XEM BÁO GIẤY
Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Triết học và đạo đức từ nhà tù Côn Đảo

Sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ lý tưởng, giữ gìn khí tiết, bảo vệ cách mạng là sự vĩ đại thứ nhất của những người tù Côn Đảo ở địa ngục Côn Đảo. Chịu đựng mọi đau khổ, mọi gian khó, luôn luôn giữ vững tinh thần đấu tranh, tổ chức đấu tranh thay đổi hoàn cảnh… là sự vĩ đại thứ hai của những chiến sĩ cách mạng ở đây.

Thực dân Pháp và sau này là Mỹ – Ngụy dùng nhà tù để giết dần những người cách mạng. Không thể chém đầu hàng loạt được vì nền thống trị thực dân cần phải lừa bịp về chính trị, vì vậy nhà tù là công cụ khủng bố chủ yếu của chúng. Không giết được hàng loạt ngay một lúc thì giết dần, giết mòn… Tên thực dân khét tiếng Patkie đã nói: “Không diệt hết cộng sản thì Patkie này sẽ không nhìn thấy sông Sen”. Ý nói sẽ không trở về Pháp (Sđd. Tr. 86).

Từ ăn, ở, làm việc, người tù bị hành hạ, đày đọa cho đến chết.

“Bữa ăn của tù nhân cũng là cảnh cực hình. Cơm gạo hẩm và lẫn nhiều thóc sạn, ăn ráp cả miệng. Cá khô mục đắng và mặn chát. Chỉ có 5 phút cho việc ăn và uống. Trong lúc các khám khác chúng bắt ăn cơm nguội, uống nước lạnh thì kíp này (đoàn chiến sĩ Cô Tô) lại phải ăn cơm nóng và uống nước sôi. Họ đã phải làm cật lực, đẫm mồ hôi dưới nắng hè tháng 7, chịu khát cháy cổ. Vậy mà đến bữa ăn, chúng lại đổ nước sôi vào khạp và bắt ăn uống trong mấy phút. Họ vây quanh khạp nước bốc hơi ngùn ngụt nên không thể nào uống được. Có tù nhân đã chết khát một cách thương tâm. Anh Quý bị đánh đập nhiều nên sức cùng lực kiệt. Không chịu được cách hành hạ trong bữa ăn như vậy, anh đành chịu khát vào khám. Đêm ấy khát quá, anh thều thào bảo Nguyễn Văn Bảy, người bạn tù nằm cạnh, đái cho uống. Nhưng Bảy cũng đang khát khô họng, chẳng có được giọt nước tiểu nào. Cả hai đều thiếp đi… Sáng ra, anh Quý đã chết khô cứng trong còng” (Lịch sử nhà tù Côn Đảo… Sđd. Tr. 228-229).

Bắt làm khổ sai là hình thức hành hạ tù nhân: “Một kíp tù nhân phải đầm chà láng từ khu sà lim cuối sân dọc theo dãy khám 10-9-8-7-6. Đầm láng sân trước, chúng bắt xới sân sau lên đầm lại, cốt để hành hạ tù nhân chứ không phải là công việc khổ sai thuần túy. Đầm nặng 7 kg, 70 con người phải đầm theo một nhịp. Chệch choạc là ăn đòn. Đầm đi đầm lại. Ngày này qua ngày khác. Chà láng xong rồi lại xới lên, tưới nước, đầm lại. Không ai có thể tính được mỗi thước sân nhà lao đã thấm bao nhiêu mồ hôi và máu của tù nhân” (Nhà tù… Sđd. Tr. 228).

“Mỗi suất khổ sai ngoài đảo nhiều gấp 3 đến 4 lần mức lao động bình thường. Làm khổ sai ở sở nào cũng có thể chết người vì mức lao động quá cao, vì công việc làm nguy hiểm, vì điều kiện lao động khắc nghiệt… vì lam sơn chướng khí, vì đòn roi hiểm ác của cai ngục… Người tù có khi chết vì sơ ý, tạo thời cơ cho cai ngục lĩnh thưởng (Bọn gác ngục có quyền giết người tù với cái cớ là người tù “tìm cách vượt ngục”. Chỉ cần hạ thủ người tù, cắt tai trình quản đốc là được lĩnh 10 đồng bạc tiền thưởng. Nhiều ma tà thấy người tù khờ khạo nào đó, sai đi bứt lá bứa, lấy rau rừng, người tù vừa chạy đi thì chúng bắn chết, xẻo tai, đem về lĩnh thưởng). (Sđd. Tr. 58)

