Tản văn

Tri kỷ của rừng

Tỉnh Đồng Nai có hơn 150.000 ha rừng liền mạch trong đó có rừng tự nhiên, khu ramsar và các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp quốc gia. Từ năm 2011, rừng Đồng Nai (bao gồm khu bảo tồn và Vườn quốc gia Cát Tiên) đã được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới Đồng Nai. Đây là tài sản quý giá, là lá phổi xanh của toàn vùng Đông Nam bộ.

Nhiều năm qua, công tác bảo vệ rừng, bảo vệ Khu dự trữ sinh quyển thế giới Đồng Nai luôn được tỉnh coi trọng.

Con đường trải nhựa càng ngược lên xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu càng vắng vẻ trong cái nắng ong ong vàng vọt của mùa mưa. Ngồi sau chiếc honda của Phó Trạm kiểm lâm cơ động Nguyễn Tiến Tới, tầm mắt tôi bị giới hạn bởi hai bên đường là bức “tường” xanh cây bụi, dây leo nhằng nhịt, thi thoảng lại có những cây dầu, cây kơnia hay cây chò cao vượt lên. Gió thổi lồng lộng. Giọng Quảng Bình ấm áp, Tới kể, anh học trung cấp lâm nghiệp, ra trường được điều về một trạm kiểm lâm sâu tít trong rừng, vài năm sau thì được chuyển về trạm cơ động. Hóa ra anh chàng kiểm lâm tướng cao ráo này đã có hơn 10 năm lặn lội trên các cánh rừng thâm u, chịu đựng những cơn sốt rét rừng run cầm cập. Anh bảo, hồi mới vào nghề, những đêm trực ngồi một mình, nhìn bốn bề tối đen, chỉ có tiếng rừng, anh buồn muốn khóc.

Tới chỉ cho tôi những cây sao, cây dầu, cẩm lai, gõ mật ven đường, nói cây mới bằng từng ấy nhưng các anh trồng 7 – 8 năm rồi. Càng gỗ quý, cây càng lớn chậm. Mùa khô cây non hay chết, phải trồng đi trồng lại mấy lần. Kiểm lâm tạo vành đai an toàn cho rừng bằng cách dọn sạch cỏ, lá rụng để lửa không bị cháy lan nếu có hỏa hoạn. Mùa khô chỉ một bất cẩn nhỏ của người dân như một tàn thuốc lá, một que diêm cháy dở hay một đám đốt rẫy vô ý đều có thể gây thảm họa.

Rung-Khu-Bao-ton-Thien-nhien---Van-hoa-Dong-Nai
Rừng Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai – Ảnh: V.Sự (dongnaireserve.org.vn)

Trạm kiểm lâm cơ động gồm một chốt trực ven đường với thanh chắn (barie), một ngôi nhà chính, một nhà ngang và căn bếp lợp tôn. Chiếc xe phòng cháy chữa cháy và chiếc jeep đậu trong sân trông “hầm hố” và “xưa như trái đất”, lớp bùn đỏ phủ kín xe đã khô quánh. Tới giới thiệu tôi với anh Nguyễn Hữu Đạo, Hạt phó Hạt kiểm lâm Khu Bảo tồn thiên nhiên văn hóa. Anh Đạo tầm thước, da hơi men mét, nước da của người ở rừng nhiều. Anh bảo Trạm kiểm lâm cơ động hiện có 24 người, có chức năng bao trùm gồm kiểm tra, ngăn ngừa nạn phá rừng, lấn chiếm đất để canh tác, khai thác lâm sản trái phép, ngoài ra còn giám sát hoạt động của các trạm kiểm lâm khác.

