Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Trầu thuốc đầu năm

Có mấy nhà thơ văn đi đâu cũng mang theo điếu ống hút thuốc lào. Cái mốt này không phải riêng Đỗ văn sĩ mà có ở nhiều người. Nhà thơ Trịnh Thanh Sơn (1948-2007), tác giả câu Tôi ngồi rót biểu vào chai, đi nước ngoài cũng mang theo cái điếu hút thuốc lào, khoe quốc hồn quốc túy như hồi 1924 có người khoe Truyện Kiều là quốc hoa quốc hồn quốc túy… Còn mồ ma Nguyễn Lương Ngọc cũng thế. Đi đâu cũng mang theo cái ống điếu bằng đuya-ra ngắn chừng vài gang tay. Tôi cam đoan rằng những người như thế mới biết hút thuốc lào, chưa phải nghiện thuốc lào. Làm dáng vậy thôi. Nhưng cũng có khi là thực tâm. Về già, thời gian đằng đẵng. Ngày dài, đêm lại càng dài. Thì phải có việc gì để làm. Thì phải làm một việc gì chứ. Lơ huơ mấy sợi râu nhưng có cái có chỗ để xoa đi vuốt lại còn hơn là nhẵn thín. Cái ống điếu của Đỗ có khi cũng thế. Rượu không nghiện mà lúc nào cũng “túi thơ” thì có vẻ thợ thơ quá. Vậy thì xách cái điếu cày.

Tôi hút thuốc khi mới thiếu niên. Thuốc lá nhà trồng được. Thuốc lào thì ông nội, hàng xóm… nên trộm hút theo. Đến năm 41 tuổi (1986) mới bỏ hẳn thuốc lào. Còn thuốc lá thì bỏ hẳn từ 1978, sau một cú sốc, sẽ kể lại sau.

Trước khi lên án thuốc lá, thuốc lào, ta hãy trở lại thời hoàng kim của nó. Vì sao có thời nó được tôn vinh, còn bây giờ bị lên án.

Nhớ ai như nhớ thuốc lào / Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên. Còn có một bài ca vè rất dài về thuốc lào, tôi được nghe anh Hào Đấu đọc, khi đang đóng gạch, vào khoảng 1965. Hay lắm. Mà quên lời. Chỉ nhớ ý. Xưa thuốc lào, cũng như trầu; miếng trầu, điếu thuốc… là thức quà tỏ lòng thương mến, quí trọng, hoặc giao tiếp buổi đầu, mời bác (ông, anh) ăn thuốc, uống nước; xơi giầu uống nước. Trân trọng như thế kia mà. Ấy là 1úc mới gặp nhau, hay đến thăm nhau. Còn cày đồng đang buổi ban trưa… mà nghe tiếng rít điếu cày thì không thể nào nhịn được. Tiếng điếu rít lên như một hồi còi hiệu lệnh, báo động cho cả cánh đồng: nghỉ tay chút đã, làm miếng giầu hơi thuốc. Cánh đàn ông tụm lại. Nùn lửa lập lòe tỏa khói. Đám đàn bà tụ lại. Giầu vỏ giầu thuốc giở ra, mặn mà câu chuyện. Làm thuê cuốc mướn cơ cực quanh năm thì cũng phải có lúc nghỉ hơi chút đỉnh, mới làm tiếp được.

Ai đã từng mờ sáng, cày bừa trên vai theo trâu bò ra đồng, không quên cái nùn rơm điếu ống đèo theo mới thấm cái hơi cái vị thuốc lào.

Ai đã từng theo nghề thổ mộc, suốt ngày bùn đất từ đầu đến chân, mồ hôi nhễ nhại đầm đìa mới thấm cái hơi cái vị thuốc lào.

Ai đã từng làm thợ sơn tràng, ở chỗ rừng sâu núi thẳm, muỗi vắt vù lên khi có hơi người mới thấm thía mùi vị thuốc lào.

