Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Trí thức và những kẻ giả danh trí thức

Bài viết “Để người trí thức là lương tri, lương tâm của dân tộc” của TS. Phạm Phương Chi đăng trên Khoa học & Phát triển số 24-25, ra ngày 12 -19/11/2015 đề cập đến vấn đề không mới nhưng mang tính thời sự, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi xã hội đang tồn tại nhiều hiện tượng phức tạp đòi hỏi người trí thức phải lên tiếng phân định đúng – sai, bảo vệ lẽ phải, định hướng dư luận, tạo niềm tin cho nhân dân. Tuy nhiên, một số nhận định của tác giả còn phiến diện, một chiều.

Phản biện có phải là phẩm chất quan trọng nhất?

Bàn về phẩm chất của người trí thức, tác giả khẳng định: “Sự phản biện là một trong những phẩm chất quan trọng nhất của người trí thức chân chính”. Phản biện không thuộc phẩm chất, đó chỉ là cách thức, phương thức, con đường mà người trí thức thông qua các phương tiện truyền thông, diễn đàn khoa học, công trình nghiên cứu để bày tỏ chính kiến, quan điểm, ý kiến cá nhân. Trước một hiện tượng, vấn đề nào đó trong cuộc sống, người trí thức có thể đồng tình hoặc kịch liệt lên án, phản đối bằng những lập luận sắc bén, thuyết phục của tri thức, kinh nghiệm, bản lĩnh cá nhân, từ đó định hướng dư luận, giúp mọi người hiểu rõ, nhận thức đúng vấn đề.

Tinh thần phản biện của người trí thức không phải đến giờ mới được bàn bạc, đề cập, mà ngay từ thế kỷ XIX ở Pháp người ta gọi trí thức (intellectuel) là những người không chỉ có học vấn hay trình độ chuyên môn cao, mà hơn hết phải là những người quan tâm và có chính kiến trước những vấn đề chính trị – xã hội nóng bỏng của thời cuộc.

Đúng như tác giả bài báo viết: “Không phải ai làm việc với chữ nghĩa, sách vở và với tư tưởng đều là trí thức”, bởi có những người học rộng, tài cao nhưng cách hành xử bất lịch sự, thiếu văn minh, người đời gọi họ là kẻ vô học, vô văn hóa. Người trí thức phải có sự kết hợp hài hòa giữa phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn và tư cách làm người. Trong lịch sử dân tộc, khi đất nước rơi vào những tình thế khó khăn, những người đứng đầu chính quyền đều hỏi, tham khảo ý kiến của các bậc sĩ phu, trí thức. Chính tiếng nói và quyết sách, mưu lược của họ có vai trò quan trọng trong việc hoạch định đường lối, chính sách, tập hợp quần chúng, cố kết cộng đồng, làm nên sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Nhưng đồng thời, trí thức cũng là lớp người nhạy cảm trong việc phát hiện những khuyết tật, bất cập, hạn chế của xã hội để từ đó đề xuất chủ trương canh tân, đổi mới đất nước. Chính những tư tưởng, phát kiến đi trước thời đại mà đôi khi người trí thức rơi vào bi kịch, cô đơn khi không có bạn đồng hành, không tìm được tri âm, tri kỷ.

Tuy nhiên, có một thực tế hiện nay là có không ít những kẻ đội lốt, giả danh trí thức hay một số “trí thức cuối mùa”, lợi dụng các diễn đàn tự do dân chủ, tự nhận mình là những người “phản biện”, “giám sát” các vấn đề xã hội, kết bè kéo cánh, thành lập các nhóm, hội để công kích, chĩa ngòi bút vào những vấn đề nhạy cảm, xuyên tạc chế độ, xúc phạm nhân phẩm danh dự các đồng chí lãnh đạo… tạo những luồng dư luận ảo, gây rối loạn trật tự, lũng đoạn thông tin, hoang mang lòng người. Đó là những chiêu bài của những kẻ giả danh, núp bóng trí thức – những kẻ có tiếng tăm một thời nhưng dao động tư tưởng, lung lạc tinh thần, bề ngoài gắn mác trí thức nhưng tư tưởng, linh hồn thì đã bán cho đồng tiền, danh vị, để cho những kẻ cơ hội, cho những thế lực thù địch trong và ngoài nước chỉ đạo, sai khiến.

Nhà nước có kiểm duyệt trí thức?