Khu dự trữ sinh quyển thế giới Đồng Nai có diện tích gần 1 triệu hécta (chính xác là 969.993 ha), trải rộng trên địa bàn 5 tỉnh, trong đó phần lớn thuộc tỉnh Đồng Nai. Ngoài ra còn có cả một hệ thống sông, suối, ao, hồ và các di tích văn hóa lịch sử nằm rải rác đó đây. 38 trạm kiểm lâm với 340 kiểm lâm viên, mỗi trạm quản lý từ 5.000 – 6.000 ha rừng. Lực lượng kiểm lâm mỗi trạm chỉ 7 – 10 người, khó có thể đi hết những cánh rừng mênh mông mà thật ra chỉ là phần “còn sót lại” ở miền Nam Việt Nam. Địa bàn rộng nên anh em ngày nào cũng đi rừng, có khi đi hai lần. Họ xuất hành vào giờ bất kỳ, không theo lối mòn, mang theo tiểu liên AK, súng ngắn K59, gậy cao su, còng số 8, máy định vị. Trên đường tác nghiệp không thiếu sự cố dở khóc, dở cười. Ví như đụng phải rừng lồ ô đang “khuy”. Cả một vùng mênh mông cây lồ ô lá xanh ngắt bỗng trở nên vàng lụi rồi lần lượt đổ rạp, lớp nọ chồng lên lớp kia cao như quả đồi. Những lớp dưới cùng bị nắng gió thời gian, sâu bọ làm mục ruỗng, liều mạng trèo qua không may nó sụp xuống thì y như bị chôn sống.

Ngồi đối diện với anh Đạo bên bàn nước, anh rót thêm trà vào tách của tôi, bảo các anh phải đương đầu với núi cao, vực sâu, đèo dốc, muỗi mòng, vắt, mưa rừng, thú dữ… Đủ cả. Rừng nhiệt đới rậm rạp, lắm gai, cái thứ gai mây nhọn như kim, lỡ bị đâm vào tay chân thì gãy luôn trong da thịt, buốt tới óc. Rồi còn cây bụi, dây leo, nhiều lúc phải chui, luồn, bò…

- Có lần tôi đang “bò” qua một bụi mây rậm rạp thì bất ngờ đụng một con heo rừng. Nó cũng phủ phục nhìn tôi. Thật là… ớn xương sống. Thú rừng con nào cũng có vẻ đẹp dữ dằn oai phong chứ không như những con vật nuôi hoặc thú rừng đã được thuần hóa đâu. Con heo rừng này, hai cái nanh của nó nhọn hoắt vểnh lên rất “ngầu”. “Hai đứa” trừng trừng nhìn nhau rồi chẳng hiểu sao, nó… bỏ đi. Thật hú vía!

Anh Đạo nói rồi cười, nụ cười vui vẻ khiến anh trẻ hẳn ra. Tôi cũng cười, hỏi anh mùa nào thì kiểm lâm vất vả hơn? Anh Đạo trầm ngâm một chút rồi nói:

- Mùa nào cũng có cái khổ. Mùa khô những kẻ săn bắt thú trái phép hay gài bẫy. Mùa mưa thì đi lại khó khăn, muỗi, vắt, cây đổ… Trên đường kiểm tra lỡ đụng con suối, anh em phải bọc quần áo vào túi nhựa, vừa bơi, vừa đẩy qua suối. Nhiều đoạn đường có độ dốc cao nên suối chảy rất “hỗn”, chúng tôi phải quăng dây qua suối, buộc thật chắc vào gốc cây cho mọi người đu sang. Bởi vậy, làm kiểm lâm phải dũng cảm, khéo léo, có sức khỏe thì mới trụ lại được với nghề.

Đầu giờ chiều, Tới dẫn tôi lên trạm Cây Gùi. Trời không mưa nhưng nắng yếu nên có cảm tưởng như đã sẩm chiều. Trạm trưởng Phạm Văn Lan quê Nghệ An, từng có 3 năm trong quân ngũ. Trò chuyện một hồi, anh Lan vào nhà mang ra một vật giống như chiếc túi vải hình vuông, giở ra thì đó là bộ võng mùng gấp, được thiết kế để đi rừng hay đi dã ngoại, rất tiện lợi. “Vật bất ly thân” của kiểm lâm là cái máy định vị nặng trịch như cục gạch, đen thui, thoạt nhìn giống chiếc điện thoại di động đời cũ, phía trên nhô ra “cái vòi” ăngten.

