Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Trở lại chuyện Phạm Quỳnh

Những năm gần đây, với cái cớ phải “công bằng lịch sử”, “lấp khoảng trống”, “minh oan cho những nhân vật bị đối xử bất công”… một số cây bút, có cả những người làm công tác sử học nổi tiếng, đã bằng mọi cách gỡ tội cho những kẻ phản quốc hại dân đã bị phê phán từ lâu, bất chấp thực tế lịch sử. Có người còn lợi dụng lòng khoan dung, đại nhân, đại nghĩa của Bác Hồ để bảo vệ cho luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của họ.

Trong bài này, tôi chỉ nêu lên vài sự việc trên báo chí gần đây.Trước hết, về nhà sử học Đinh Xuân Lâm – vị giáo sư khả kính, nguyên là Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Khi hay tin Phạm Quỳnh bị xử chết ở Huế trong những ngày Cách mạng Tháng Tám 1945, giáo sư viết: “Cụ Phạm (tức Phạm Quỳnh) là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này” (báo Thanh Niên, 6-9-2012).

Tạp chí Hồn Việt, số 63, tháng 10-2012 hỏi giáo sư Đinh Xuân Lâm:

“Xin GS Đinh Xuân Lâm làm ơn cho biết xuất xứ câu nói đó của Bác Hồ. Nó được in ở đâu (Hồ Chí Minh toàn tập?) hay ở tư liệu nào, hay là do truyền ngôn bịa đặt. Chúng tôi đã phỏng vấn nhiều nhà nghiên cứu cận đại – hiện đại, họ đều nói không có câu đó, chỉ là bịa đặt, mà sau đó còn “vẽ rắn thêm chân”, còn tự ý thêm thắt vào mỗi người một ý… Nếu bịa đặt ra lời Bác Hồ là có tội, ngoài cái tội không trung thực khoa học khi trích dẫn (xin xem sau đây đoạn ông Đông Tùng, học ở Lớp huấn luyện Quảng Châu 1926, nói ý kiến của Nguyễn Ái Quốc về Phạm Quỳnh, hoàn toàn trái ngược với câu trên đây. Chúng tôi tin chắc rằng, Bác Hồ không bao giờ nói như thế!).

Đông Tùng (72 tuổi – khoảng trước 1975):

… Tháng 10 năm 1926, tôi trốn Pháp qua Quảng Châu (Tàu) thụ huấn chính trị với ông Nguyễn Ái Quốc. Trong lớp huấn luyện chính trị đó có loạt bài “chính sách độc ác của thực dân Pháp cai trị Đông Dương” (Pháp nhân cai trị Đông Dương chi ác sách).

Tới tiết mục Văn hóa: Sau khi trình bày về các sách về văn hóa của Pháp tại Đông Dương, ông Quốc có đề cập tới tạp chí Nam Phong. Ông cho rằng, Nam Phong là một cơ quan văn hóa của phòng chính trị phủ Toàn quyền Đông Dương mà Phạm Quỳnh là người thực hiện với một số phần tử phản bội như Nguyễn Bá Trác, Sở Cuồng Lê Dư… vì thế Nam Phong đương nhiên là một cái loa để quảng cáo cho cái chiêu bài “Văn minh khai hóa” của thực dân Pháp ở Đông Dương.

Thực tình mà nói: Các ý kiến của ông Quốc đưa ra trong lớp học tập chính trị tại Quảng Châu từ đầu năm 1927 như vừa kể trên vẫn chưa hoàn toàn làm tiêu tan mối thiện
cảm của chúng tôi đối với tạp chí Nam Phong.

Nhưng từ khi các chính đảng ra đời như: Việt Nam Quốc dân đảng, Tân Việt cách mạng đảng, Hội kín Nguyễn An Ninh, không có một chính đảng nào là không công kích lên án tạp chí Nam Phong và ông Phạm Quỳnh, ngoại trừ có khuynh hướng như kiểu họ Phạm.

Xét cho cùng, người ta công kích rất đúng”.

