, Việt Nam Hồ Chí Minh, Việt Nam Hồ Chí Minh”. Lời ca ấy đã len vào tâm hồn mọi người và ngân mãi tới hôm nay và mai sau.

5. Qua 47 năm sống làm việc thành phố, Sài Gòn đã vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, cộng với thời gian trước khi thoát ly đi kháng chiến, tôi có gần 60 năm làm công dân nơi này, được chứng kiến sự phát triển của thành phố Hồ Chí Minh thay da đổi thịt từng ngày. Nhớ những năm sau giải phóng đất nước ta bị chiến tranh tàn phá, địch thua tìm cách trả thù bằng cấm vận, cấu kết xúi giục gây chiến tranh biên giới, thời tiết không thuận mất mùa và cả sai lầm của ta trong chính sách phát triển kinh tế gây nên cảnh thiếu thốn vô cùng khó khăn cho đời sống nhân dân: phải ăn bo bo thay gạo, không có thuốc phải dùng xuyên tâm liên để trị bệnh, hàng hóa tiêu dùng khan hiếm… Nay tất cả mọi lĩnh vực – kinh tế, văn hóa, xã hội – đều lớn mạnh, mọi mặt thay đổi trên bước phát triển, cuộc sống người dân được cải thiện không ngừng; người đi xa trở về không thể hình dung. Những năm đầu sau giải phóng sân bay Tân Sơn Nhất lâu lâu mới có một chiếc hạ cất cánh, nay rất nhiều hãng hàng không trong ngoài nước đi đến tấp nập, một giờ có trên 40 chuyến, đang quá tải. Phương tiện đi lại đường bộ tiện lợi lịch sự không thua các nước trong khu vực. Các huyện ngoại thành như Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè cùng với các quận nội thành “lớn lên” đem sức sống mới cho thành phố. Ngày trước, mỗi quận – huyện chỉ có một chi nhánh ngân hàng nay có hàng chục chi nhánh các ngân hàng cổ phần đang tạo nguồn vốn cho việc phát triển kinh tế… Thành phố Hồ Chí Minh nơi đón nhận bao người con khắp các miền trên đất nước hình chữ S và cả người nước ngoài đến làm ăn sinh sống, tạo nên những giá trị mới, cuộc sống con người ngày càng cải thiện về vật chất và tinh thần, mang hạnh phúc đến với mọi người. Thành phố đang hướng cuộc sống con người thể hiện Văn minh, Nghĩa tình, nơi đáng được mọi người đến làm việc, sinh sống. Riêng với người nước ngoài, Inter Nations, một tổ chức kết nối người nước ngoài trên khắp thế giới, mới thăm dò năm 2016 đã xếp Việt Nam được người nước ngoài ở Việt Nam rất hài lòng về công việc của họ. Việt Nam được xếp thứ 11 trong số 67 nước được khảo sát, cao hơn những điểm đến nổi tiếng như Singapore (13), Thái Lan (18), Hàn Quốc (27) và Hồng Kông (44). Thái độ thân thiện của người Việt Nam là một trong những lý do giúp nhiều người nước ngoài thích nghi dễ dàng hơn” (1). Thành phố Hồ Chí Minh là một địa phương có nhiều người nước ngoài sinh sống, tất nhiên đã góp phần đáng kể vào kết quả ấy.

Những tiến bộ đó là nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự nghiệp Đổi mới đem lại hơn 30 năm nay, ngày càng to lớn hơn, đời sống nhân dân sẽ tiếp tục cải thiện, mang hạnh phúc cho mọi người hơn nữa trong tương lai.

Là người thành phố chúng ta vui mừng về sự lớn mạnh đó.

Mùa xuân mùa hy vọng của mỗi người. Chúng ta đang sống trong không khí thanh bình, mức độ khác nhau nhưng ai cũng tìm thấy niềm vui hạnh phúc cho mình trong không khí rộn rã mừng xuân. Có được điều hôm nay nhiều người con yêu của dân tộc đã phải hy sinh trong các cuộc chống ngoại xâm; nhờ sự lãnh đạo của Đảng, công lao của Bác Hồ suốt đời hy sinh lo cho dân cho nước. Đón chào xuân cũng là lúc chúng ta mừng Đảng, nhớ ơn Đảng, Bác Hồ kính yêu. Nhớ Người, là công dân thành phố vinh dự mang tên Bác, phải là những người chung tay xây dựng cho thành phố ngày càng phát triển như sinh thời Bác hằng mong muốn: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” (2).

Chủ trương Đổi mới của Đảng đã làm cho thành phố Hồ Chí Minh vốn đã năng động càng năng động thêm, phát triển kinh tế ổn định, làm nghĩa vụ ngày càng tăng, thực hiện đúng chỉ đạo của Trung ương: Thành phố Hồ Chí Minh “vì cả nước, cùng cả nước” xây dựng thành công kinh tế, văn hóa, xã hội, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh, nghĩa tình”.

Quá trình phát triển luôn có mặt tốt và khó tránh khỏi những mặt yếu kém phát sinh. Sự lãnh đạo sâu sát, Đảng kịp thời giải quyết những vấn đề không như ý, quan tâm đúng mực cuộc sống của người dân, lắng nghe tiếng nói xây dựng của họ để Ý Đảng – Lòng dân hòa hợp, tạo nên sức mạnh to lớn để thành phố tiến bước lên tầm cao mới trong tương lai…

Nguyễn Hải Phú
Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 19

————
(1) Bài của Tin Tức, báo Dân Việt online đăng lại.
(2) Lời Hồ Chủ tịch kêu gọi chống Mỹ, ngày 17/7/1966.

Ý Kiến bạn đọc