- Cái máy này xác định phương hướng, tọa độ, dẫn đường cho kiểm lâm. Nhưng nếu chẳng may lọt xuống vực sâu thì máy định vị cũng vô dụng vì không có sóng, lúc đó lại phải dùng phương tiện “cổ điển” là cái la bàn.

Anh Lan cho biết, trạm Cây Gùi quản lý gần 5.000 ha rừng, chủ yếu là cây quý có nguồn gốc bản địa như gõ mật, giáng hương, sao, cẩm lai, dái ngựa… Anh em vừa đi rừng về lúc 1 giờ, ăn uống, nghỉ ngơi một lúc, độ 3 giờ chiều lại xuất hành. Những chuyến đi dài ngày anh em mang theo gạo, thức ăn, dựng lều nấu cơm trong rừng, gặp mưa gió thì vất vả không kể xiết. Nguy hiểm nhất là gặp bò tót hoặc heo rừng. Đụng phải thú mẹ đang nuôi con thì sự nguy hiểm tăng gấp bội vì lúc đó thú mẹ rất dữ tợn; đã có trường hợp kiểm lâm mang theo súng mà trở tay không kịp.

Ứng phó với thú dữ đã vậy, với con người càng khó hơn. Vùng lõi và vùng đệm Khu Dự trữ sinh quyển Đồng Nai có trên 20.000 hộ dân với khoảng hơn 100.000 nhân khẩu. Nhiều hộ là Việt kiều Campuchia dạt về, tôn giáo, tín ngưỡng phức tạp. Đa số dân sống bằng nghề làm thuê các kiểu, đánh bắt cá dưới lòng hồ, phá rừng lấy gỗ dựng nhà, lấy đất trồng cây ăn trái. Họ cũng vào rừng săn bắt thú, tìm cây thuốc nam, khai thác lá nón, tóm lại là tất cả những gì có thể biến thành tiền. Để đối phó với kiểm lâm, họ liều lĩnh, khôn lanh và “lắm chiêu”. Mùa mưa, sợ để lại dấu chân hay dấu bánh xe, họ khiêng xe máy giấu vào bụi rậm. Hàng chục năm lăn lộn, anh Lan từng trải qua không ít lần chữa cháy rừng và cũng nhiều phen phải xử lý lâm tặc. Xét cho cùng, lâm tặc cũng là người, sau lưng họ là gia đình, là nhu cầu ăn, ngủ, học hành, rồi còn vợ yếu con thơ, cha già mẹ héo… vì kém hiểu biết, vì lòng tham hoặc vì nhu cầu cơm áo bức bách mà họ nhắm mắt làm liều. Nhiệm vụ nặng nề của các anh là phải góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bà con vùng lõi, để họ không mưu sinh bằng cách xà xẻo, vắt kiệt tài nguyên rừng.

- Có đợt tôi ở liền mấy ngày trong rừng, về trạm tắm xong ngồi ăn cơm thấy người ngây ngấy sốt. Chỉ kịp chui vào giường là mê man không biết trời đất gì nữa. Mấy hôm sau tỉnh lại, thấy mình đang ở… bệnh viện.

Anh Lan kể chuyện tác nghiệp với giọng vui vẻ, như thể khoe một chuyến du lịch thú vị, gương mặt sạm nắng dãn ra trong nụ cười đôn hậu. Anh bảo kiểm lâm mỗi tháng chỉ được nghỉ 6 ngày. Đêm 30 Tết không dám về với vợ con vì lâm tặc hay lợi dụng dịp này để thực hiện ý đồ xấu. Thiệt thòi thế nhưng anh em vẫn bám nghề vì lỡ “yêu rừng” rồi.