Từ tinh thần phản biện của người trí thức, TS. Chi đi sâu bàn về mối quan hệ giữa người trí thức với trật tự, thể chế chính trị, xã hội, quyền lực, và khẳng định: “Sự phản biện lại và gợi ý những điều khác so với những trật tự đang có thường vấp phải sự phủ nhận của những cá nhân và tổ chức mà quyền lợi chính trị và kinh tế của họ đang gần với trật tự hiện có”. Và khi đề cập những giải pháp để phát huy vai trò của người trí thức, tác giả yêu cầu Chính phủ, Nhà nước cần tạo cho người trí thức một khu “tự trị” tương đối để sáng tạo, đồng thời phải có chính sách đãi ngộ để họ có thể sống bằng tri thức. Đồng thời tác giả khẳng định: “Sự quản lý của Nhà nước – Chính phủ đối với kết quả nghiên cứu của người trí thức cần phải được tiến hành một cách văn minh nhằm tránh xúc phạm, tổn thương và làm thui chột nhiệt huyết cống hiến của người trí thức, để họ không có thái độ và hành động tiêu cực đối với dân tộc và Chính phủ. Đúng là chính thể nào cũng có sự kiểm duyệt đối với trí thức nhằm đảm bảo trí thức đó không nguy hại đối với sự tồn tại của chính thể đó”. Những nhận định này cũng chưa hoàn toàn thuyết phục, bởi đụng chạm đến mối quan hệ giữa trí thức với quyền lực chính trị, thể chế xã hội là vấn đề lớn mang tính nhạy cảm, có mối tương quan, tác động qua lại, có sự gắn bó chặt chẽ, có khi là động lực, có khi lại là lực cản… Ở đây tác giả bài báo mới chỉ nhấn mạnh đến một khía cạnh của vấn đề.

Kiểm duyệt là từ thường dùng trong chế độ thực dân, khi chính quyền cai trị sử dụng mọi biện pháp để ngăn cấm, tiêu hủy, cắt xén những tác phẩm của trí thức có tinh thần, thái độ chống lại chế độ. Còn trong thời đại ngày nay, người trí thức được tôn trọng, đề cao, được đánh giá là tầng lớp tinh hoa của xã hội. Trong hầu hết các văn bản của Đảng, Nhà nước, không có tư tưởng kiểm duyệt trí thức, mà Đảng, Nhà nước luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất để trí thức phát huy hết khả năng sáng tạo, có nhiều cống hiến cho sự phát triển của quốc gia.

Nghị quyết số 27/NQ-TW, BCH Trung ương khóa X (ngày 6/8/2008) về Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhấn mạnh: Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức… Trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Ðảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Ðầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững.

Cũng trong Nghị quyết, bên cạnh việc khẳng định những ưu điểm, thế mạnh riêng của trí thức Việt Nam thì vẫn còn đó những bất cập, hạn chế, tồn tại trong chính bản thân trí thức và một phần là do những tác động chưa kịp thời của hệ thống cơ chế, chính sách trong việc tạo điều kiện, môi trường làm việc thuận lợi để trí thức phát huy năng lực sáng tạo. Những nhiệm vụ, giải pháp mà Nghị quyết đề ra như: Hoàn thiện môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động của trí thức; Thực hiện chính sách trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức; Tạo chuyển biến căn bản trong đào tạo trí thức; Đề cao trách nhiệm của trí thức, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động các hội của trí thức; Nâng cao chất lượng công tác lãnh đạo của Đảng đối với đội ngũ trí thức, nếu được thực thi đồng bộ, quyết liệt, thường xuyên thì sẽ tạo thế và lực để gia tăng số lượng cũng như chất lượng đội ngũ trí thức để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, chính sách bao giờ cũng bất cập và lạc hậu so với sự biến đổi không ngừng của thực tiễn. Vì thế sự đóng góp, xây dựng, phản biện trên tinh thần khoa học của người trí thức sẽ là ngọn đuốc soi đường cho dân tộc đi lên trong quá trình hội nhập toàn cầu hiện nay.

Bản chất của người trí thức là sự tự do sáng tạo, trong khi thể chế, chính sách, pháp luật mang tính khuôn phép với những quy định chặt chẽ. Quy định không phải là kìm hãm mà là định hướng, tạo hành lang pháp lý để người trí thức hoạt động, lao động, cống hiến. Không có thứ tự do tuyệt đối cho mọi cá nhân, điều quan trọng là biết nắm bắt cơ hội, ý thức rõ về trách nhiệm, nghĩa vụ với Tổ quốc, nhân dân và chính bản thân mỗi người thì lúc ấy mỗi việc làm nhỏ của trí thức sẽ có ảnh hưởng lớn đến đức tin của quảng đại quần chúng.