Đi đốn củi, dọn tàu, đập đá, làm đường, lấy san hô, đốn gỗ, xay lúa… đều bị hành hạ tàn bạo. Nhiều người không chịu đựng được, đã tự tử: “Đằng nào cũng chết! Nhiều người chọn cái chết chóng vánh: tự tử! Có người đã thắt cổ tự tử trên cành cây ngang lối thường đi của chúa đảo. Có người trèo sẵn trên cây, đợi “Ông Lớn” đi qua, nhảy bổ từ trên cao xuống, đâm đầu vào đống đá hộc cho tan sọ… Năm 1934, có 4 đảng viên Quốc dân đảng, vì không chịu nổi chế độ hà khắc của nhà tù đã làm như vậy. Người tự tử trước mặt chúa đảo Buviê là anh Bươu (quê ở Phú Thọ). Nhưng đến cả cái chết thương tâm như vậy cũng không làm tên chúa đảo mủi lòng: – Thêm một thằng hay bớt một thằng cũng chẳng sao! (Sđd. Tr. 65-66).

Lao động khổ sai như thế, người tù còn bị đàn áp một cách tàn khốc.

“Toàn bộ cuộc sống ở nhà tù được tổ chức để trừng trị người tù. Những hình thức kỷ luật nội bộ nhà tù là những biện pháp đàn áp, buộc người tù phải tuyệt đối tuân thủ… nghĩa là buộc họ phải chấp nhận tình trạng chết dần chết mòn trong nhà ngục.

Những biện pháp đàn áp người tù là: đánh đập tra tấn, nhốt trong khám, trong xà lim, trong hầm tối, trong những khu biệt giam, bắt lao động cực kỳ nặng nhọc ở khu Hầm xay lúa, Sở củi…

Xiềng đơn, xiềng kép, xiềng hai người làm một, cùm một chân, cùm hai chân, ăn cơm nhạt, uống nước lã, bắt nhịn đói… là những hình phạt thường được dùng kèm trong khi sử dụng những biện pháp đàn áp nói trên. Đã là nhà tù đế quốc thì bất cứ đâu, Sơn La, Hỏa Lò (Hà Nội), Khám Lớn (Sài Gòn), Kontum hay Côn Đảo… đều là những địa ngục trần gian đối với những người tù chính trị, những người cộng sản Việt Nam…

Cưỡng bức khổ sai ở Hầm xay lúa là hình thức cuối cùng trong danh mục các biện pháp trấn áp ghi trong qui chế nhà tù Côn Đảo và cũng không nhà tù nào ở Đông Dương xưa kia có hình thức đày đọa người tù giống như vậy (Lịch sử nhà tù… Sđd. Tr. 66-67-68).

… “Hầm xay lúa vừa là một hình thức khổ sai để tận dụng lao động của tù nhân, vừa được cấu tạo một cách đặc biệt để đày đọa người tù và trở thành một hình phạt khủng khiếp, địch gọi là khu trừng giới (quartier diciplinaire).

Trực tiếp điều hành trong Hầm xay lúa là một cặp rằng chính và 4 cặp rằng phụ, do sếp banh chỉ định trong số tù lưu manh loại “anh chị” (thủ đoạn lấy tù trị tù).

Từ 5 giờ sáng đến 5 giờ chiều, Hầm xay lúa chật chội, ầm ĩ, bụi bặm, oi bức, ngột ngạt. Hơn 100 người tù bị xiềng xích, 200 bao thóc chất đống,

5 cối xay và 2 quạt gió đồ sộ chen chúc nhau trong một căn hầm rộng chừng 150m2…

… Khác với các Sở tù khổ sai, bọn lưu manh trong Hầm xay lúa được toàn quyền hành hạ người tù, chúng hung dữ như một bầy quỷ sứ… Bị áp bức đến cùng cực, tù nhân hầm xay lúa trở nên hung bạo, thỉnh thoảng họ lại đập chết những tên cặp rằng hung ác.

Đồng chí Tôn Đức Thắng vào Hầm xay lúa được ít hôm thì cặp rằng Bảy Tốt bị hai người tù thường phạm đập vỡ sọ bằng một khúc gỗ lim. Âm mưu dùng tay bọn tù lưu manh để sát hại đồng chí, sếp banh chỉ định ngay Tôn Đức Thắng làm cặp rằng chính. Hiểu được ý đồ thâm độc này, một số đồng chí cộng sản cũng bị đày ở Hầm xay lúa lúc ấy, bàn với Tôn Đức Thắng nên nhân dịp này nắm quyền lực để cải tạo chế độ Hầm xay lúa… (Sđd. Tr. 97-98).