Anh-minh-hoa---Trau-thuoc-dau-nam---Anh-1

Ai đã từng vượt Trường Sơn thời chống Mỹ mới hiểu câu chuyện Điện Biên thời trước: có người đổi cả cái áo len lấy gói thuốc lào. Những đêm hành quân, giờ giải lao, tụm đầu trùm chăn, chia nhau hơi thuốc. Khoét gậy làm ống điếu. Cuộn chiếc lá làm cái ống tổ sâu, loa kèn thay điếu. Hơi thuốc lúc ấy hiệu nghiệm như một liều thuốc bổ. Xưa làm gì có nghỉ giữa giờ, nghỉ giải lao hoành tráng như bây giờ. Nghỉ giữa giờ ở các Hội nghị, Hội thảo bây giờ là một tiệc buffet nhẹ đủ thứ hoa quả, cà phê, sữa tươi sữa chua, nước ngọt các loại, mà không ngọt cũng tinh khiết đóng chai nhìn mà đã khát. Xưa, nông phu tá điền, sơn tràng thổ mộc, chân sào đầu xe, buôn vai gánh vả… chỉ có bát nước chè xanh, chè vối, chè mồng năm, miếng trầu điếu thuốc… Nên thuốc lào được tôn vinh như thế, ngang với người yêu, tình yêu đôi lứa. Kể cũng đúng. Từ quan lớn đến cùng đinh đều dùng thuốc lào. Có cái chuyện dân gian chửi quan lớn rất hay: Lông… con mẹ mày đấy à? Bẩm quan vâng ạ! Người bảo cái lông voi quan lớn làm tăm. Người bảo để thông nõ điếu. Đằng nào cũng hay. Một cái lông… mà đa năng, đa tiện ích, đa thanh đa nghĩa gấp vạn lần hậu hiện đại. Dễ chỉ dân gian Việt Nam mới có. Cái lông chân của Dương Chu cũng đã là ghê nhưng làm sao bằng được cái lông voi!

Có cái sự thông điếu hay thông nõ điếu nên phải nói đến các loại điếu hút thuốc lào xưa để bạn đọc thời nay được tường. Có mấy loại, tùy theo công dụng và đẳng cấp:

- Điếu ống, còn gọi là điếu cày (Thanh Hóa), gồm một ống điếu bằng nứa hoặc tre, dài khoảng 40cm. Có chân gần phía miệng điếu nên còn gọi đùa là khẩu ba-zô-ka. Nõ điếu là phần quan trọng nhất, cắm nghiêng một góc khoảng 450. Nõ điếu tốt nhất làm bằng gỗ mơ. Phần miệng để tra thuốc. Phần dưới khoét lưỡi gà. Khoét lưỡi gà là một nghệ thuật. Tiếng kêu như một hồi còi dài chính là nhờ ở lưỡi gà khoét khéo. Tiếng kêu đó là do đầu nõ điếu cắm ngập vào ống điếu. Khi hút, nước đi qua lưỡi gà tạo thành âm thanh như tiếng còi (tu huýt) kéo dài. Vụng khoét, khi hút chỉ phát ra tiếng kêu lọc xọc. Nghiện thuốc đến mức siêu nghiện thì tiếng kêu là tiêu chuẩn hàng đầu, là niềm tự hào của chủ điếu, như nói ở trên, làm thức dậy cả một khoảng đồng, như hiệu lệnh, hay lời thỉnh cầu (chủ điền) đã đến lúc nghỉ tay.

Người nghiện chăm sóc cái điếu như một vật quí. Ống điếu phải lam. Dùng lâu năm, bóng lên màu cánh gián như đánh vẹc-ni. Lam là nứa làm ống điếu còn tươi, chưa khoét nõ, đặt vào một ống nứa tươi to dài hơn (nứa cộ), cho muối đến độ bão hòa, đem đốt cho sôi lên. Thời gian đốt (lam) tùy kinh nghiệm. Ống điếu đó vào mùa hanh khô, hút thuốc, không bao giờ bị nứt nẻ. Và luôn có màu sáng bóng.