(Trích theo Nguyễn Văn Trung, trong “Trường hợp Phạm Quỳnh” – tủ sách Tìm về dân tộc – Nam Sơn, Sài Gòn – 1975)

Bốn năm liền, từ cuối năm 2012 đến trước khi qua đời, ngày 25-1-2017, GS. Đinh Xuân Lâm đã không trả lời nổi câu hỏi của tạp chí Hồn Việt.

Ấy thế mà, đến đầu tháng 2-2017, trên kênh truyền hình VTV 6, ông Lại Văn Sâm hết lời ca ngợi Phạm Quỳnh là người yêu nước đến tận cùng, người của lịch sử, là bạn của nước Pháp… Rất nhiều tài liệu, sách báo ở nước ta đã vạch trần bộ mặt Phạm Quỳnh làm tay sai đắc lực cho thực dân Pháp cho đến tận cùng. Mới đây, sau lời ông Lại Văn Sâm trên truyền hình, báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh đã có bài đáp lại trên số 438, ra ngày 23-2-2017 với rất nhiều dẫn chứng cụ thể. Chỉ xin nhắc lại một đoạn ngắn đã đăng trên báo:

“… Năm 1931, dưới chiêu bài gửi thư cho Tổng trưởng thuộc địa Pháp “xin lại Tổ quốc đã mất”, Phạm Quỳnh bày tỏ tư tưởng nô lệ, lòng trung thành với nước Pháp như thế này:

“Người nước Nam không phải thể hiện ồn ào lòng trung thành của họ đối với nước Pháp. Chỉ cần họ chấp nhận sự đô hộ của nước Pháp. Yêu cầu họ phấn khởi chấp nhận điều đó như một ân huệ của Chúa hay một ân huệ Thiên Hựu, tới mức khiến họ quên rằng họ đã từng có một Tổ quốc và không còn nuối tiếc Tổ quốc ấy nữa”.

Anhminh-hoa---Tro-lai-chuyen-Pham-Quynh

Không phải chỉ là “bạn của nước Pháp” như ông Lại Văn Sâm tán tụng, mà còn là một đầy tớ trung thành.

Bằng mọi cách, một số người thổi phồng “lòng yêu nước thương nòi” của ông Phạm Quỳnh như một quả bóng.

Mới đây, báo Tinh Hoa Việt số 47, giữa tháng 3-2017, đăng bài “Một mối thân tình” kể chuyện “ít biết về quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc với học giả Phạm Quỳnh” của Sơn Tùng.
Ông Sơn Tùng thuật lại lời cụ Vũ Đình Huỳnh kể:

“Chiều hôm ấy, Hồ Chủ tịch làm việc với ông Tôn Quang Phiệt tại đây (số 8 phố Lê Thái Tổ). Chính trong buổi làm việc này, ông Tôn Quang Phiệt báo với Hồ Chủ tịch: “cụ Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi”. Bác thu hai cánh tay vào sát ngực tựa lên mặt bàn, lặng ngắt một lúc… Người duỗi hai tay ra mặt bàn: “Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với cụ Phạm ở Pháp… Đó không phải là người xấu”.

Không biết ông Sơn Tùng ghi có đúng lời kể của ông Vũ Đình Huỳnh hay không. Có điều nói là Cụ Hồ nói là Phạm Quỳnh “không phải là người xấu” thì không thể tin được. Phải chăng đó cũng là cách mà nhà sử học Đinh Xuân Lâm đã làm?

Chẳng lẽ Nguyễn Ái Quốc khi giảng bài về chính trị ở Quảng Châu năm 1926 “đã cho rằng Nam Phong là một cơ quan văn hóa của phòng chính trị phủ Toàn quyền Đông Dương mà Phạm Quỳnh là người thực hiện với một số phần tử phản bội như Nguyễn Bá Trác, Sở Cuồng Lê Dư”… (chúng tôi đã dẫn ở phần trên) lại nói Phạm Quỳnh không phải là người xấu ngay những ngày Cách mạng Tháng Tám bùng nổ năm 1945?

