Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Tri thức và lương thức của sử học

Kỳ cuối (Tiếp theo số báo 456, ngày 29-6-2017)

Trên đây trình bày sơ lược để thấy tri thức lịch sử của GS. Phan Huy Lê từ 2008 đến nay là tri thức chưa đầy đủ, tri thức sai lầm, từ một tri thức cụ thể cho đến tri thức khái quát, lý luận. Trong nghiên cứu khoa học, những tri thức đó cần phải được bổ túc để đạt được sự toàn diện đúng đắn, tin cậy. Điều đáng lưu ý là những tri thức chưa đầy đủ của GS. Phan Huy Lê thường được phát biểu ở dạng khái quát, tổng kết, lý luận, chỉ đạo – do danh vọng và địa vị của ông – nên chắc chắn sẽ ảnh hưởng không tốt đến công tác nghiên cứu sử học nói chung và trước mắt là biên soạn bộ quốc sử và chương trình sách giáo khoa môn sử trong trường phổ thông trung học cho đến đại học.

Sử học vừa tiếp nhận mọi biến động xã hội, vừa tỏa ảnh hưởng vào đời sống xã hội. Đó là vấn đề cần thiết để xem xét quan điểm mới về lịch sử của GS. Phan Huy Lê một cách nghiêm túc.

Không thể phủ nhận tình hình thế giới tác động rất mạnh đến giới trí thức Việt Nam. Không thể lẩn tránh thực tế một số trí thức đã hoang mang dao động trước sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống XHCN. Không ít người đã và đang ở tâm trạng nôn nao chờ đợi, tính đếm ngày giờ.

Năm 2003, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp nói với tôi ở Thụy Điển:

- Liên Xô nó đổ rồi. Trung Quốc nó biến màu rồi. Còn các ông cũng phải liệu đi.

Trong Hồi ký, GS. Nguyễn Đăng Mạnh kể nhà văn Nguyên Ngọc thường nói với ông: – Chế độ này thể nào cũng sụp đổ. Chỉ chưa biết nó sẽ sụp đổ theo kịch bản nào.

Nhiều tác giả viết về chiến tranh, hợp mùi vị của các giới bên ngoài thù địch với Việt Nam, liền được họ dịch ra nhiều thứ tiếng, trao nhiều giải thưởng.

Xuất hiện văn đàn độc lập đòi độc lập với tất cả. Các nhóm biên dịch, xuất bản dựng lại chân dung các nhân vật có tội với đất nước để chiêu tuyết, đòi có cái nhìn mới. Họ dựa vào uy tín của cụ Phan Chu Trinh để xuyên tạc cụ, đề cao cụ, xem là con đường cứu dân cứu nước đúng đắn. Đường lối cách mạng bạo lực của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam là sai lầm, gây tổn thất xương máu cho dân tộc…

Vừa rồi, Nguyên Ngọc tổ chức trao giải Văn Việt ở Khách sạn Sỏi Đá. Nhân đó xuyên tạc, xúc phạm đến Anh hùng – Liệt sĩ Võ Thị Sáu và còn thách thức sang năm sẽ tổ chức ở Dinh Thống Nhất.

Chúng tôi không tin vào quan điểm của GS. Phan Huy Lê, về học thuật đã đành, mà trong buổi thông tin khoa học “công bố quan điểm sử học mới” lại có ông Nguyễn Quang A ngồi ngay cạnh GS. Phan Huy Lê. Đó là vị trí trang trọng nhất sau người chủ trì thuyết trình. Bạn đọc biết ông Nguyễn Quang A là ai? Tôi không rõ GS. Phan Huy Lê đã gia nhập Văn đoàn Độc lập? Hay ông xem Văn đoàn này là một tổ chức khoa học mà Hội KHLSVN rất thân thiết? Hay cá nhân ông Nguyễn Quang A tự tìm đến ngồi vào ghế danh dự? Và trước đó, Hội KHLSVN đã tham mưu hiến kế cho đại gia Nam Phương linh từ có thể thờ phụng tất cả, trừ Chủ tịch Hồ Chí Minh (Xem bài Hoàng Phương: Biên soạn bộ quốc sử như thế này sao? – Văn nghệ TP.HCM, số 451, ngày 25-5-2017. Trg.14).

Anh-minh-hoa---Tri-thuc-va-luong-thuc-cua-su-hoc

Chúng tôi không tin tưởng vào GS. Phan Huy Lê và rất không yên tâm về tình hình hoạt động sử học do GS. Phan Huy Lê đang cầm trịch.

Trên văn bản chứng tỏ tri thức sử học của ông Phan Huy Lê là chưa đầy đủ. Là sai lầm. Nhưng đây là một tác giả dạn dày kinh nghiệm. Ông quá hiểu việc ông làm. Và ông rất kiên trì, từ 2008 đến nay.

Điều đó có thể khẳng định GS. Phan Huy Lê vẫn kiên quyết theo đuổi lý luận, quan điểm của ông.