Điếu cày (điếu ống) tiện dụng trong mọi hoàn cảnh, lên rừng xuống biển ra đồng về nhà đều dùng được. Khác với điếu bát, điếu khách.

Người nông phu tá điền nghiện thuốc lào, ra đồng bao giờ cũng mang theo cái điếu và nùn rơm, nếu không có bao diêm hay bật lửa. Nùn rơm (tiếng Thanh Hóa) là dùng rơm khô chóc (tết) lại cho tròn, chặt và dài tùy thời gian sử dụng. Khi châm lửa, nùn rơm cháy âm ỉ. Khi lấy lửa thì đặt que đóm vào, thổi nhẹ, lửa bùng lên. Cái nùn rơm khéo làm, cháy vừa hết buổi đồng (từ mờ sáng khi ra đồng cho đến tan buổi đồng, gần ngọ – 12 giờ trưa).

- Điếu bát: Bầu điếu bằng gốm sứ có lỗ cắm nõ điếu và lỗ cắm xe điếu. Bầu điếu bát tròn như óc quả dừa, đặt trong cái bát điếu thường tiện bằng gỗ. Có khi đặt vào cái tô sứ lớn. Xe điếu là một ống trúc hay nứa nhỏ tròn dài, đường kính khoảng 1cm. Người sành ăn lòng lợn hay gọi lòng xe điếu, là phần ruột non ngon nhất, khúc lòng tròn, thành dày. Nõ điếu bát cũng chế tác như nõ điếu cày. Điếu bát chỉ dùng ở trong nhà, để trên giường sập hay bàn nước. Không cơ động như điếu cày được. Dùng điếu bát thường là nhà trung lưu trở lên.

- Điếu khách: Là một ống gỗ hình trụ tròn đứng, thường bằng gỗ gụ, một loại gỗ quí. Cấu tạo cũng như điếu bát. Chỉ khác phần thành điếu (phần nửa của ống trụ điếu) cao lên hình vành khuyên làm cho thân điếu vừa thanh thoát vừa bề thế như phần tường xây cao lên của đấu trường La Mã. Điếu khách chạm trổ cầu kỳ, thường khảm xà cừ theo các tích cổ. Đặc biệt của điếu khách là cần điếu (xe điếu). Nó là một thân cây trân trâu dài, phải dùng xương ô hoặc dây thép mài thành mũi khoan, khoan thủng các mắt cây trân trâu mới thành cái cần điếu. Cần điếu khách cong vút như tua mũ võ tướng trong các tích tuồng. Khi hút, phải vít cần điếu xuống. Điếu khách thường chỉ nhà giầu có, quan lại mới dùng. Nhưng thứ này hơi vị kém điếu bát càng kém điếu cày.

Ba loại điếu trên đều phải có cái thông điếu, thường dùng lông gà hay lông ngỗng làm cái thông điếu. Còn thì lúc cần, rất tùy nghi, tước que đóm ra cũng được.

