Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Tri thức sách vở

(Tiếp theo số báo 561, ngày 29-8-2019)

 

Cần nhận diện các kiểu dạng của Tri thức sách vở để xử lý thích đáng.

Có tri thức sách vở trung thành, trung thực. Sự bộc lộ của dạng này cũng rất phong phú.

Theo sách vở một cách máy móc. Như chuyện cái no của người xưa trong Cổ học tinh hoa. Có người ra hiệu đóng giày, quên mất cái no (mẫu đo bàn chân) ở nhà. Chủ tiệm bảo đo lại. Ông ta nhất định không nghe, chỉ tin vào cái no. Bèn quay về, hẹn hôm sau đem no đến đóng giày.

Có trường hợp tin vào sách vở mà không đọc cho đến nơi đến chốn hết chương mục như chuyện Phúc thống phục nhân sâm (Đau bụng cho uống nhân sâm thì tắc tử).

Phần lớn còn lại là do chỉ có lý thuyết mà không có tri thức thực tiễn. Chúng ta gặp khá nhiều trong đời sống văn hóa. Rõ nhất là ở Ngữ văn 9 mà chúng tôi đã hơn một lần nói đến. Các tác giả không phải thiếu khả năng tìm hiểu đối tượng. Nhưng do quan liêu xa rời thực tế, chỉ xem xét trên văn bản, không suy luận. Tiêu biểu nhất của bệnh tri thức sách vở trong Ngữ văn 9 là bài Phong cách Hồ Chí Minh… Tác giả bài viết này là một người có uy tín trong giới nghiên cứu văn hóa, Cố GS. Lê Anh Trà, Nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa. Song đáng tiếc là GS. Lê Anh Trà viết cũng rất “sách vở”, không căn cứ trên thực tế cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Làm gì có chuyện Anh Ba phụ bếp đã “ghé vào các hải cảng”, “đã đi thăm các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ…”. Ghé vào… chỉ là thời gian hạn chế để giải quyết những yêu cầu cần thiết của con tàu trên hành trình. Tàu chở hàng phải là dừng lại hay đỗ lại hay thả neo… Khách du lịch hay các chính khách cỡ nguyên thủ quốc gia mới đi thăm các nước. Một phụ bếp cho dù lâu năm cũng không thể ở vị thế đi thăm các nước… Người viết suy luận chủ quan, người biên soạn, biên tập, đọc duyệt lại cả tin vào tác giả. Ở đây là tin vào danh vọng của người viết mà không xem xét nội dung thực tế của bài viết.

Biểu hiện khác của bệnh tri thức sách vở là hạn chế về nghiên cứu cả bề rộng và bề sâu. Do chỉ có được ít tư liệu rồi suy luận phán đoán trên cơ sở hạn chế đó. Bài của một PGS.TS mà chúng tôi đã nói đến trên Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh số 557 là một ví dụ. Chỉ xuất phát từ luận điểm của các nhà Marx học phương Tây rồi đối chiếu với luận điểm của Marx về định nghĩa con người (Con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội) rồi đi đến kết luận là Marx đã “bỏ quên” nên cần phải bổ sung để có “con người bản thể”. Nếu xem xét mục đích của các nhà Mác học phương Tây và quan niệm về con người của phương Đông và truyền thống Việt Nam thì nhìn vấn đề sẽ khác. Một thí dụ rất điển hình là người ta cứ viết theo nhau rằng Trương Vĩnh Ký là một trong “thập bát văn hào thế giới thế kỷ XIX”. Phải đến Trần Thanh Ái năm 2018 trên Xưa & Nay mới tìm đến tận nguồn thì đó chỉ là những tác giả do một tạp chí địa phương ở Pháp chọn (Xem Luận chiến văn chương Q.V: Văn hào cấp tỉnh).

Chúng tôi đặc biệt lưu ý tình trạng sách vở có mục đích đang tràn lan trong nghiên cứu văn học và sử học hiện nay. Đó là sự trích dẫn một phần một đoạn một điểm nào đó để biện hộ, chứng minh, bảo vệ cho tư tưởng của người viết. Chúng tôi tạm gọi là phân khúc sử học nhưng có thể vận dụng chung cho toàn bộ nghiên cứu khoa học xã hội. Họ đưa ra lập luận đúng là có cơ sở, nói có sách mách có chứng. Nhưng những sở cứ đó, đặt trong toàn thể, lại là cắt xén, bóp méo, xuyên tạc. Cũng có thể gọi là tri thức ngụy biện. Tình trạng này đang phổ biến trong các công trình nghiên cứu của những người hoài cổ vô nguyên tắc. Rõ nhất là trường hợp chiêu tuyết cho Phạm Quỳnh, Bảo Đại, Hoàng Cao Khải…

