Sáng tác mới

Trăng ven đô

Là người trong cuộc, nhưng mấy ai đã để ý tới ánh trăng khi trước mặt chúng ta còn đó bọn chóp bu bán thân cho đế quốc Mỹ, bán hồn cho đồng đô-la. Ây thế mà, có cả một sư đoàn vì tiến quá nhanh nên phải nằm lại ngay ven đô Sài Gòn để chờ các sư đoàn khác đến, cùng tiến vào 5 mục tiêu trong chiến dịch mang tên Bác. Nhờ vậy, h ọ đã được ngắm trăng trên đường hành tiến. Đó là một đặc điểm, có lẽ “độc nhất vô nhị” trong cuộc chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Nhân kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Sài Gòn, tôi xin kể lại sự kiện “độc nhất vô nhị” ấy để chúng ta cùng được rõ cách đánh giặc đĩnh đạc của dân tộc mình 40 năm về trước.

Ảnh chụp ở Quận 7 - Phạm Văn Lập

Ảnh chụp ở Quận 7 – Phạm Văn Lập

Trung tuần tháng 4/1975, tôi khoác ba lô ngồi trên xe của Sư đoàn 10 thuộc Quân đoàn 3 từ Bác Ái lên Tuyên Đức rồi rẽ vào Quốc lộ 20 về Miền. Lúc này, toàn bộ Quốc lộ 20 đã sạch bóng quân thù. Ban ngày, ngồi trên cao nguyên Lâm Viên nhìn xuống rừng miền Đông Nam bộ, tôi có cảm giác như Tôn Ngộ Không trong phim Tây Du Ký đang bay về Hoa Quả Sơn là quê hương, xứ sở của mình. Vừa mới qua những ngày cuối xuân, bầu trời không một gợn mây đen, không một vệt khói bom, thật đúng là “trời trong xanh không gì xanh hơn”. Đây là bầu trời của gần 40 năm về trước mà bao thế hệ đã phải thay nhau nằm lại dưới nền rừng… Hạ thấp tầm nhìn xuống một chút, cả miền Đông Nam bộ là một rừng hoa phượng vĩ đỏ tươi, uốn lượn, chập chờn theo những triền đồi và thung sâu chạy tít tắp về phía chân trời. Hàng chục năm chui lủi trong rừng, chưa bao giờ người lính chúng tôi có được cảm giác trên đầu mình lại được đội một lẵng hoa khổng lồ đẹp đến thế! Hẳn rằng, bao đồng đội của chúng tôi đã ngã xuống và nhiều người còn đang nằm dưới rừng kia đã tô thắm cho rừng hoa đẹp kỳ vĩ này. Nước mắt tôi cứ nhòa đi khi nghĩ tới đồng đội của mình đã nằm yên trên rừng miền Đông gian lao mà anh dũng của chúng tôi. Nhưng ô kìa, hoàng hôn đã xóa đi màu đỏ và thay vào đó là ánh trăng đang lên từ phía Sài Gòn. Nhưng chưa kịp ngắm trăng tôi đã phải nhảy xuống xe để lên Honda về căn cứ của mình đang đóng tại thị trấn Lộc Ninh, tỉnh Bình Long. Chân ướt chân ráo đến nơi, chưa kịp tắm rửa cho hết bụi đường, anh Tám Hiếu, Trưởng ban Tuyên huấn Bộ Tham mưu Miền đã cho liên lạc của anh gọi tôi lên phòng anh. Anh bảo:
- Tình hình chiến sự đã rất khẩn trương. Ngày 14-4-1975 vừa rồi, Bộ Chính trị đã chấp thuận đề nghị của Bộ Tư lệnh Chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định thành Chiến dịch mang tên Bác nên hầu hết các đồng chí có trách nhiệm phục vụ cho chiến dịch trong Phòng Chính trị chúng mình đều đã ra phía trước. Tờ Tin Tức hàng tuần của ban ta cũng đã phải dừng lại mấy số rồi, vì không có cậu ở nhà và tay Ngọc Bích cũng được Bộ chỉ huy trưng dụng bám theo