Việc đề xuất những giải pháp về đầu tư cơ sở vật chất, chính sách đãi ngộ, sử dụng nhân tài là yêu cầu chính đáng tạo môi trường thật sự khoa học, nhân văn để người trí thức cống hiến hết mình cho tương lai dân tộc. Tuy nhiên trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, người trí thức phải biết chia sẻ, cảm thông, phải nỗ lực, cố gắng không ngừng. Nhìn vào lực lượng đội ngũ hơn 24.300 tiến sĩ và 101.000 thạc sĩ (năm 2014) trong khi số lượng các công trình nghiên cứu khoa học được công bố trên các tạp chí uy tín quốc tế thì rất hạn chế. Trong 15 năm từ 1996-2011, Việt Nam có 13.172 ấn phẩm khoa học công bố trên các tập san quốc tế có bình duyệt, kém xa các nước khác trong khu vực, 1/5 so với Thái Lan (69.637), 1/6 so với Malaysia (75.530), 1/10 so với Singapore (126.881) (Nguồn: ISI web of science 20/10/2010). Hàng năm, chi ngân sách cho nghiên cứu khoa học rất lớn nhưng nhiều đề tài sau nghiệm thu lại “xếp trong ngăn kéo” không có hiệu quả, gây lãng phí, thất thoát lớn cho quốc gia, mà lỗi một phần là do các nhà trí thức!

Nhiều trí thức được đào tạo bài bản, được cấp kinh phí đào tạo ở nước ngoài, nhưng học xong họ lại không trở về vì “chê” đất nước còn khó khăn, chế độ lương bổng không hấp dẫn… Thái độ vong bản, quên đi nguồn cội, thiếu ý thức tinh thần trách nhiệm với quốc gia, dân tộc xuất hiện trong suy nghĩ của nhiều trí thức, gây sự hoài nghi và mất niềm tin trong nhân dân. Vì thế trong cách ứng xử với thể chế chính trị, người trí thức “đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta, mà cần hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay?”.

Tôi đồng tình với những băn khoăn, trăn trở của TS. Phạm Phương Chi về những nỗi niềm dâu bể của người trí thức, nhất là người phụ nữ trong nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn. Phải có nghị lực, quyết tâm, niềm đam mê, dấn thân cho nghề, cho nghiệp thì mới có động lực để đi trọn con đường nghiên cứu. Phải thắp lửa và truyền tình yêu nghiên cứu cho thế hệ những nhà khoa học trẻ. Kiên quyết loại trừ và lên án lối giả danh, núp bóng làm khoa học để trục lợi cá nhân, tạo môi trường thật sự dân chủ, lành mạnh, tôn trọng lẫn nhau trong nghiên cứu khoa học.

Những hiện tượng phản khoa học trong nghiên cứu, nghiệm thu đề tài; trong cách đấu thầu theo kiểu quan hệ; những hội đồng khoa học theo kiểu nhóm bạn bè thân hữu; những đề tài trùng lặp, sáo mòn, sao chép; những công trình tiền tỷ chỉ để trưng bày, cất trữ… tạo ra sự đứt gãy niềm tin, sự hoài nghi, bi quan cho xã hội.

Mối quan hệ giữa trí thức với chính quyền, thể chế là mối quan hệ lớn, muôn thuở, có tác động qua lại, bổ sung, gắn kết chặt chẽ với nhau để tạo nên sức mạnh của quyền lực – tri thức. Nhưng nếu TS cho rằng: Người trí thức bằng tinh thần phản biện sẽ góp phần phá vỡ trật tự cũ để tạo ra trật tự mới, mà ở đó người trí thức được tôn trọng và phát huy tối đa thì có phần chủ quan, chưa rành rõ, bởi nếu trật tự hiện tại tốt đẹp, dân chủ thì liệu rằng có cần phải phá vỡ, đạp tung, phải phản kháng, đấu tranh?

Cơ chế, trật tự xã hội là do con người tạo ra, vì thế để có môi trường sống, lao động mà ở đó “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” phụ thuộc vào năng lực, trí tuệ, trình độ và sự liên hiệp, đoàn kết chặt chẽ của những người trí thức với tiếng nói chung, thống nhất trong việc hoạch định chính sách, cơ chế, quy tắc hành động, ứng xử để cùng các giai cấp, tầng lớp khác chung tay xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay.

Nguyễn Huy Phòng
(Viện Văn hóa và phát triển Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 384

Ý Kiến bạn đọc