Và người tù cộng sản Tôn Đức Thắng cùng các đồng chí khác đã cải tạo được Hầm xay lúa:

“Lần đầu tiên những công việc ở Hầm xay lúa được tổ chức lại. Tất cả mọi người đều làm việc. Những người yếu được bố trí vào kíp sàng gạo và đóng bao, người khỏe thì xay lúa và khuân vác thóc. Kíp đứng cối nặng nhọc nhất được bố trí thêm người, thay nhau người làm người nghỉ” (Sđd. Tr. 98).

Từ khi có nhà tù Côn Đảo (1862) cho đến 1930, liên tục có các cuộc nổi dậy của tù nhân nhưng đều là tự phát. Có cuộc bị đàn áp đẫm máu như năm 1918 và 1919. Gần 100 tù nhân bị bắn chết. Cụ Huỳnh Thúc Kháng trong đám tù nhân đi làm ở Sở ruộng kể lại: “Về đến banh, vào trong sân thì thấy xác chết nằm ngổng ngang, máu chảy thành đống, mắt không dám ngó” (Thi tù tùng thoại).

(Lịch sử nhà tù Côn Đảo… Sđd. Tr. 79)

Chỉ khi những người tù cộng sản ra đảo, tình hình mới thay đổi.

“Tổ chức và đấu tranh là vũ khí sắc bén của người cộng sản. Sống là tranh đấu. Ở nhà ngục Côn Đảo muốn sống càng phải tranh đấu”.

Bất cứ ở đâu và trong hoàn cảnh nào người cộng sản cũng phải không ngừng hoạt động cách mạng: nơi nào có người cộng sản là ở đó cần có tổ chức Đảng để giáo dục đảng viên, giác ngộ quần chúng và lãnh đạo đấu tranh…

Nhóm những người cộng sản hình thành cuối năm 1931 và khoảng đầu năm 1932 thì chi bộ Đảng ở nhà tù Côn Đảo ra đời. Đồng chí Nguyễn Hối làm bí thư. Chi ủy có các đồng chí Tôn Đức Thắng, Tống Phúc Chiểu, Tạ Uyên… Phan Đình Khải (Lê Đức Thọ).

(Sđd. Tr. 91)

Từ đây tổ chức Đảng ngày càng vững mạnh. Tổ chức Hội tù nhân. Lãnh đạo đấu tranh chống lại sự tàn bạo của bọn cai ngục. Tạo được đường dây liên lạc với đất liền. Khi Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công ở đất liền thì ngoài Côn Đảo, tổ chức Đảng lãnh đạo quần chúng nổi dậy, làm chủ tình hình.

Ngày 20-7-1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết thì ngày 25-7-1954, Ủy ban Kháng chiến hành chính Côn Đảo công khai danh nghĩa, giành chính quyền.

Thời kỳ Mỹ – Ngụy, bị đàn áp cực kỳ khốc liệt, nhưng tổ chức Đảng ở Côn Đảo vẫn vững mạnh, lãnh đạo cuộc đấu tranh. Tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh chống ly khai, bảo vệ khí tiết người cộng sản mà 5 anh (Nguyễn Đức Thuận, Phan Trọng Bình, Phạm Quốc Sắc, Nguyễn Minh và Lê Văn Một) đã trở thành tấm gương anh hùng. Khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng thì các chiến sĩ Côn Đảo đã nhận được thông tin, kịp thời thành lập Đảng ủy lâm thời, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa giành chính quyền và chiều 2-5-1975, chính quyền Cách mạng ở Côn Đảo đã báo tin thắng lợi về đất liền.

Như thế, từ khi mới ra đời (1930) cho đến khi cách mạng giải phóng dân tộc thành công (1975), tổ chức Đảng ở Côn Đảo luôn là lực lượng lãnh đạo đấu tranh và những chiến sĩ cộng sản đã đi đầu trong chiến đấu và hy sinh. Chính đó là nhân tố để tập hợp được quần chúng đấu tranh, vượt qua mọi gian khổ hy sinh cho đến thắng lợi cuối cùng.