Phải, đúng là vậy. Với những kiểm lâm có mấy chục năm trong nghề như anh Lan, anh Đạo, tôi tin trong đầu họ lúc nào cũng thường trực ý nghĩ về rừng, ăn, ngủ, vui, buồn, ước mơ, hy vọng… thảy đều có bóng dáng rừng. Có thể nói, rừng đã trở thành một phần máu thịt của họ.

Buổi tối, tôi ngủ trong căn phòng của trạm trưởng đang đi học vắng. Phòng nhỏ, sơ sài, bên những bộ trang phục kiểm lâm treo trong cái tủ gỗ không khóa, tôi chợt nhìn thấy cây đàn ghita. Cây đàn đánh thức trong tôi những kỷ niệm thời sinh viên đã rất xa, khiến tôi nao nao nghĩ đến đời sống tinh thần còn nghèo nàn của anh em kiểm lâm. Cây đàn ghita này hẳn là “món chủ lực” góp vui cho anh em nguôi bớt nỗi buồn xa nhà.

2 giờ sáng, một tốp kiểm lâm trẻ lục sục trở dậy, nai nịt gọn gàng để lên đường tác nghiệp, tôi cũng dậy, rón rén đi ra trạm gác. Bóng người cán bộ trực ban cúi xuống ghi chép trong cuốn sổ khiến tôi bồi hồi, ở đây dù nắng hay mưa, ban đêm hay ban ngày, anh em kiểm lâm vẫn cần mẫn và thầm lặng với công việc của họ.

Sáng ra, tôi xếp gọn mùng mền, ra khỏi phòng. Dưới nhà ngang, một phụ nữ dáng vẻ lam lũ đang ngồi, chiếc nón lá úp lên hai đầu gối. Chắc lại một vụ xâm hại rừng! Quả đúng vậy khi anh Đạo nói, chị ta hái trộm măng. Trước đây kiểm lâm vẫn cho bà con được khai thác những cây măng cong hay mọc quá dày, chỉ yêu cầu họ để lại những chồi măng thẳng, khỏe để nó phát triển thành rừng. Nhưng bà con kém ý thức, cứ những mầm măng tốt nhất mà chặt. Rốt cuộc đành cấm hết. Cấm nhưng bụng đói đầu gối phải bò, người dân bí cùng vẫn làm liều.

Người đàn bà thi thoảng lại “nói leo” vào câu chuyện của chúng tôi, chẳng có vẻ gì là áy náy hay sợ sệt. Dường như người dân vẫn vô tư, hồn nhiên với việc vi phạm quy định của các cơ quan chức năng và họ chỉ nghe theo mệnh lệnh của cái bao tử. Như vậy thì anh em kiểm lâm sẽ còn vất vả nhiều.

