Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Tri thức và lương thức của sử học

Kỳ 2 (Tiếp theo số 455, ngày 22-06-2017)

Đại diện Ban Tuyên giáo TW đến dự buổi thông tin khoa học là để lắng nghe những thông tin khoa học. Không phải đến để đồng trách nhiệm công bố quan điểm sử học mới. Ông Đinh Khắc Thiện không nên lắt léo như thế. Bây giờ chúng tôi nói đến tri thức lịch sử của ông Phan Huy Lê. Xin nêu một số trường hợp:

Nạn cống vải

Xem Nạn cống vải là nguyên nhân trực tiếp của cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan là một tri thức chưa đầy đủ. Năm 1970, cố giáo sư Trần Quốc Vượng khi giảng bài về lịch sử Việt Nam cho chúng tôi ở lớp Báo chí – Xuất bản Trường Tuyên huấn TW cũng nói thế. Chắc có nhiều người tin như thế. Việc cống vải đến kinh đô nhà Đường, Tràng An, là có thực. Nhưng cống từ đâu là vấn đề. Từ quê Mai Thúc Loan hay từ miền Nam Trung Hoa thời ấy. Nhà thơ Đỗ Mục đời Đường, trong bài Qua Cung Hoa Thanh có câu:

Nhất kỵ hồng trần phi tử tiếu
Vô nhân tri thị lệ chi lai.

(Một kỵ sĩ phi ngựa trong đám bụi hồng, Quý Phi nhoẻn miệng cười. Không ai (không?) biết quả vải đã được đem tiến)

[Theo Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. Hà Nội Xưa và Nay. NXB Hội Nhà văn, 2015. Trg.58]

Có thể có người từ câu thơ của Đỗ Mục mà vận vào cho Mai Thúc Loan chăng? Hãy thử nghiệm. Bây giờ đang mùa vải. GS. Lê hãy mua 3 kg vải, chia làm 3 phần. Một phần để nguyên trên bàn. Một phần ăn ngay để hiểu vì sao Dương Quý Phi thích quả này. Còn một phần, cho vào túi hoặc sọt tre thưa, xóc liên tục (ví như ngựa phi trạm). Quan sát sau 3 ngày, sau 5 ngày, sau 7 ngày, sau 10 ngày. Bây giờ tính đường đi và thời gian phải đi. Cứ cho là ngựa trạm chờ ngay dưới gốc vải quê Mai Thúc Loan. Từ đấy đến ải Nam Quan hết mấy ngày. Từ ải Nam Quan đến Tràng An hết mấy ngày. Ngựa trạm chỉ chạy được ban ngày. Còn qua sông. Từ quê Mai Thúc Loan đến Lạng Sơn ít nhất là 10 con sông, trong đó có sông lớn như sông Ghép, sông Mã, sông Đáy, sông Hồng… Phía bên kia là bao nhiêu sông. Thời ấy vượt sông Dương Tử và Trường Giang có nhanh chóng không? Còn đường bộ, có như cao tốc bây giờ hay là “Thục đạo nan” (Đỗ Phủ). Phác qua như thế để thấy giải thích nguyên nhân khởi nghĩa Mai Thúc Loan do nỗi cực khổ của nạn cống vải là một tri thức không đầy đủ. Thiếu gì lý do để nhân dân ta khởi nghĩa chống lại quân xâm lược. Nạn cống vải là có. Nhưng có thể từ miền Nam Trung Hoa đưa lên Tràng An. Và không loại trừ các đời đô đốc Lưỡng Quảng cũng thích quả lệ chi vùng Giao Chỉ? Từ đó mà lẫn lộn không?

Đây chỉ là một tri thức cụ thể. Tuy nhỏ nhưng cũng cần phải đạt đến sự đầy đủ, thấu đáo.