Chúng tôi đã nhiều lần nói đến Phạm Quỳnh, nay chỉ nói thái độ khoa học của nhà nghiên cứu qua việc trích dẫn về Phạm Quỳnh. Đó là sự trích dẫn không nghiêm túc, không đúng đắn. Kể cả những bậc lão thành trong văn học và sử học như các GS. Đinh Xuân Lâm, Văn Tạo, Nguyễn Đình Chú, Phong Lê; nhà sử học Trần Văn Chánh…

Chẳng hạn, để đề cao Phạm Quỳnh, người ta trích dẫn bài viết của Phạm Quỳnh về Mặc Địch vị thánh tông đồ. Ca ngợi Mặc Địch còn hơn cả Khổng Tử (Phạm Toàn). Nhưng Mặc Địch trong thời đại của Mặc Địch khác hẳn Mặc Địch trong thời đại của Phạm Quỳnh. Khi có hai hoặc hơn hai thế lực tranh chấp với nhau bằng vũ lực như thời Xuân Thu chiến quốc bên Tàu thì tư tưởng của Mặc Địch là tiến bộ, phù hợp. Nhưng khi Pháp đã xâm lược Việt Nam và đang thống trị Việt Nam một cách tàn bạo, nhân dân Việt Nam không cam chịu làm nô lệ, đang đứng lên chống lại giặc ngoại xâm, lại đem tư tưởng Mặc Địch ra tuyên truyền, ru ngủ dân chúng thì sự lợi hại là như thế nào, có gì là khó hiểu.

Hoặc khi trích dẫn những đánh giá của Thiếu Sơn, Nguyễn Công Hoan, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh… về Phạm Quỳnh, người ta chỉ lấy đoạn đầu, trước 1945 mà lờ đi phần sau này. Nếu xem đầy đủ cách nhìn, sự định giá của Thiếu Sơn về Phạm Quỳnh từ 1933 trong Phê bình và cảo luận với cũng của Thiếu Sơn sau này cho đến năm 1974-1975 được công bố trong Tuyển tập Thiếu Sơn, NXB Văn học, H.2000 và Trường hợp Phạm Quỳnh – Chủ đích Nam Phong của GS. Nguyễn Văn Trung, NXB Nam Sơn, Sài Gòn, 1975; cũng như của Vũ Ngọc Phan và Hoài Thanh trên Tạp chí Văn học năm 1965… thì mới thấy thực chất là như thế nào (Xem Luận chiến văn chương. Q.V. Văn học – 2019).

Cụ thể hơn, xin nhắc lại câu nói của Phạm Quỳnh năm 1924: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn. Có gì mà lo. Có gì mà sợ. Còn điều chi nữa mà ngờ (Tranh luận về Truyện Kiều. Văn học – 2014). Nhưng không rõ từ đâu, từ bao giờ, có thể là một người nào đó đã viết câu đó treo ở một ngôi chùa, nơi sinh thời Phạm Quỳnh hay lui tới và được nhà chùa dành cho một trai phòng. Rồi từ đó, để ca ngợi Phạm Quỳnh có tâm, có lòng, có công với quốc văn quốc ngữ, người ta chỉ trích dẫn nửa câu nói của Phạm Quỳnh: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn. Rồi nhiều bậc danh vọng cũng trích dẫn, bàn luận, khẳng định câu nói đó là hoàn toàn chân lý (GS. Nguyễn Đình Chú – Cõi người ta. Tập I. Hội Kiều học. 2015)… Thế rồi một đồn mười, mười đồn trăm, trăm truyền ngàn vạn… đến nỗi vừa rồi NXB Hội Nhà văn và Công ty Nhã Nam in lại Thượng chi văn tập rất trang trọng, có cả ảnh phần mộ Phạm Quỳnh, trên bia mộ khắc câu: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn. Và câu “Tiếng là nước. Có tiếng mới có nước, có quốc văn mới có quốc gia” (Thượng chi văn tập. NXB Hội Nhà văn. H.2018. Phần phụ lục ảnh từ sau trang 576 đến 577). Chúng tôi trộm nghĩ nhạc sĩ Phạm Tuyên và gia đình đã quá dễ dãi khi để cho những người xu thời cơ hội tâng nịnh Cụ nhà một cách phản khoa học, phản văn hóa và lịch sử đến như thế. Chúng tôi đã chứng minh hai mệnh đề trên là không có cơ sở khoa học. Chúng ta cùng nhớ lại xem. Quốc gia của người Việt có từ bao giờ. Tạm lấy năm 938, khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, khẳng định quốc gia Độc lập, thoát khỏi thời kỳ Bắc thuộc. Còn nền quốc văn của người Việt có từ bao giờ. Cụ Phạm thông thạo chữ Hán, rất tự hào về 2.000 năm lịch sử của dân tộc, sao lại không biết có thơ văn Lý – Trần. Và cũng rất tự mâu thuẫn. Cụ Phạm khẳng định tiếng ta (Truyện Kiều) còn. Nước ta còn. Có gì mà lo. Có gì mà sợ. Còn điều chi nữa mà ngờ (đây là câu 3.125 của Truyện Kiều). Nhưng Cụ lại đi hô hào gây dựng tài bồi cho quốc văn quốc ngữ. Vậy thì trong khoảng 1917-1932, cái nước ta nó đang ở đâu!