Đồng chí Nguyễn Gia Tự – nhà lãnh đạo của Đảng – đã hy sinh trong chuyến vượt Côn Đảo, nhưng tư tưởng của đồng chí chính là tư tưởng nhất quán của Đảng: “Người cộng sản ở đâu cũng phải tổ chức, phải đấu tranh, trong hoàn cảnh nào cũng phải lãnh đạo quần chúng…” (Sđd. Tr. 651). Để lãnh đạo được quần chúng, tổ chức được quần chúng, người cộng sản phải gương mẫu đi đầu trong mọi hoàn cảnh của đời sống. Thấu hiểu, cảm nhận được những hy sinh lớn lao của các thế hệ tiền bối cách mạng sẽ điều chỉnh được đời sống cá nhân cho xứng đáng với tiền nhân. Đó phải chăng là triết học và đạo đức rút ra từ Lịch sử nhà tù Côn Đảo và kết luận đó là có giá trị toàn diện và vĩnh viễn!

TP.HCM. Những ngày Đại lễ Lao động và Chiến thắng, 2017.

Nguyễn Ngọc Quang
(Tiếp theo VN TP.HCM, số 450, ngày 18-5-2017)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 451

Ý Kiến bạn đọc


Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Triết học và đạo đức từ nhà tù Côn Đảo

Cố Giáo sư Sử học – Anh hùng lao động – Cựu tù chính trị Côn Đảo Trần Văn Giàu trong Lời giới thiệu Lịch sử nhà tù Côn Đảo 1862-1975 đánh giá đây là một cuốn sách Đạo đức học – một cuốn sách triết học (Lịch sử nhà tù Côn Đảo 1862-1975. Nguyễn Đình Thông – Nguyễn Linh – Hồ Sĩ Hành biên soạn – NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh. Tái bản lần thứ 2 – năm 2015). Đó là nhận xét rất khái quát, rất sâu sắc của một người trong cuộc cả về thực tiễn, cả về học thuật. GS. Trần Văn Giàu đã bị đày ra Côn Đảo năm 1935. Năm 1940, ông lại bị thực dân Pháp bắt giam vào căng Tà Lài. Đây không phải là triết học và đạo đức trên lý thuyết, như các chuyên luận, giáo trình… mà là triết học và đạo đức của thực tiễn, từ thực tiễn. Cuộc sống và chiến đấu của tù nhân Côn Đảo – tù chính trị, tù cộng sản và cả tù thường phạm – là biểu hiện của một triết học và đạo đức cao cả nhất, nhân văn nhất.

Khi con người có lý tưởng, có niềm tin thì sẽ có sức sống, sức mạnh kỳ diệu.

Sử sách xưa nay thường nhắc đến tấm gương của các Thái sử công (người chép sử) nước Tấn, nước Tề. Điển cố đó xa xôi lắm (trên dưới 2.000 năm) và chỉ hiện lên qua trí tưởng tượng. Nhưng ở Côn Đảo, những người tù cách mạng và yêu nước của Việt Nam thời hiện đại đã thể hiện chí khí, sức mạnh không kém người xưa.

Tích xưa kể rằng: Thôi Trữ là Tướng quốc. Sau khi giết Tề Trang công, gọi Thái sử đem thẻ tre đến, bảo phải ghi: Vua đã cảm gió chết. Thái sử Bá không chịu, chép rằng: Mùa hạ, tháng năm, ngày Ất Hợi, Thôi Trữ giết vua là Quang (tên của Trang công). Trữ thấy thế rất giận, liền chém Bá. Bá có 3 người em là Trọng, Thúc và Quý. Trọng lại chép như Bá. Trữ chém Trọng. Quý là em út, vẫn chép như các anh. Thôi Trữ bảo: – Ba anh mày đã chết rồi, mày không muốn sống hay sao? Nếu thay đổi lời, ta sẽ tha chết cho.

Nghia-trang-Hang-Duong---Con-Dao
Nghĩa trang Hàng Dương Côn Đảo – Ảnh: bariavungtau.com

Quý thưa rằng: – Cứ việc thật mà chép thẳng, đó là chức trách nhà viết sử. Không làm tròn chức trách mà sống thì chết đi còn hơn.

(Theo Tôn Quang Phiệt 1900-1973 – NXB Văn học, 2014. Quyển I. Trang 1.251-1252)

Thời nay ở Côn Đảo:

- “… Tên gác ngục Saden có lần thấy tù nhân khám tử hình học văn hóa đã giễu cợt: – Các anh sắp chết rồi còn học làm gì!