Về nhân vật Lê Văn Tám

Đây không chỉ là tri thức cụ thể mà là vấn đề quan điểm lịch sử, chúng tôi sẽ phân tích sau, vì hơi dài. Nhưng ở đây GS. Phan Huy Lê tỏ ra một kiểu tư duy rất quan liêu, không cho phép đối với người nghiên cứu lịch sử. Để phát biểu về Lê Văn Tám, để kiểm nghiệm xem lời của cố GS. Trần Huy Liệu có chân thực không, GS. Phan Huy Lê phải tìm đến tận nơi xảy ra sự kiện. Tìm hiểu trong thư tịch – báo chí đương thời – và tài liệu dân gian. Cháy kho xăng lớn trong nhiều ngày lẽ nào nhân dân không biết? Nếu GS. Lê không trực tiếp đi điền dã, có thể giao cho cộng sự hay học sinh, có thể và phải nhờ sự giúp đỡ của địa phương. Đủ các hướng nghiên cứu, tìm hiểu, phương chi mới có thể đưa ra được kết luận. Một cán bộ Ban Tuyên giáo địa phương, tuy đã nghỉ hưu nhưng lại có đủ sử liệu khách quan, trung thực bác lại lời nói của GS. Phan Huy Lê. Từ tri thức đến lương thức nó như thế.

Với nhân vật Phan Chu Trinh

Qua lời biện hộ cho cụ Phan Chu Trinh trên báo Thanh Niên (ngày 26-2-2017) càng chứng tỏ ông Phan Huy Lê chưa có được tri thức đầy đủ về đối tượng nghiên cứu. Bài của ông Cao Đức Trường trên Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh đặt vấn đề với ông Phan Huy Lê là “lập lờ hay né tránh” thực tiễn lịch sử. Có 3 khả năng xảy ra:

- Lập lờ

- Né tránh

- Chưa tiếp cận đủ sử liệu cần thiết về đối tượng nghiên cứu.

Chúng tôi xếp ông Phan Huy Lê vào trường hợp thứ ba. Bây giờ xem tiếp đến khả năng tiếp cận sử liệu.

- Vấn đề Phan Chu Trinh đã được nêu lên trao đổi từ 1965, từ bài viết của nhà sử học hàng đầu Tôn Quang Phiệt. Bài viết này được đưa vào Tôn Quang Phiệt 1900-1973. NXB Văn học. H.2014. Tuần báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh đã trích đăng trên hai kỳ, từ số 436 và 437, tháng 1-2/2017. Chắc chắn trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử còn nhiều bài nữa.

- Cụ Phan Văn Trường nói về Phan Chu Trinh đăng trên Một thế kỷ văn học yêu nước và cách mạng thành phố Hồ Chí Minh (giai đoạn 1900-1945). Công trình này mới xuất bản năm 2016.

- Cố GS. Trần Văn Giàu đánh giá về cụ Phan Chu Trinh (trong Toàn tập Trần Văn Giàu).

Nếu GS. Phan Huy Lê chưa đọc các sử liệu trên là không chấp nhận được. Nếu đọc mà không phản biện được, vẫn đưa quan điểm của mình ra công luận, càng không chấp nhận được. Một tri thức không đầy đủ do cố tình, không phải do bất khả kháng về sử liệu.

Về các hiệp ước 1862, 1874, 1949 (Hiệp ước Élysée) mà lại là “nước Pháp phải thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam mà các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đã xác lập vững vàng từ trước đó” (Dẫn theo Cao Đức Trường: “Đâu là khoảng trống lịch sử”, Văn Nghệ TP.HCM, số 450 ngày 16-5-2017).