*

8 giờ sáng, tôi và Tới lên đường đi Suối Ràng. Sau cơn mưa, đường nát bấy, nhiều chỗ gai mắc cỡ rậm rạp hai bên “thò” ra níu lấy ống quần. Càng vào sâu, đường càng dốc, chỗ nào không bị gai góc bít kín, bánh xe nghiến rào rạo trên nền đá lởm chởm, sỏi vụn bắn rào rào. Đang đi, gặp một cây đổ chắn ngang, tôi phải xuống xe, chờ Tới rút dao ra chặt, dọn đường. Hồi nọ nhà văn Lý Văn Sâm từng nổi danh với những cuốn tiểu thuyết đường rừng đầy ma mị, cuốn hút. Bây giờ mười mấy cây số đường rừng chỉ có hai chúng tôi, chưa bao giờ tôi thấy thiên nhiên gần gũi, thân thương đến vậy. Tim tôi đập rộn lên khi ánh mắt chạm vào những bụi mum, bụi lồ ô xanh ngắt với những gióng dài suôn thẳng tuyệt đẹp. Đây đó những tổ chim bám trên cành cây trông ngộ nghĩnh như thứ trái cây lạ. Tâm hồn tôi choáng ngợp trước màu xanh mướt mát, tươi rói của cây cối, cỏ hoa, như vừa được tưng bừng tắm gội sau một mùa khô bụi bặm, nắng lửa. Rừng lộng lẫy, căng tràn sức sống với đủ loại cây, nổi bật là những thân gỗ lớn sừng sững – một biểu tượng hùng mạnh của thiên nhiên. Lại nhớ nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường từng viết về rừng Trường Sơn sau ngày miền Nam giải phóng với đàn bò tót ồ ạt chạy, đàn voi di chuyển ầm ầm… Bây giờ những hình ảnh ấy gần như đã biến mất ở hầu khắp các địa phương có rừng, nhưng ở đây rừng vẫn sinh sôi nảy nở, khỏe khoắn và dẻo dai như tự thuở hồng hoang vậy. Những cánh rừng sum suê và đẹp như tranh này thể hiện sự sáng suốt của lãnh đạo tỉnh Đồng Nai, ý thức tôn trọng thiên nhiên cùng công sức nhiều năm miệt mài chăm sóc, giữ gìn từng lá cây ngọn cỏ của những người trực tiếp quản lý, bảo vệ rừng. Tôi thoáng nhớ đến gương mặt tươi cười của mấy anh em trạm cơ động khi họ tự hào khoe rằng rừng “của mình” còn giữ được nhiều cây quý không nơi nào có được.

Anh em Trạm kiểm lâm Suối Ràng đã đi tuần tra, để lại những chiếc xe máy bết bùn, chiếc nào cũng không có bửng. Trạm trưởng Nguyễn Văn Lập có gương mặt hiền lành phúc hậu, trông chững hơn tuổi 50. Anh vui vẻ vạch áo, khoe cái bụng tròn với vết mổ sỏi mật chưa kịp kéo da non sau 17 ngày nằm viện. Đáng lẽ ở nhà nghỉ ngơi thêm ít bữa nhưng vì trạm thiếu người quá nên anh lại vào. Nghe tôi khen trạm ngăn nắp, sạch, đẹp, anh cười chỉ cho tôi một cây mây rừng dựng nơi vách tường:

- Mấy đứa kiểm lâm trẻ tụi nó nghịch lắm, sinh hoạt cũng bê bối, luộm thuộm. Tôi phải dùng cái roi mây này quất cho mỗi đứa vài roi, bắt chúng dọn dẹp nên mới được vậy.

Anh Lập cho biết, Trạm Suối Ràng hiện đang quản lý 4.986,8 ha rừng hỗn giao, nhiều cây lớn, nhiều thú nên luôn bị lâm tặc rình rập. Ở đây có bầy nai 7 con hay về đập tràn uống nước và một đàn voi trên 10 con mỗi năm về “phá” hai lần. Chúng thò cả vòi vào bể nước ăn của trạm để uống nước, lôi đổ xe máy, phá khóa cửa, giật đổ dàn bí dàn bầu, quật ngã cây mít để lấy trái ăn, thậm chí chúng phá hỏng cả hệ thống pin mặt trời. Khi chúng rút đi rồi anh em dọn dẹp, phục hồi lại mọi thứ mệt bở hơi tai. Mệt nhưng còn bầy thú là còn mừng và tự hào, vì chúng sống được là nhờ công sức chăm sóc, bảo vệ của mình. Nhìn theo tay anh, tôi thấy quả là trên thành bể nước còn in rõ mồn một những dấu tích mà bầy voi để lại trong cuộc “quậy” đáng sợ của loài thú khổng lồ.

Anh Lập mang trái mướp ra gọt, thủng thẳng kể, trạm nuôi được gà đẻ, trồng được rau nhưng cũng phải trữ cá khô, trứng muối, đồ hộp, phòng khi mưa gió dài ngày. Buồn nhất là không có sóng wifi, không dùng được điện thoại, muốn liên lạc với gia đình cũng chịu.