Người nghiện thuốc lào chăm sóc cái điếu như một của quí, một thú chơi. Như bàn cờ của người nghiện cờ. Như bộ đồ trà của người nghiện trà. Đến que đóm cũng phải qui cách. Phải tre già ngâm chín chẻ đều phơi khô. Người vụng chẻ đóm dày, cháy không đều. Nên có câu Mặt nạc đóm dày… Đúng là Nghề chơi cũng lắm công phu. Lại phải nhìn cái gói thuốc mới biết người nghiện hay không, đến mức độ nào. Tuy là thức tiêu khiển rất bình dân nhưng cũng đòi hỏi thao tác như hút thuốc phiện, tiêm thuốc phiện. Bồi tiêm giỏi bao giờ cũng đem lại cho khách hút cảm giác mãn nguyện sảng khoái. Nên khách dễ mắc nghiện. Thuốc lào thì người hút phải tự làm “bồi tiêm”. Điếu thuốc phải vê cho vừa, không to không nhỏ không lỏng không chặt. Vì thế sợi thuốc phải mềm dẻo, không ẩm quá, không khô quá. Sợi thuốc khô, bắt lửa nhanh, kém khói mà nóng. Ẩm quá thì khó bắt lửa, kém khói. Mùa đông ngoài Bắc trời hanh hao, độ ẩm rất thấp, sợi thuốc bị khô, giòn. Người nghiện có mẹo rất hay: Dùng miếng lá chuối tươi hơ chín (nướng) để gói thuốc. Gói thuốc như thế, sợi thuốc luôn luôn mềm, dẻo. Vì thế còn có từ véo thuốc. Nó bảo xin một điếu mà véo một cục phải đến mấy điếu… Nếu không có lá chuối có thể dùng lá dáy, công dụng như nhau. Mùa đông thấy người có gói thuốc như thế, là tay tổ nghiện.

Chất lượng thuốc lào phụ thuộc vào thổ ngơi (chất đất và vùng khí hậu) và cách chế biến. Khác với thuốc lá, thuốc lào đến trung châu thì ngắt ngọn nuôi nhánh, thường có ba nhánh. Mỗi nhánh nuôi bao nhiêu lá thì ngắt ngọn là tùy chủ ruộng. Nhiều lần trông thấy ruộng thuốc lào, đều tăm tắp từ gốc tới ngọn, mà cảm phục công lao của người làm thuốc lào. Chỉ hái một lần khi lá thuốc đến độ già vừa ý. Phân bón thuốc lào lại là công thức bí truyền. Người trong nghề mới biết. Ở Hoằng Hóa (Thanh Hóa), có làng Tràng Lang chuyên trồng rau và thuốc lào. Mùa đông họ dong thuyền lên vùng trung lưu và thượng lưu. Tìm vùng nào có nhiều quận công thì tấp vào bãi cát, cắm thuyền. Hằng ngày quẩy gánh có bàn cào dài, khi hốt bãi phân không phải cúi xuống. Người đó gọi là cu mơ. Bao giờ đầy gánh thì về chỗ neo thuyền, tải phân ra cát, phơi khô. Đầy thuyền, xuôi về, lại lên chuyến khác. Ngày xưa có câu Thứ nhất Quận công, thứ nhì ỉa đồng. Các làng Đầm (Xuân Thiện, bên tả ngạn sông Chu, Thọ Xuân), làng Vực (Xuân Thành, hữu ngạn sông Chu), xuống đến làng Hới (Quảng Tiến, Quảng Xương, nay thuộc thị xã Sầm Sơn, nhưng đã lở hết)… Cứ sáng sáng, người đi trước, đám khuyển theo sau, các quận công phu nhân và quận công tiểu thư, vừa “làm việc quan” vừa chuyện trò sôi nổi. Thời sự trong làng ngoài xóm đều từ đấy mà ra… Anh hùng lao động (nông nghiệp) Trịnh Xuân Bái ở làng Vực, nay là xã Xuân Thành, Thọ Xuân, Thanh Hóa, được tuyên dương Anh hùng nông nghiệp năm 1951, cùng đợt với các Anh hùng Hoàng Hanh (Hà Tĩnh), Ngô Gia Khảm, Cù Chính Lan, Nguyễn Thị Chiên (Quân đội) là do sáng kiến làm hố xí hai ngăn vừa sạch làng tốt ruộng. Các bà quận công, các cô quận công không còn, cu mơ Tràng Lang không còn, thuốc lào xứ Thanh kém phần chất lượng vì không còn thứ phân đạm siêu đạm ấy nữa. Hồi chống Pháp, ông Khán Thơm người Vĩnh Bảo, Kiến An, tản cư vào đem theo nghề trồng thuốc lào. Công phu lắm. Thái xong vò dập, phơi nắng phơi sương. Còn hồ thì bí mật lắm. Thuốc thành phẩm đóng bánh như viên gạch, xung quanh bọc lá chuối khô. Người bán lẻ ở chợ lại dùng túi lá ổi tươi để gói thuốc. Tùy người mua năm ba xu, một hào. Nay thì thay bằng túi ni lông.