Không biết nên hiểu tri thức pháp lý của GS. Phan Huy Lê ở mức độ nào. Nhưng có vẻ A.Q quá. Ừ. Nó cướp. Nhưng cũng phải ký Hiệp ước đấy, có phải cướp không đâu. Sau này trả lại cho triều Nguyễn (Bảo Đại) là có cơ sở pháp lý, tôn trọng lẫn nhau đấy chứ. Cảm thấy GS. Phan Huy Lê chưa tiếp cận hoặc tiếp cận nhưng chưa chiếm lĩnh được các Hiệp ước nói trên. Càng chưa hiểu bối cảnh xã hội đưa đến các Hiệp ước ấy. Phải chuộc lại ba tỉnh miền Đông vì trước hết đấy là quê ngoại của Tự Đức. Phía Pháp chiếm được ba tỉnh này nhưng nếu tiếp tục chiến tranh thì rất bất lợi cho họ. Chỉ nói về hậu cần và khí hậu, cũng là mối đe dọa khủng khiếp. Nay được Tự Đức xin chuộc thì quả là nhất cử đa tiện. Đang chới với giữa đồng lầy Nam bộ lại gặp được “Phan Huy Lê”, thực là không hẹn mà gặp, không ước mà được. Chỉ việc phái đoàn của triều Nguyễn đến Sài Gòn thương thuyết, phải đặt cược 100.000 quan Pháp (Nguyễn Xuân Thọ. Bước đầu thiết lập hệ thống thuộc địa của Pháp ở Việt Nam. NXB Hồng Đức, 2016. Trg.554). Chỗ này GS. Phan Huy Lê giải thích như thế nào về nước Pháp tôn trọng chủ quyền của triều Nguyễn. GS. Phan Huy Lê quả là giỏi hài hước nhưng trí nhớ kém quá. Càng kém hơn là sự liên hệ chắp nối các sự kiện đơn lẻ để cho một cái nhìn, một nhận thức khái quát. Vì, nếu GS. Phan Huy Lê nhận ra nhân cách không lấy gì làm hay hớm của công dân Vĩnh Thụy, thì không rỗi hơi phí bút mực đi bình luận Hiệp ước élysée. Có lẽ thế mà không phải thế chăng? Vì 10 năm qua (từ 2008), GS. Phan Huy Lê kiên trì bênh vực, chiêu tuyết cho Bảo Đại và triều Nguyễn. Đằng sau của tri thức này là gì? Không khó hiểu. Nhưng rõ ràng tri thức của GS. Phan Huy Lê về các sự kiện trên là tri thức chưa đầy đủ, là tri thức còn sai lầm.

Chữ quốc ngữ và dựng tượng Alexandre De Rhodes

Tại Hội thảo Bình Định với chữ quốc ngữ – Qui Nhơn, 2016, khi tổng kết Hội thảo, GS. Phan Huy Lê hứa sẽ đề nghị với Nhà nước cho dựng tượng Alexandre de Rhodes và những người có công với chữ quốc ngữ ở Hà Nội!

Chữ quốc ngữ là vấn đề vừa mang tính học thuật đơn thuần, vừa mang tính quan điểm, chính trị.

Chuyện này nó ngóc ngách. Dây mơ rễ má lắm. Nên phải cố lần tìm. Ai dựng tượng Alexandre de Rhodes? Tượng thì chưa. Nhưng ở Hà Nội dựng bia tưởng niệm và do người Pháp dựng, không phải người Việt.

“Pháp xây đài kỷ niệm Alexandre de Rhodes ở trên bãi đất phía sau đền Bà Kiệu, giữa đài có các bia kể công de Rhodes đã sáng tạo chữ quốc ngữ. Bia ấy bị ta phá bỏ” (Nguyễn Văn Cư. Hà Nội Xưa và Nay. NXB Hội Nhà văn, 2015. Trg.314).

Bậc thầy của GS. Phan Huy Lê, cố GS. Trần Văn Giàu đã nói rõ: chữ quốc ngữ từ phương tiện của kẻ xâm lược thành vũ khí đấu tranh giải phóng dân tộc. GS. Phan Huy Lê có bác lại được luận điểm này không?

Nhà bác ngữ học Cao Xuân Hạo cho rằng chữ quốc ngữ là một thảm họa không thể hoán cải.