Đưa tay chỉ chiếc điện thoại bàn cũ kỹ đặt chênh vênh trên yên một chiếc xe máy, anh nói:

- Cái điện thoại bàn này chỉ để dùng thay radio. Đấy, nó cứ nói rỉ rả suốt ngày nên cũng đỡ buồn. Bây giờ đường sá đỡ rồi chứ trước kia mỗi lần muốn về Ban họp hành, chúng tôi phải cởi quần áo ngoài cho vào túi nilon, chạy ra đến trạm gác ngoài bìa rừng, lấy nước dội sơ cho đỡ bùn đất rồi lại mặc quần áo vào. Bữa nọ có hai nữ một nam, từ thành phố Hồ Chí Minh lên định mở tuyến du lịch dã ngoại. Mới đi thám sát, khi trở ra cô khách nữ ngồi khóc sụt sùi, sợ vắt đến nỗi nhất định bỏ cuộc.

Tôi im lặng, chợt thấy lòng chùng xuống. Từ hôm qua, tôi thấy các trạm kiểm lâm tuyệt nhiên không một bóng hồng, rõ ràng là công việc giữ rừng nơi “thâm sơn cùng cốc” quá nặng nề, nguy hiểm đối với phụ nữ. Sống giữa rừng sâu núi thẳm, xa đồng loại, xa người thân, chịu đựng sự đơn điệu, nhàm chán, thử thách ấy chẳng kém gì ăn đói mặc rét. Vậy mà bao năm qua, các anh kiểm lâm đã sống và làm việc như thế, có mấy ai biết được sự hy sinh lặng thầm của họ. Trong thâm tâm, tôi cảm thấy như mình mang một món nợ khó trả với anh em vì sự vô tâm của mình.

Trong lúc anh Lập vào bếp làm bữa trưa, Tới rủ tôi vào suối Ràng. Anh lột đôi bít tất dày đang đi ở chân đưa cho tôi bảo mang tạm để chống vắt. Về phần mình, anh xăn cao ống quần, nói vui cứ xăn quần lên, con nào bám biết ngay, sẽ xử lý triệt để. Chúng tôi chạy xe máy một đoạn, rồi bỏ xe, lội bộ. Lối đi chỉ mờ mờ trên lớp lá rụng bốc lên mùi ngai ngái, nhiều chỗ phải gần như bò dưới vòm cây lồ ô, cây tạp sà sát mặt đất. Trong rừng tối và lạnh vì không có ánh mặt trời. Bầy muỗi đói bám dính lấy chúng tôi, đốt nhoi nhói. Dè dặt lần theo những tảng đá rêu bám trơn trợt, chúng tôi bước xuống suối Ràng, con suối hùng vĩ hiện ra trong tiếng thác đổ ào ào. Phía trên ngọn thác đang tung bọt trắng xóa, mặt nước yên tĩnh in bóng rừng. Phong cảnh tuyệt đẹp. Tới bỗng kêu to:

- Vắt bám đầy chân cô rồi kìa. Để con bắt cho.

Lúc này tôi mới nhận ra, cả chục con vắt nhỏ bám đầy trên bít tất của tôi từ bao giờ, đang ngo ngoe cái vòi đáng sợ. Tới dùng tay rứt từng con một ném đi. Tôi hồi hộp hỏi:

- Nhỡ nó chui vào người mình thì sao biết được?

- Biết chứ. Cứ thấy ngưa ngứa là đích thị nó đó.

Nói xong, Tới lại cúi xuống rứt những con vắt bám trên đôi bắp chân trần của anh, quẳng ra xa. Câu nói của Tới khiến tôi… nổi da gà. Từ lúc đó, tâm trí tôi chỉ còn tập trung nghe ngóng xem trong người có… ngứa chỗ nào không, một cảm giác vừa hiếu kỳ, lại vừa hoảng sợ.