Người tử tù Nguyễn Đình Chính đã trả lời: – Nếu không chết thì sẽ thành người có ích. Còn nếu có chết thì chúng tôi cũng phải chết một cách có văn hóa…

Anh Nguyễn Đình Chính, nguyên Trưởng ban Công tác I Sài Gòn – Gia Định, bị địch gọi về xử bắn tại Sài Gòn. Và trước Tòa án thực dân, Nguyễn Đình Chính đã tuyên bố đanh thép: Tôi tin đến lúc chết, nước Việt Nam sẽ độc lập.

(Lịch sử nhà tù Côn Đảo. Sđd. Tr. 249-250-251)

- Anh Nguyễn Hoài Cư, đội viên Ban công tác I, người tử tù số G.130 đã nêu tấm gương đầy dũng khí. Lần ấy đổi còng, biết mình sẽ ra đi, anh đã thức suốt đêm cùng bạn tử tù hát vang những bài ca cách mạng: Lên đàng, Cùng nhau đi hùng binh, Tiến quân ca, Chiến sĩ Việt Nam… Mờ sáng hôm sau, khi gác ngục mở cửa, bọn lính lê dương ập vào, anh siết chặt tay bạn tù, chào vĩnh biệt và ung dung ra trường bắn.

Linh mục Nguyễn Văn Mầu kể lại, anh Cư đã từ chối rửa tội. Anh chỉ vào tốp lính lê dương và tên chánh án có mặt tại trường bắn mà nói với linh mục: Ông phải rửa tội cho những người này, chính họ mới có tội.

Anh từ chối bịt mắt, nhìn thẳng vào họng súng kẻ thù và dõng dạc hô to: Hồ Chủ tịch muôn năm! Việt Nam độc lập muôn năm!

(Lịch sử nhà tù… Sđd. Tr. 249-250-251)

Nữ Anh hùng Võ Thị Sáu bị thực dân Pháp đưa từ Sài Gòn ra Côn Đảo để xử bắn vào mờ sáng ngày 23-1-1952. Chí khí và xử sự của chị Sáu trước họng súng quân thù y hệt anh Nguyễn Hoài Cư mà trên Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh (số 444, ngày 6-4-2017) đã trích, trong bài Khi nhà thơ không còn đạo lý. Nay xin trích thêm một đoạn:

“Trưa hôm ấy, tù nhân ở nhiều khám đã bỏ ăn và viết đơn tố cáo thực dân Pháp hành hình Võ Thị Sáu. Một người lính lê dương già, gốc Đức, đã bỏ ăn 3 ngày. Trong mấy ngày chờ tàu về Sài Gòn, người lính lê dương đã nói với những tù nhân làm bồi rằng anh ta hoàn toàn bị ám ảnh bởi đôi mắt bình thản và thái độ trầm tĩnh đến lạ lùng của chị Sáu. Sau đó anh ta xin trở về Pháp, bỏ hẳn nghề bắn thuê”.

(Lịch sử nhà tù… Sđd. Tr. 348)

Còn dũng khí trước cực hình tra tấn, đòn roi? Xin xem chương XII: Đấu tranh chống cúi đầu.

Bọn giám thị bắt tù nhân ra sân tập hợp phải cúi đầu. Và:

“Nửa thế kỷ sau, lớp tù nhân kháng chiến vẫn nhớ mãi hình ảnh hiên ngang của Lê Ngọc Hương trong cuộc đấu tranh chống cúi đầu năm ấy (1949).

… Lê Ngọc Hương bước tới trước mặt Rônhông, từ tốn nói: Thưa ông sếp chánh, ông cho phép chúng tôi từ nay được chào ông bằng động tác đứng nghiêm như thế này. Như vậy có vẻ văn minh và lịch sự hơn là ngồi cúi đầu.

Mặt Rônhông tái đi, nó vung roi cá đuối quật vào mặt anh liên hồi. Lê Ngọc Hương vẫn đứng nghiêm, đầu ngẩng cao, mặt không biến sắc. Rônhông tiếp tục quật roi xuống đầu anh và gầm lên: À, cái đầu thằng này cứng.

Lê Ngọc Hương điềm tĩnh trả lời: – Thưa ông, cái đầu của chúng tôi có thể rơi khỏi cổ, nhưng từ nay không bao giờ cúi nữa!

Bọn gác ngục xông vào đánh anh té sấp xuống sân rồi lôi theo kíp tù ra nơi đập đá… Khi Lê Ngọc Hương đi qua, Saden vung dùi cui quật thẳng cánh lên đầu anh rồi ấn mạnh xuống. Hương quắc mắt, ném vào mặt tên sát nhân đểu cáng một cái nhìn nẩy lửa và tuyên bố một câu bằng tiếng Pháp mà cả lớp tù kháng chiến không ai quên được: Chúng tao chưa nói lời cuối cùng đâu! (Nous n’avons pas encore dit notre dernier mot!)