Đúng thế! Từ vũ khí của kẻ thù, thành vũ khí trong tay ta. Thì mài sắc nó lên, phục vụ cho sự nghiệp của ta.

Không có gì phải cảm ơn những người đã truyền chữ quốc ngữ vào Việt Nam. Vì nó trước hết là công cụ của nhà thờ, là phương tiện của thực dân, của bọn kẻ cướp. Nó đã cắt đứt nền văn hóa cổ truyền của ta. Bây giờ con cháu không đọc được gia phả. Dân làng không đọc được hương ước xưa. Sinh viên Văn – Sử phần lớn chỉ biết Bình Ngô đại cáo qua bản dịch. Thế thì đáng kể tội hay kể công cho de Rhodes?

Chúng tôi vẫn kiến nghị: Không cần phải dựng tượng Alexandre de Rhodes và những người như thế. Nhưng cần có Bảo tàng chữ quốc ngữ để nghiên cứu và ghi nhận những người có đóng góp vào lịch sử hình thành và tiến triển của chữ quốc ngữ ở Việt Nam.

Nói như thế để thấy tri thức về chữ quốc ngữ của GS. Phan Huy Lê, dù ở góc độ nào, cũng là tri thức chưa đầy đủ, chưa đúng.

Thiếu sự lịch lãm

Ông Phan Huy Lê kể lại:

“Tôi nhớ mãi là sau 1975, khi chúng tôi vào miền Nam, nhiều trí thức trong đó đã nói rằng họ rất băn khoăn khi nhân dân hỏi thì không biết trả lời thế nào về lịch sử Nam bộ trước khi người Việt vào khai phá. Nếu lấy từ thế kỷ XVII người Việt vào khai phá Nam bộ thì người ta sẽ đặt câu hỏi ngược lại vậy lịch sử của Nam bộ, của Sài Gòn trước đó thể? Không lẽ từ trên trời rơi xuống? Rõ ràng đây là nhận thức phiến diện tạo thành một khoảng trống lịch sử” (Báo Tuổi Trẻ, ngày 23-2-2017).

Ngay sau 1975 mà đặt ra câu hỏi như thế thì thật đáng thương cho những con mọt sách. Hôm đó, hay hồi đó, Giáo sư trả lời họ thế nào, không thấy Giáo sư nói ra. Hay là Giáo sư gật đầu mỉm cười. Nếu hôm đó mà Giáo sư nói được như thế này:

- Vâng. Nhưng hơn 100 năm qua, từ 1858, nhân dân ta phải tranh đấu để giành lại độc lập. Đất nước có độc lập, thống nhất, xã hội có ổn định mới nói chuyện xa xưa được. Còn hôm nay và trước mắt chúng ta phải khắc phục hậu quả khủng khiếp của chiến tranh. Mà cần trước hết là nhân hòa. Có thời có thế rồi, có địa lợi rồi, thì nhân hòa phải lo trước. Dần dần, tùy điều kiện, khả năng, chúng ta phải làm tất cả. Nhưng không thể ôm lấy tất cả, vào cùng một lúc ngay hôm nay…

Nếu hôm ấy Giáo sư nói được như thế thì chắc sẽ có nhiều nhà trí thức yên tâm ở lại quê hương đất nước cùng chung lưng đấu cật, không phải làm thuyền viên, thoát được tấm thân mà lòng càng thù hận… Và nếu được như thế, hôm nay Giáo sư không phải đột phá rào cản ý thức hệ, đưa ra quan điểm lịch sử mới…

Nhưng tôi đồ rằng Giáo sư bịa ra cuộc gặp gỡ trên để lấy cớ đưa ra cái khoảng trống lịch sử, là một tư tưởng kích động thù hận dân tộc, bới móc lại những mâu thuẫn đã ngủ yên trong quá khứ, khi Nam bộ là “máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam”, Nam bộ là bộ phận không thể tách rời của nước Việt Nam. Sông có thể cạn. Núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi. Tôi nhớ không chính xác, nhưng đại ý, vào năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói như thế.