Song, ông rõ ràng là một nhà học phiệt. Qua hình thức và nội dung buổi thông tin khoa học nói trên, thể hiện điều đó. Trong 10 năm qua, bao nhiêu bài báo, bao nhiêu tác giả khi trao đổi nêu đích danh ông, mà ông im lặng cho chìm xuồng. Nhà văn Vũ Hạnh năm nay 91 tuổi, chưa đáng được ông đáp lời hay sao? Ông dùng ngôn ngữ rất kích động: Nam bộ đâu phải từ trên trời rơi xuống. Rất qui kết: Nhận thức sử học hiện nay vẫn theo truyền thống thời quân chủ. Đấy là sử của Vương triều, của các nhân vật, các sứ thần… còn lịch sử của nhân dân thì rất mờ nhạt. Đầy mỵ dân nhưng là rất xuyên tạc. Ông nhấn đi nhấn lại “lịch sử phải khách quan trung thực”, như là từ trước đến nay nghiên cứu lịch sử ở Việt Nam không khách quan trung thực (!). (Nhưng chính ông lại không khách quan trung thực). Đó là ngôn luận của ông. Còn điều cần phải nói là trách nhiệm phải đối thoại, thì ông đã hầu như lẩn tránh, im lặng như đối với các độc giả Vũ Hạnh, Hoàng Phương, Cao Đức Trường… Cũng có một lần, một bài viết trên Tạp chí Cộng sản, ông khẳng định thêm quan điểm của ông là: Người Pháp tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam nên đã đặt bút ký vào các Hiệp ước 1862, 1874, nhất là 1949. Rằng Bảo Đại và Quốc gia Việt Nam mới là chính thể hợp pháp theo các Hiệp ước đó nên đã được trả lại Nam kỳ bằng Hiệp ước Elysée. Còn Việt Minh, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh… là một “chủ thể nào khác đang vận động đòi lại vùng đất này”. Đoạn văn GS. Phan Huy Lê viết trên Xưa và Nay sau đó đăng lại trên Tạp chí Cộng sản, được ông Cao Đức Trường dẫn lại trên Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 450, ngày 18-5-2017, như thế này:

“Khi quân Pháp xâm lược 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ năm 1862, rồi 3 tỉnh miền Tây năm 1867, đại diện của Pháp ký Hiệp ước năm 1862 và Hiệp ước năm 1874 buộc nhà Nguyễn phải nhượng Nam kỳ cho Pháp. Đây là những hiệp ước ký dưới sức mạnh xâm lăng của nước ngoài, nhưng mặt khác lại là những văn bản có giá trị pháp lý quốc tế chứng tỏ nước Pháp phải thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam mà các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đã xác lập vững vàng từ trước đó. Cũng vì cơ sở pháp lý đó mà năm 1949, Tổng thống Pháp ký với Bảo Đại Hiệp ước Elysée, trả lại Nam bộ cho “Quốc gia Việt Nam” chứ không phải cho một chủ thể nào khác đang vận động đòi lại vùng đất này”.

Tri thức pháp lý và pháp lý quốc tế của GS. Phan Huy Lê rất đáng bình luận. Nhưng vì nó khá dài, phải vào một bài riêng. Ở đây chỉ nhấn mạnh mấy ý chính trong đoạn văn trên:

- Nước Pháp phải thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.

Xin ông Phan Huy Lê xét đầy đủ tinh thần và lời văn của các Hiệp ước từ 1862 đến 1884 xem có đúng như GS viết không?

- Phía Pháp phải trả lại Nam bộ theo Hiệp ước 1862, 1874… cho Bảo Đại. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có cơ sở pháp lý. Vì thế, họ phải ký kết với Pháp Hiệp định Genève (1954) và Hiệp định Paris (1973) với Hoa Kỳ. Theo tinh thần và lời văn của các Hiệp định sau này thì có gì phải nhắc đến Hiệp ước Elysée nữa nhỉ! Luật sư Phan Huy Lê bênh vực cho các thân chủ như thế thì buồn cười quá. Đây cũng là biểu hiện của sự chưa đầy đủ về tri thức lịch sử của ông Phan Huy Lê. Nên ta có thể chuyển sang chủ đề khác.

Thành quả của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc (từ 1858-1975) là một giá trị văn hóa, phù hợp qui luật lịch sử dân tộc và những đạo lý chung nhất của nhân loại. Đó là một sự nghiệp chính nghĩa, một giá trị văn minh văn hóa. Dù hy sinh tổn thất đến đâu. Dù trong quá trình đó có sai lầm thiếu sót đến đâu thì giá trị văn hóa của thời đại Hồ Chí Minh cũng vẫn rất vĩ đại. Đối với dân tộc và đối với nhân loại.

Đó là điều phải khẳng định.

Nhờ thành tựu đó mới có Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam như hôm nay. Đó là điều phải khẳng định.

Các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội và với cách mạng Việt Nam không ngừng chống phá cả trong và ngoài nước là thực tế không thể xem nhẹ.