các đoàn Đặc công chốt chặn các đầu cầu. Cậu cũng phải về ngay với Sư đoàn 10 là sư đoàn thọc sâu của Quân đoàn 3 và các trung đoàn thọc sâu khác để có tư liệu cho các số báo sau này. Cậu chưa cơm cháo gì phải không? Có gói mì ăn liền đây, cậu nhai sống rồi ra ngoài ấy thì chẳng có bụng mà chứa!
Nói rồi, anh ném cho tôi một cái nháy rất ư là điệu nghệ. Tôi cũng không quên nguýt anh một cái rõ dài rồi nhảy lên chiếc Honda 90 phân khối của Nguyễn Duy Anh, người giao liên Phòng Đặc công Miền đã đưa tôi từ Sư đoàn 10 Quân đoàn 3 về đây và sẽ cùng tôi đi hết chiến dịch này. Năm ấy, Duy Anh mới chừng 23-24 tuổi. Bốn năm trước, cậu là một sinh viên Khoa Văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội “gác bút nghiên theo việc đao binh” như tôi 7 năm về trước nên anh em rất hợp nhau.
Bọn địch ở An Lộc đã rút cả về Bình Dương nên xe của chúng tôi cứ bon bon trên Quốc lộ 13 và chả mấy lúc đã rẽ sang khu rừng gần cầu Bông, cầu Sáng trên Quốc lộ 1 mà sư đoàn 10, nguyên là sư đoàn của Tây Nguyên, mũi thọc sâu của Quân đoàn 3 phải qua đấy. Để tiện sinh hoạt và khỏi phiền phức cho Ban chỉ huy sư đoàn, anh em tôi mắc võng nằm chung với trung đội Cảnh vệ của sư đoàn, mặc dù anh Hồ Đệ, sư đoàn trưởng và anh Lã Ngọc Châu, chính ủy sư đoàn đã cho cần vụ của mình mời chúng tôi lên khu rừng của các anh.
Giống như Nguyễn Duy Anh, hầu hết những anh em trong trung đội Cảnh vệ này đều còn rất trẻ và đầu óc hãy còn khá mộng mơ. Cơm nước xong, anh em chúng tôi vừa thiếp đi thì có ai đó đập đập vai tôi, khẽ gọi:
- Dậy! Dậy! Dậy! Anh nhà báo ơi, dậy!
Tôi bừng tỉnh, vừa cuốn dây
võng vừa hỏi:
- Hành quân! Hành quân hả?
- Dạ không. Trăng! Trăng!
Trăng vừa lên, anh ơi!
- Cái gì?
- Trăng! Trăng mà.
- Trời đất! Đang đánh giặc mà lại ngắm trăng à?
Thế nhưng, cả trung đội Cảnh vệ đã ùa ra bìa rừng ngắm trăng lên. Tôi giơ tay xem đồng hồ, kim chỉ 8 giờ tối 28-4 dương lịch. Sau này xem lại lịch âm tôi mới biết đêm hôm đó là đêm của ngày 18-3 năm Ât Mão. Thế thì, mặt trăng mới bừng lên từ mặt biển đây thôi. Thảo nào nó đẹp quá, lung linh quá, thu hết tâm hồn của anh em lính trẻ chúng tôi! Ôi! Trời trong sáng quá! Lồng lộng quá! Quê tôi nằm sát biển, đã bao lần tôi nằm trên bờ đê ngắm trăng lên, nhưng chưa một lần nào thấy ánh trăng lại lung linh và huyền ảo như đêm nay. Hồi hành quân trên Trường Sơn, đã bao lần tôi được ngắm trăng, nhưng đều bị cây rừng che khuất nên lúc này đây tôi càng trân trọng với cảm xúc của các anh em trung đội Cảnh vệ của núi