Đến đây thì quan điểm vượt thoát rào cản ý thức hệ của GS. Lê đã quá rõ, đó không phải đơn thuần sử học. Vả chăng, lịch sử không bao giờ đơn thuần chỉ là “tạo dựng lại những trang sử bằng cứ liệu lịch sử khách quan trung thực”!

GS. Phan Huy Lê đã mượn lời phóng viên đưa ra luận điểm rất bậy bạ: “Ông cho rằng nhận thức về lịch sử Việt Nam hiện nay vẫn xuất phát từ truyền thống thời quân chủ, đó chủ yếu là lịch sử của các vương triều, của nhà vua, các triều thần, còn lịch sử của nhân dân rất mờ nhạt” (Báo Tuổi Trẻ, số đã dẫn).

Ông nên xem lại hoạt động của Ban Văn – Sử – Địa (1953) cho đến Viện Sử học và Khoa sử các trường đại học, cao đẳng, chương trình phổ thông… hôm nay xem có thế không? Đến đây thì ông Phan Huy Lê muốn làm một nhà dân chủ theo phái dân túy chứ không phải nhà sử học. Nên không cần bình luận nhiều. Vì thực tiễn đời sống rất khác với tri thức của ông Phan Huy Lê.

Trong bài trước, chúng tôi có nói GS. Phan Huy Lê và ông Đinh Khắc Thiện cố tình lờ bỏ qui luật cơ bản của lịch sử hiện đại Việt Nam và điều kiện hoàn cảnh của đất nước sau chiến tranh. Điều đó thể hiện trong lời kể của GS. Phan Huy Lê về câu hỏi nỗi băn khoăn của các trí thức miền Nam sau 1975. Tôi nghĩ, cả người hỏi lẫn người kể lại đều đóng kịch cả thôi. Một trí thức có lương tri lương tâm có tinh thần dân tộc thì vào thời điểm đó phải ngỡ ngàng rồi tự hào, vui mừng, rồi tìm hiểu vì sao dân tộc này chiến thắng. Chiến thắng rồi thì phải làm sao để xây dựng đất nước phát triển dân tộc. Hàng núi công việc cần kíp trước mắt. Lo cho ổn định cuộc sống trước mắt là ưu tiên hay tìm hiểu lịch sử Nam bộ mấy trăm năm trước là ưu tiên? Từ sổ gạo, tem phiếu đến xuất khẩu gạo là cần là đúng hay loay hoay đi hỏi ông Trời xem đồng bằng Nam bộ có phải từ trên đấy rơi xuống không? Các sự kiện cuối 1978 rồi 1979 và sau đó ở Tây Nam, ở phía cực Bắc, ở Tây Nguyên, ở Gạc Ma (1986)… có ảnh hưởng gì đến nhận thức lịch sử?

Tinh thần chung trong thuyết trình của GS. Phan Huy Lê là lên án gay gắt sự bảo thủ của quan điểm lịch sử trước Phan Huy Lê, chì chiết, chỉ trích, kích động, mỵ dân… đủ cả. Càng nhiều tham vọng càng lắm chiêu trò. Còn chúng tôi bình tĩnh, không bị kích động trước mọi lời lẽ mỵ dân. Chúng tôi phải xem xét xem tri thức của GS. Phan Huy Lê như thế nào. Đáng tiếc, là từ 2008 đến nay, đều là tri thức không đầy đủ. Ông chưa đạt đến lương thức của nhà nghiên cứu lịch sử chân chính. Sự phản bác lại GS. Phan Huy Lê trên báo chí từ 2008 đến nay chứng tỏ điều đó.

TP. Hồ Chí Minh, 10-6-2017

(Xem tiếp kỳ sau)

Nguyễn Ngọc Quang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 456

Ý Kiến bạn đọc