Những việc làm phản dân hại nước của Phạm Quỳnh từ khi làm báo Nam Phong do tên trùm mật thám Pháp Marty điều khiển cho đến 12 năm làm thượng thư cuối triều Nguyễn đã bị các nhà cách mạng, những chí sỹ yêu nước, những nhà trí thức chân chính nổi tiếng phê phán, vạch trần, lên án đầy dãy trên các báo trong nước.

Xin trích vài bài ngắn gọn:

Cụ Huỳnh Thúc Kháng làm bài thơ Ông Táo ám chỉ Phạm Quỳnh:

Cục đất ngày xưa nó thế nào
Nay thành ông Táo chức quyền cao
Khéo mang mặt nhọ vênh vang thế
Chẳng khổ lưng còm
khúm núm sao? (1)
Ba bữa giữa ngày cho địa chủ
Quanh năm kiếm chuyện mách Thiên Tào (2)
Một mai đất lại hoàn ra đất
Cái đãy xôi chè giá đáng bao!

Bảo Đại, ông vua cuối cùng của triều Nguyễn viết trong hồi ký Con rồng An Nam (Nguyễn Phước tộc xuất bản, 1990) như sau:

“… Tôi đóng vai trò bình phong, làm phỗng đá để cho các quan lại của họ (Pháp) tha hồ làm mưa làm gió. Họ cũng đặt ở các địa vị then chốt những bọn tay sai dễ bảo, bọn trung thành tuyệt đối. Họ đặt Phạm Quỳnh cạnh tôi, như vậy là họ được bảo đảm rồi”.

Nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện viết trong sách “Việt Nam – một thiên lịch sử (NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 2007) như sau: “Vua Bảo Đại sống ở Pháp được đưa về Huế để cải cách nền quân chủ. Người ta (Pháp) bố trí cho ông ta một công chức trung thành với chính quyền thực dân Pháp là ông Phạm Quỳnh giữ chức Ngự tiền Văn phòng”…

Giáo sư Nguyễn Văn Trung viết Trường hợp Phạm Quỳnh (tủ sách Tìm về dân tộc, Nam Sơn, Sài Gòn, 1975) dẫn ý kiến của bác sỹ Trần Đình Nam, Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong chính phủ Trần Trọng Kim nói về Phạm Quỳnh như sau:

… “Sau đảo chính 9-3-1945, khi tiếp thu Bộ Lại của ông Phạm Quỳnh, cụ thấy một tủ sách niêm phong kỹ của viên cố vấn chánh trị người Pháp, cụ ra lệnh mở ra và đã đọc những tài liệu ghi các việc người Pháp chỉ thị cho Phạm Quỳnh thi hành và họ đã dùng những chữ rất khinh bỉ để gọi Phạm Quỳnh như một tay sai dễ bảo, trung thành. Cụ không muốn nói rõ những chữ đó là gì, cũng không muốn kể lại những việc Pháp ra lệnh cho Phạm Quỳnh làm là những việc gì, nhưng cụ có nói một câu để tóm lược tất cả: đó là những việc làm của một người phản quốc. Thế là đủ hiểu và cụ nói tiếp từ đó tôi hoàn toàn thất vọng và khinh Phạm Quỳnh”.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh thừa biết tư tưởng và hành động của Phạm Quỳnh.

Điều rất rõ là lòng bao dung như biển cả của Cụ Hồ đã thể hiện rực rỡ trong việc đối nhân xử thế, đặc biệt là từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, chính quyền về tay nhân dân. Người đã dang rộng hai tay thu nạp tất cả mọi người, tạo điều kiện cho mọi người đem tài sức phục vụ nhân dân, đất nước, không kể quá khứ của bất cứ ai, dù là những người mà tội lỗi của họ đối với Tổ quốc đã rành rành. Với tư cách Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thành lập, Cụ đã gửi thư mời những nhân sỹ, trí thức, công chức, quan lại, có cả các vị đại thần của triều đình phong kiến, hợp tác với chính quyền cách mạng.

Nhiều người đã thành thật đi với Cách mạng, có đóng góp xứng đáng. Nhưng cũng có kẻ đi một đoạn ngắn rồi quay lưng, làm tay sai cho giặc ngoại xâm chống lại Tổ quốc.