Cùng với việc cố tình trích dẫn không đầy đủ là việc đưa ra những thông tin, những tri thức sai. Nếu người đọc, người tiếp nhận không có tinh thần biện chứng khoa học rất dễ tin theo. Điển hình là các thông tin của nhà văn Sơn Tùng và cố GS. Đinh Xuân Lâm về các lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kẻ hậu học cả tin cứ thế truyền tụng, hậu quả thật là tai hại. Điều này chúng tôi đã nhiều lần nói đến trong các bài mục về Phạm Quỳnh (Xem Luận chiến văn chương. Q.V. NXB Văn học – 2019).

Tri thức sách vở còn có rất nhiều trong tiếp nhận văn hóa bên ngoài. Điển hình là văn học dịch. Ở đây cũng có hai dạng. Một là thực thà. Thấy tiểu thuyết của nhà văn X được Giải Renaudot danh giá (Pháp) liền dịch sang tiếng Việt và tuyên truyền, quảng bá, coi như tấm gương cho văn học Việt Nam hôm nay. Xem một nhà văn vào loại “Do Thái gian” là một giá trị văn học (Xem Độc đáo… theo Tây. Chu Giang. Văn Nghệ – Hội Nhà văn, các số 29 và 31, năm 2019). Hoặc thấy một người Thụy Điển dịch Tiểu thuyết hậu hiện đại đầu tiên của Ba Lan liền dịch ngay sang tiếng Việt, tổ chức giới thiệu ầm ĩ (Cô gái không là gì. Lê Bá Thự dịch. NXB Hội Nhà văn – 2013). Đây là tự bạch của dịch giả: “Bắt đầu từ gợi ý của một dịch giả người Thụy Điển đã từng chuyển ngữ cuốn sách này, tôi đi tìm mua sách tại thủ đô Warszawa, đọc xong tôi vô cùng hứng thú bởi sự đa tầng đa nghĩa của tác phẩm…” (Lê Bá Thự. 25 năm dịch và viết. NXB Phụ nữ – 2016. Tập II. Trg.182). Thế đấy! Không cần biết chủ nghĩa hậu hiện đại nhằm hai mục đích là giải chủ nghĩa duy lý và giải chủ nghĩa Mác (Xem Nguyễn Văn Dân. Vấn đề tiếp thu văn học nước ngoài. Văn Nghệ – Hội Nhà văn, số 34, tháng 8-2019). Chủ nghĩa hậu hiện đại đã làm biến chất một người Cộng sản có đến 55 tuổi Đảng như thế đấy!

Một cách nhẹ nhàng, chúng tôi mới chỉ xem đây là hậu quả của bệnh sách vở. Theo cách nói của ông bà là Thuyền đua cái lái cũng đua… Thấy người ta như thế cũng vội vàng… như thế, mà không xem lại họ là ai mình là ai, rồi trách ông bà: Sao không cưa cá ra từng khúc mà lại dùng dao chặt… (Người Eskimo ở Bắc cực, mỗi bữa ăn dùng cưa để cưa một khúc cá đã đóng băng vất ngoài sân vì trời rất lạnh, thường dưới 00C).

Chuyện còn nhiều lắm. Vài ví dụ để bạn đọc có thể liên tưởng liên hệ được. Xin trân trọng.

Hà Nội, 31-8-2019

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 563

Ý Kiến bạn đọc