Thuốc lào có chất kích thích cực mạnh có khi chưa kịp nhả khói đã bất tỉnh, lúc sau mới hồi lại. Những năm tôi còn nghiện thuốc lào, ngày chỉ hút hai điếu vào sau buổi ăn trưa và trước khi đi ngủ. Lần nào cũng vậy, chưa kịp dựng điếu đã ngã lăn ra giường. Tôi có lần say thuốc lào rồi chìm vào giấc ngủ như ngấm thuốc mê, từ 6 giờ sáng đến 6 giờ chiều, mới tỉnh dậy. Có chuyện thương tâm về say thuốc lào. Em ruột ông Lài Hợp ở xóm tôi, lâu ngày quên cả tên. Đêm giao thừa một mình thức trông nồi bánh chưng. Hút điếu thuốc lào bị say đâm đầu vào bếp. Khi người nhà ngửi thấy mùi khét chạy xuống thì ông đã chết, như bị thui. Tôi nhớ chuyện ấy từ bé. Nhưng cơn thèm thì không cưỡng lại được. Nên mỗi khi hút là phải tìm tư thế. Nếu say là ngã ngay ra giường.

Thuốc lào còn là thứ thuốc phòng thân. Đứt chân tay chảy máu, dịt ngay nhuốm thuốc lào, buộc lại, có hiệu quả như băng Urgo. Bị vắt hay đỉa cắn, dịt thuốc lào ngay mới cầm máu được.

Nhưng độc tố của thuốc lào thì thấy rất rõ. Nước điếu màu đen, mùi hôi khẳm rất đáng sợ. Thuốc lào hơn thuốc lá là khói thuốc lọc qua nước. Thuốc lá có vẻ gọn gàng hơn nhưng độc hại hơn chính vì độc tố từ khói thuốc nhiễm trực tiếp vào phổi, vào máu, vào tế bào thần kinh. Thuốc lá không gây say như thuốc lào nhưng hậu quả, qua nước điếu thuốc lào, thì thấy hiện tiền.

Với người phong lưu, thuốc lào là thú chơi. Với người lao động lam lũ, nông phu tá điền, sơn tràng thổ mộc… thì thuốc lào là thứ để xả hơi, thứ thuốc phòng thân… Thuốc lào vẫn còn là thức dùng của nhiều người. Tình trạng nghèo về vật chất, nghèo về văn hóa tất kéo theo những thức dùng có hại nhưng đã thành phong tục tập quán, thói quen truyền đời. Chỉ mong biết về nó để giảm dần đi. Quả thật cái dáng của một ông già hom hem kè kè cái điếu thuốc lào bên mình, nó chẳng có sức sống gì cả. Mà đến gần thì rất… hôi! Song, chúng ta đều là người thường trong lũ chúng sinh. Sống, mỗi người mỗi nết.