Trường hợp ông Bảo Đại là rất tiêu biểu. Làm vua bù nhìn cho Pháp rồi đến Nhật. Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông bị buộc phải thoái vị. Cụ Hồ mời ông làm cố vấn, đối xử hết sức tử tế. Chính bà Từ Cung, mẹ ông, đã kể với ông Phạm Khắc Hòe là ông Vĩnh Thụy đã “viết thư khoe với mẹ rằng ông được “Cụ Hồ thương như con” (hồi ký Phạm Khắc Hòe). Ấy thế mà nửa năm sau, giữa tháng 3-1946, nhân chuyến đi thăm thân thiện sang Trung Quốc (thời này do Tưởng Giới Thạch cầm quyền) đến ngày về, ông đào ngũ, ở lại Trùng Khánh, xuống Hồng Kông rồi trở về Sài Gòn, tiếp tục cuộc đời là tay sai cho bọn xâm lược Pháp với danh nghĩa “Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam” cho đến lúc bị Ngô Đình Diệm lật đổ, sống lưu vong ở Pháp cho đến hết đời!

Trở lại chuyện Phạm Quỳnh. Có người nói: Nếu Phạm Quỳnh không bị xử trong Cách mạng ở Huế thì ông ta sẽ như cụ này cụ nọ, có ích cho cách mạng. Không hẳn như thế. Điều này phụ thuộc nhiều vào phẩm chất của từng người. Cách mạng đã chìa tay ra với Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, đặt họ vào các vị trí quan trọng: Phó Chủ tịch nước, Bộ trưởng Ngoại giao… nhưng họ có đi theo con đường phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc đâu. Ngô Đình Diệm bị bắt ở Tuy Hòa (Phú Yên) sau ngày Cách mạng Tháng Tám, đưa ra Hà Nội, được Bác Hồ ra lệnh thả. Trần Trọng Kim, thủ tướng chính phủ bù nhìn do phát xít Nhật lập ra, tội trạng rất to nhưng ông được Cách mạng đối xử hết sức nhân đạo, phát lương cho ông ăn trong lúc ông túng bấn (xem Hồi ký Một cơn gió bụi của Trần Trọng Kim), nhưng ông được tự do thoải mái bám đuôi quân Tưởng Giới Thạch đi sang Trung Quốc, cuối cùng là về Sài Gòn sống trong hang ổ của thực dân Pháp, chờ mong, chầu chực thực dân Pháp sử dụng nhưng không được, thất vọng lên Đà Lạt ở ẩn!

Phạm Quỳnh là con người tráo trở. Một đời tận trung phục vụ thực dân Pháp. Pháp bị Nhật lật đổ lập tức hăng hái “chống Pháp”, sẵn sàng làm tay sai cho Nhật. Ông Bảo Đại tạm cử Phạm Quỳnh là người thay mặt chính phủ Việt Nam độc lập để giao thiệp với Nhật. Ông Phạm Khắc Hòe, Tổng lý Ngự triều Văn phòng của triều đình, nói toạc với ông Bảo Đại rằng: “Phạm Quỳnh là một người xấu, bị mọi tầng lớp nhân dân oán ghét và giới trí thức khinh bỉ… cho nên nếu nhà vua thực tâm vì dân, vì nước thì không nên dùng Phạm Quỳnh nữa”. Cụ Bùi Bằng Đoàn và cụ Ưng Úy là hai vị thượng thư tương đối có uy tín trong Hội đồng Cơ mật và trong quan trường nói chung đều nói với ông Phạm Khắc Hòe là “cần làm cho nhà vua thấy rõ bản chất xấu xa và nguy hiểm của Phạm Quỳnh”. Nhưng Phạm Quỳnh vẫn được “tạm dùng”. Trong cuộc họp Hội nghị Cơ mật sau ngày Nhật đảo chính, Phạm Quỳnh đọc “Tuyên bố nền độc lập của nước Việt Nam” do ông dự thảo trong đó có ba ý chính: một là tuyên bố nước Việt Nam độc lập, hai là xóa bỏ các hiệp ước đã ký với Pháp, ba là Chính phủ Việt Nam độc lập sẽ hợp tác thân thiện với chính phủ Đại Nhật Bản để cùng nhau xây dựng khối thịnh vượng chung Đại Đông Á”. Nhờ ơn quân đội Thiên Hoàng nước nhà đã được giải phóng” (Hồi ký Phạm Khắc Hòe).