Có sự dao động hoang mang trong một số tầng lớp người là một thực tế cũng không thể lơ là.

Những biểu hiện trên lĩnh vực văn học như Nguyên Ngọc với Văn đoàn Độc lập, Viện Phan Chu Trinh… và trên lĩnh vực lịch sử như GS. Phan Huy Lê với quan niệm lịch sử mới… là thực chất từ hoang mang dao động, mất niềm tin đi đến những hoạt động thực tiễn tiêu cực đủ kiểu đủ loại… như đã nói.

Nghiên cứu lịch sử cận hiện đại Việt Nam là công việc khó khăn phức tạp. Thời kỳ từ khi Pháp xâm lược (1858) đến khi giành được độc lập (1945) rồi đến kháng chiến chống Pháp thành công (1954) có biết bao nhiêu sự kiện, GS. Phan Huy Lê đã nắm được đến đâu? Chỉ nói về nạn đói năm Ất Dậu (1945), mãi gần đây GS. Văn Tạo mới tổng hợp lại được trong công trình Nạn đói năm 1945. Công trình Một thế kỷ văn học yêu nước và cách mạng TP.HCM vừa ra đời có những sử liệu cực kỳ quí giá, như phần Luật sư Phan Văn Trường nói về cụ Phan Chu Trinh. Qua Hồi ký Xứ Đông Dương của Paul Doumer mới thấy Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim còn quá sơ sài và có nhiều sai sót. Cuốn Lính thợ Đông Dương trong Thế chiến II ở Pháp (1939-1953) của Pierre Deaum, NXB Tri thức – 2015, cho thấy “công khai hóa” của người Pháp ở Việt Nam. Cuốn Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897) của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thọ (1991) vừa được in lại ở Việt Nam (NXB Hồng Đức – 2016)… cho thấy tư liệu về thời kỳ này còn rất nhiều mà giới sử học trong nước chưa phải tất cả đều có cơ hội tiếp cận (vì kho thư tịch đó ở nước ngoài, chủ yếu ở Paris). Thiếu tài liệu đã đành, nhưng quan trọng hơn là thiếu quan niệm nghiên cứu. Từ quan niệm sai đi đến đánh giá sai về nhân vật và sự kiện. Đọc Lời giới thiệu cho Pétrus Ký – nỗi oan thế kỷ (Nguyễn Đình Đầu – NXB Tri thức, 2016) của ông Phan Huy Lê thấy rất rõ điều đó. Chiêu tuyết cho một thần tượng nửa đất nửa đá! Có những tác phẩm của các tác giả không chuyên về sử học nhưng họ là người cùng thời với thế kỷ XX, tiếp thu được tư liệu dân gian sinh động… như cuốn Hà Nội xưa và nay của Cụ Bạch Diện Nguyễn Văn Cư – NXB Hội Nhà văn, 2015. Đọc tập ký sự này, người cầm bút có lương tri thấy rõ những cá nhân như Bá hộ Kim, Bạch Thái Bưởi, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh… không có gì phải thương tiếc, ca ngợi, chiêu tuyết. Chúng tôi rất đồng tình với ông Lê Thành Khôi (Paris), việc mất nước vào thời nhà Nguyễn không phải là một định mệnh, một tất yếu lịch sử (như Phạm Quỳnh tự nhận). Vì cùng thời gian ấy, tình thế giống nhau, nước Nhật đã vượt ra được. Mà thực ra, Nguyễn Ánh đã có cơ hội tiếp cận với người Pháp từ Hiệp ước 1787. Vì thế chúng tôi rất đồng tình với nhận định của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thọ, từ Pháp, năm 1994:

“Đáng lẽ phải dựa vào nhân dân để chống lại xâm lược của ngoại bang, vua Tự Đức đã bỏ mặc dân đương đầu với kẻ thù…

… Trừ vua Hàm Nghi, vua Thành Thái, vua Duy Tân đã anh dũng chống lại sự chiếm đóng nước mình của Pháp và bị Pháp truất ngôi lưu đày… một phần lớn các vua chịu trách nhiệm về sự suy tàn và sụp đổ của giang sơn đất nước. Họ phải mang cái nhục này trước lịch sử. Nhân dân Việt Nam không đáng có những ông vua như vậy. Họ xứng đáng được lãnh đạo tốt hơn”.

(TS. Nguyễn Xuân Thọ. Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897). NXB Hồng Đức. H.2016. Trg.589)

Qua biện luận của GS. Phan Huy Lê trong khoảng 10 năm qua, chúng tôi thấy ông và các cộng sự chưa đủ tư liệu về thời kỳ lịch sử này và quan trọng hơn là chưa đủ năng lực khai thác tư liệu một cách khách quan trung thực để có được một lương thức lịch sử. Đó chính là khoảng trống lịch sử cực kỳ nguy hiểm ở chính ông Phan Huy Lê. Đó cũng là điều chúng tôi vô cùng lo ngại.

TP. Hồ Chí Minh, 12-6-2017

Nguyễn Ngọc Quang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 457

Ý Kiến bạn đọc