Tôi viết chuyện này để khen ngợi Khách sạn Novotel, TP. Hạ Long, Quảng Ninh, có qui định: Khách hút thuốc lá trong phòng phải chịu phụ thu 5 triệu đồng để khắc phục hậu quả môi trường. Khách mới vào phòng ngửi thấy mùi thuốc lá phải báo ngay với Lễ tân để khỏi bị thu nhầm. Tôi rất hoan nghênh qui định này. Chỉ sợ rằng có thực hiện được nghiêm hay không. Vì trong phát biểu tại Hội thảo chiều hôm đó nhà văn Văn Chinh nhấn đi nhấn lại, tiếng Việt đang bị làm cho méo mó thì không ai nói gì, trong khi động một tí về này về kia là ầm ĩ cả lên… Nhưng sáng hôm đó (5-12-2017), ngồi uống trà ngoài tiền sảnh cùng với tôi và nhà văn Vũ Hạnh – năm nay đã 92 tuổi, từ TP. Hồ Chí Minh ra dự Hội thảo, Văn Chinh lại phun thuốc lá như… ống bô xe Công Nông. Nhớ năm trước ở Hội nghị Tam Đảo về, Văn Chinh đã “đổ chè” đầy cả xe, chắc bữa cơm thân mật quá đà. Thông cảm lắm. Vì năm ấy (không nhớ nữa), ngày Tết đã say, Hải Bụi và Thành Hưng (Tạp chí Sân Khấu) đến kéo đi. Đến nhà Ngô Văn Sỹ. Say quá, thốc tháo cả ra. Chủ nhà phải xách cái xô ra, phải dìu xuống toilet công cộng… Xấu hổ quá. Từ đấy bỏ rượu luôn. Không biết khi về phòng khách sạn, Văn Chinh có nhịn thuốc được không. Phàm đã nghiện, khó mà nhịn được.

Báo Văn Nghệ các số 47-48 năm nay đăng liên tục tin Hội thảo tăng thuế thuốc lá; cách cai nghiện thuốc lá. Hoan nghênh lắm. Tán thành lắm. Thế thì các nhà văn có duyên nợ với thuốc lá thuốc lào phải làm gì đi chứ! Nếu chưa làm được thì hẵng nói lên đôi lời. Được lời…!

Ăn trầu là phong tục rất tốt cần khôi phục và phát triển. Trầu là thức quí dâng lên thần linh. Cúng tế lễ bái giỗ chạp hiếu hỉ khởi công hồi công… đều phải có miếng trầu. Miếng trầu là đầu câu chuyện. Quan họ Bắc Ninh nhất thiết phải có trầu têm cánh phượng. Trầu, cau còn là dược liệu quí, cần sự khảo cứu công phu của các nhà Dược học và Dân tộc học. Ở đây, chỉ xin nói miếng trầu qua kinh nghiệm bản thân.

Các cụ nhà tôi nghiện trầu. Rụng hết răng vẫn ăn được trầu, nhờ có cối giã. Người nghiện trầu không bao giờ bị sâu răng viêm lợi, nói chung là các bệnh về răng miệng. Không bị viêm họng viêm phổi. Điều đó ai cũng biết. Miếng trầu làm ấm người khi lội xuống đồng sâu nước lạnh, mùa đông, mưa thâm gió Bắc… Riêng lá trầu có nhiều công dụng. Tôi được hưởng một công dụng lớn, cụ thể thế này. Tôi bị viêm chỗ kín. Chữa chui đủ thầy đủ thuốc. Lần cuối, đến khoa Da liễu một bệnh viện Trung ương lớn. Đủ thứ xét nghiệm. Mấy triệu tiền thuốc. Vẫn không khỏi. Sau đó vào Sài Gòn, nói với ông cháu, là bác sĩ Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa. Nó bảo chỉ bị viêm thôi, không hề gì, lấy 10 lá trầu đun lấy một chén nước, rửa vài lần trong ngày. Theo lời cháu, sau một tuần thì khỏi hẳn.

Đầu năm nói chuyện thuốc men, e bất nhã. Nhưng giới thiệu bài thuốc quí người chữa bệnh thì lúc nào cũng được, cũng tốt cả. Xin cung hiến bạn đọc.

Nhân Hội thảo Văn học Hạ Long,
Quảng Ninh, 5-12-2017

Trang Du
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 483

Ý Kiến bạn đọc