Dù đã bày tỏ lòng trung thành với chủ mới như vậy, phát xít Nhật không dại gì dùng một con người xấu xa bị phỉ nhổ nhẵn mặt như Phạm Quỳnh. Nhật dùng Trần Trọng Kim, một con bài được họ chuẩn bị từ nhiều năm trước. Phạm Quỳnh đành chịu phận về nhà ngồi viết tùy bút, dịch thơ Đường.

Cách mạng Tháng Tám bùng nổ ở Huế ngày 23-8 với cuộc biểu tình có 5 vạn người tham gia. Phạm Quỳnh vẫn được bình yên. Nhưng sau đó, có tin là thực dân Pháp tìm cách bắt liên lạc với Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh để đánh chiếm Huế, thiết lập lại chế độ do Pháp thống trị miền Trung Việt Nam. Có lệnh bắt khẩn cấp Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh đem giam ở lao Thừa Phủ, tiếp theo là đưa ra Hà Nội. Khi xe chạy ra khỏi Huế vài chục kilômét thì thấy có xe nhà binh Nhật đuổi theo cho nên xe chở hai ông Khôi, Quỳnh và người con ông Khôi là Ngô Đình Huân lập tức rời quốc lộ rẽ vào rừng cây, mất hút. Xe Nhật quay về. Những người bị bắt được giao cho chính quyền huyện Phong Điền canh giữ.

Ngày 25-8, một toán lính Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ, cách Huế 25 kilômét về phía Bắc. Toán nhảy dù này có 6 tên sỹ quan Pháp do tên quan tư Ca-xten-la cầm đầu. Chúng tự xưng là “phái bộ Đồng minh”! Chúng chiếm đóng nhà dân và canh gác cẩn mật. Hằng ngày dùng điện đài để liên lạc với căn cứ ở Xri Lan-ca và tìm mọi cách bắt liên lạc với Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh là hai đại thần triều Nguyễn nổi tiếng trung thành với thực dân Pháp. Tình hình cực kỳ nguy hiểm và khẩn trương: Ta bố trí bắt gọn toán quân này, lục soát, tịch thu vũ khí địch, tài liệu, quân trang, quân dụng, gồm có: 6 khẩu súng Các-bin Mỹ, 6 khẩu súng ngắn Bơ-rao-ninh, 2 điện đài, 2 máy ra-gô-nô phát điện, 6 túi cá nhân đựng rất nhiều quân trang, dù, lựu đạn, đạn dược, bánh mì, đồ hộp, thuốc men, bạc nén, tiền Đông Dương, 6 cặp sĩ quan đựng bút giấy, tài liệu, đồng hồ, la bàn và rất nhiều bản đồ in trên lụa rất có giá trị.

Trong cặp của tên quan tư Ca-xten-la có bản mật lệnh của tướng Đờ Gôn (De Gaulle), của Trung tâm tiền phương sở chỉ huy của quân viễn chinh Pháp ở Xri Lan-ca. Bản mật lệnh của Đờ Gôn ghi rõ:

Mật lệnh.

Quan tư Ca-xten-la có nhiệm vụ bắt liên lạc với Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, với các lực lượng Pháp ở hải ngoại (FFE) và các lực lượng Pháp nội địa (FFI) để tổ chức chiếm lĩnh các công sở và thành lập chính quyền thuộc địa ở miền Trung Việt Nam.

Tất cả các FFE và FFI đều phải đặt dưới quyền của quan tư Ca-xten-la.

Toàn bộ tài liệu chứng minh rất rõ là toán sĩ quan và hạ sĩ quan nhảy dù xuống Hiền Sĩ không phải là một phái bộ của quân Đồng Minh mà là một phái đoàn quân sự Pháp do Đờ Gôn sử dụng để tìm cách lập lại chính quyền thuộc địa ở miền Trung.