Trên đường quay về, chúng tôi ghé qua đập tràn, nơi có chức năng điều tiết nước. Không gian thoáng đãng của đập tràn khiến tôi chợt nhận ra, dàn đồng ca của rừng gồm vô số tiếng chim đang râm ran hòa giọng, trong đó trỗi hẳn lên là giọng cúc cù cu hiền lành của chim gáy, tiếng bìm bịp buồn buồn và tiếng gióng giả chói tai của lũ ve rừng. Bất giác, tôi cũng lẩm nhẩm hát theo: “Cúc cu. Cúc cu. Chim rừng ca trong nắng. Im nghe. Im nghe, ve rừng kêu liên miên…”.

Mâm cơm giữa rừng sâu được dọn ra với món “gà sạch” và mướp xào. Anh Lập bảo, anh có bằng đại học chuyên ngành nhưng lương và phụ cấp cũng chỉ 9 triệu một tháng. Anh em kiểm lâm có thâm niên 5 – 6 năm lương chỉ 3 – 4 triệu. Mỗi năm được cấp phát 1 bộ đồng phục ngành, 1 đôi giày, hai năm 1 áo mưa, nhưng giày cứ 2 – 3 tháng là bung nên anh em phải tự mua thêm.
- Có lần đang đi kiểm tra, tôi dẫm trúng kim tiêm, phải đi xét nghiệm vì sợ nhiễm HIV. Rồi còn lạc rừng, anh em phải mang đèn đuốc, súng ống đi tìm. Được cái dân rất quý và phục kiểm lâm, năm nào chúng tôi cũng trực tiếp hướng dẫn bà con trồng và bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng. Nhờ tai mắt từ các gia đình cơ sở, chúng tôi phát hiện, xử lý kịp thời những vụ việc tiêu cực.

Tôi nhìn ra xa, không biết phải nói gì, sự thật tôi vừa chợt thấy lòng hẫng đi trong một cảm giác vừa khâm phục, lại vừa bất lực. Bài học lấy dân làm gốc các anh kiểm lâm đã thực hiện rất thành công, nhưng chính họ lại đang phải chịu nhiều thiệt thòi trong nhiệm vụ đầy hiểm nguy, gian khó của mình.

Cơm xong, chúng tôi quay về ngay vì sợ trời mưa. Xe đang đổ dốc tôi bỗng nhìn thấy một con chim lớn như con vịt đang bay, đôi cánh dang rộng của nó tưởng như che rợp cả mặt đất. Tới bảo, đó là con ó, một loài chim lớn chuyên ăn thịt sống, nó có thể tha cả một con gà to lên cây, rút ruột ăn. Lúc này, con chim đang vẫy cánh một cách mạnh mẽ, khoan thai và uyển chuyển, phong thái của nó rõ ràng là phong thái ung dung, đĩnh đạc của kẻ làm chủ giang sơn của mình.

Tạm biệt anh em kiểm lâm, tạm biệt những cánh rừng ẩm ướt mùa mưa với bao điều bí ẩn, tôi trở về Biên Hòa trong tâm trạng xao xuyến như vừa giã từ những người thân yêu, chưa biết khi nào gặp lại. Tôi từng nghe giám đốc Khu sinh quyển Đồng Nai Trần Văn Mùi nói “kiểm lâm vất vả, gian khổ chỉ kém bộ đội biên phòng”. Giờ thì tôi đã tin điều ấy. Hầu hết anh em kiểm lâm tôi chưa kịp biết hết danh tính nhưng đã để lại trong tôi tình cảm thương mến quý trọng và cả sự biết ơn bởi ở họ cháy bỏng một tình yêu rừng, một bản lĩnh sống kiên cường và ý thức trách nhiệm đáng khâm phục. Tôi gọi họ là những người tri kỷ của rừng.

Hoàng Ngọc Điệp
(Hội VHNT Đồng Nai)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 423

Ý Kiến bạn đọc