Lê Ngọc Hương, còn gọi là Hương Bà Điểm, nguyên là Chủ tịch UBND xã Bà Điểm, quận Hóc Môn, Gia Định, lúc mới giành chính quyền. Hương bị kết án tử hình rồi giảm án. Dũng khí đấu tranh và lời tuyên bố hùng hồn của Lê Ngọc Hương trở thành biểu tượng của người tù kháng chiến, trở thành bài học về nhân cách và khí tiết của người chiến sĩ cách mạng trong tù ngục của thực dân Pháp.

(Lịch sử nhà tù… Sđd. Tr. 299-302-303-304)

Tuyệt thực là vũ khí đấu tranh của người tù. Không chỉ ở Côn Đảo. Nhà cách mạng Tôn Quang Phiệt ở nhà tù Buôn Ma Thuột, cùng với Phan Đăng Lưu, năm 1930, đã kiên quyết đấu tranh, chết thì thôi, quyết không chịu khuất phục. Bị cùm hai chân suốt 8 tháng, từ khi nhìn thấy hạt cây rơi xuống đất, hạt nảy mầm, thành cây… Bị cùm, lại bị đánh, không thể tránh đòn được. Có hôm ông bị chúng đánh đến cả 100 hèo mây vào lưng…

(Tôn Quang Phiệt 1900-1973 – NXB Văn học. Quyển I. Tr. 1.138-1.144)

Ở Côn Đảo, bọn gác ngục cũng tàn ác không kém. Và có những cuộc đấu tranh bằng tuyệt thực kéo dài hàng chục ngày. Điển hình nhất là Nguyễn Văn Trường.

“Công văn số 341/CSQG… ngày 31-7-1968 của Trưởng ty Cảnh sát quốc gia Côn Sơn cho biết, ngày 24-7-1968, Ty CSQG Côn Sơn đã cử nhân viên đến Trung tâm cải huấn để “chứng kiến cuộc tuyệt thực của 3 chính trị phạm VC tên Nguyễn Văn Trường đính bài số C.18526, Sầm Thanh Liêm số A.3564 và Nguyễn Văn Chánh CT.610 đang bị biệt giam tại Khu biệt lập II để phản đối nội quy trung tâm… Can phạm Nguyễn Văn Trường tuyệt thực đến nay đã 2 tháng 6 ngày… Can phạm Sầm Thanh Liêm và Nguyễn Văn Chánh tuyệt thực đến nay đã 18 ngày, vẫn còn ngoan cố… nhưng cũng đã được đưa về bệnh xá trại ngày 26-7-1968.

Nguyễn Văn Trường tuyệt thực đến ngày thứ 72. Khi ấy anh đã bị liệt cột sống, nằm bất động…”. Đến khi địch tuyên bố ngừng đợt khủng bố… anh mới ăn uống trở lại.

(Lịch sử nhà tù… Sđd. Tr. 567-568)

Thật kỳ lạ. Năm 2007, người viết bài này có thực hiện một kỳ điều trị thực dưỡng. Nhịn ăn, chỉ uống nước lọc trong 15 ngày, rồi ăn trở lại. Quy định của bài tập như thế. Tài liệu hướng dẫn cho biết, nhịn ăn, uống đủ nước cũng chỉ kéo dài sinh mệnh được khoảng 30 ngày. Trường hợp kỳ lạ này chỉ có thể giải thích được, ý chí của con người đã đem lại sức sống, sức chịu đựng kỳ diệu như thế. Như trường hợp 5 anh ở Chuồng Cọp chống ly khai năm 1961:

“Vũ lực không thể thắng được trái tim những người cộng sản”. Đại úy Bùi Văn Tám, Phụ tá Tỉnh trưởng Côn Đảo đã một chân quỳ, một chân co trước cửa Chuồng Cọp mà nói với 5 anh: Nguyễn Đức Thuận, Phan Trọng Bình, Phạm Quốc Sắc, Nguyễn Minh và Lê Văn Một vào buổi sáng 11-1-1962 như vậy, khi chúng hoàn toàn bất lực, không thể khuất phục được các anh.

(Lịch sử nhà tù… Sđd. Tr. 476-477)

TP. Hồ Chí Minh, tháng 4-2017

(Còn tiếp)

Nguyễn Ngọc Quang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 450

Ý Kiến bạn đọc