Đồng chí Đặng Văn Việt, tham gia lực lượng đi bắt toán quân Pháp, sau này là nhà cầm quân nổi tiếng ở mặt trận đường 4, năm 1950, viết trong hồi ký “Hạ cờ triều đình Huế” (NXB Hội Nhà văn, 2015) như sau:

“Không nghi ngờ gì nữa – cái phái bộ Đồng Minh nhảy xuống Hiền Sĩ thực chất là một phái bộ thực dân được De Gaulle phái sang để chiếm lại miền Trung, nếu ta chậm 1 – 2 ngày, Castella sẽ bắt liên lạc được với Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Bảo Đại, chỉ trong một đêm, 500 thực dân Pháp đang bị giam ở trường Providence, cộng với lính khố xanh, khố đỏ, khố vàng, với những mật thám cảnh sát cũ còn nguyên vẹn, chúng sẽ đủ sức chiếm lại toàn bộ Kinh đô Huế. Rồi sẽ không có việc Bảo Đại thoái vị, không có lễ nhận ấn tín, không có việc Vĩnh Thụy ra Hà Nội làm cố vấn Chính phủ, mà Huế sẽ lại là Thủ đô của cả nước lúc bấy giờ. Nếu những việc ấy xảy ra, sẽ đều ảnh hưởng đến toàn quốc, Cách mạng sẽ không lường hết sự phải trả giá, xương sẽ chất thành núi, máu sẽ nhuộm đỏ nước sông Hương, cây cỏ trên núi Ngự Bình sẽ xơ xác trong tro bụi?!”.

Tình hình nước sôi lửa bỏng trên dẫn đến cái chết của Phạm Quỳnh không còn là khó hiểu, oan khuất.

Sau cái chết của Phạm Quỳnh, giáo sư Phan Văn Dật, Đại học Huế nói: “Theo tôi, qua những hành động bất nhất của Phạm Quỳnh như lúc đầu thì chửi Nam triều, rồi sau lại ca ngợi, qua Pháp ghi vào sổ vàng ở Marseille, ông đã chế nhạo vua Khải Định. Phạm Quỳnh là người có tài học nhưng không có thái độ trí thức” (Theo Nguyễn Văn Trung, đã dẫn).

Như trên đã nói, bác sỹ Trần Đình Nam rất coi khinh Phạm Quỳnh. Khi làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Chính phủ Trần Trọng Kim, ông nói với ông Phạm Khắc Hòe là ông định bắt Phạm Quỳnh vì “Bộ Nội vụ đã có nhiều chứng cớ không những về tội ác của Phạm Quỳnh trong thời thuộc Pháp mà còn cả về âm mưu của nó hiện đang lo lót, chạy vạy với Nhật để hòng lên nắm quyền, làm tay sai cho Nhật”.

Ông Phạm Khắc Hòe nói: “Tôi không có thù oán cá nhân gì với Phạm Quỳnh và tôi nghĩ rằng nếu hắn có tội, thì sẽ bị nhân dân trừng trị. Khi nghĩ như vậy, tôi không ngờ rằng chỉ khoảng một tháng sau, Phạm Quỳnh đã bị đền tội trước nhân dân” (Hồi ký đã dẫn).

Những người cố tình ca ngợi giải oan cho ông không phải hoàn toàn không biết gì về những việc làm phản dân hại nước của Phạm Quỳnh. Nhưng họ có mưu toan xét lại lịch sử với chủ đích sâu xa. Không những đối với Phạm Quỳnh mà còn đối cả với những kẻ nổi tiếng đầu hàng, phản bội, làm tay sai cho giặc ngoại xâm như Hoàng Cao Khải, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký… họ vẫn dốc sức đề cao, bào chữa bằng mọi cách kể cả bịa đặt chứng cớ, xuyên tạc sự thật.

Đặng Minh Phương
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 447

——————————-
(1) Phạm Quỳnh lưng hơi còng.
(2) Hay dò xét trí thức để báo cáo với thực dân Pháp.

Ý Kiến bạn đọc