rừng Tây Nguyên. Hẳn rằng, bao năm chui lủi dưới tán rừng già chưa một lần nào các đồng chí được ngắm ánh trăng huyền ảo như đêm nay. Ánh trăng theo ta đi chiến dịch mang tên Bác. Cảm xúc này thật là thiêng liêng đối với những chàng trai sinh ra thời loạn, dễ gì đã có ở mai sau. Chúng tôi cứ đứng lặng đi như vậy để thưởng ngoạn thì bỗng tiếng kèn xuất quân vang lên. Một đồng chí, chắc là người trong Ban tham mưu sư đoàn, nói trong hơi thở đầy xúc động:
- Toàn đơn vị chú ý, các tiểu đoàn Đặc công của Miền đã chiếm được cầu Bông, cầu Sáng ở phía trước chúng ta rồi. Tất cả lên xe, tiến vào nội đô! Tiến vào sân bay Tân Sơn Nhất!
Tôi nhảy phóc lên chiếc Honda của Duy. Cậu ta chạy trước dẫn đường cho cả sư đoàn tiến qua cầu Bông, cầu Sáng. Hẳn rằng, những tay đặc công vừa chiếm 2 chiếc cầu này đều là bạn chí cốt của Duy nên khi xe chúng tôi qua cầu các cậu ấy đều huơ tay vẫy vẫy chào đón Duy. Duy cũng huơ tay vẫy lại nên xe mất đà, loạng choạng hất tôi xuống vệ đường. Tôi vừa lóp ngóp bò dậy thì đoàn xe tăng của sư đoàn mũi nhọn này đã rẽ sang rừng cây hai bên đường, lao lên phía trước. Hầu hết các hỏa điếm của địch ở Hóc Môn, ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung đều bốc cháy. Cả một sư đoàn mũi nhọn của Quân đoàn đang tiến như vũ bão vào mục tiêu, nhưng bỗng tất cả… khựng lại. Sau này tôi mới biết, do phải chờ các mũi nhọn của quân đoàn khác đế cùng hiệp đồng tác chiến chiếm các mục tiêu nên mũi nhọn của Quân đoàn 3 đã phải dừng lại ngay ngã tư Bà Quẹo, chỉ cách sân bay Tân Sơn Nhất, mục tiêu cuối cùng của Quân đoàn 3 chừng 3 cây số. Thế là cả một sư đoàn dừng lại ngắm trăng. Thật không thế nào tin được, cả một binh đoàn trải dài ngay trên đường phố ngoại ô của Hòn ngọc Viễn Đông này đang mơ màng trước ánh trăng lên!
Không có cách nào có thế len lên phía trước, tôi đập vai Duy quay lại phía sau về với mũi nhọn của Quân đoàn 2. Phải vất vả lắm, cả một buổi sáng của ngày 29-4 chúng tôi mới về được khu rừng phía nam Dầu Giây. Vừa tạt vào bìa rừng, một cảnh tượng đập vào mắt chúng tôi mà mãi mãi sau này, không bao giờ tôi có thế quên được. Đó là hàng mấy trăm chiến sĩ của cả một lữ đoàn xe tăng và một trung đoàn bộ binh của Quân đoàn 2 đang thay quần áo mới, giày mới, mũ mới, cờ mới, lá ngụy trang mới cho mình và cho xe. Tay áo các chiến sĩ và đầu các xe đều mang dòng chữ đỏ trên nền xanh lời hịch năm nào của Bác:_ “TIẾN LÊN! TOÀN THẮNG ẮT VỀ TA!”. Khi cả một lữ đoàn tăng và hơn trăm chiếc ô tô chở bộ binh đã nối đuôi nhau ra cả mặt đường rồi rùng rùng tiến vào nội đô thì không còn gì uy nghi hơn thế nữa. Lúc ấy là Ỉ5 giờ của ngày 29-4. Duy vứt lại chiếc Honda 9G phân khối ở bìa rừng rồi kéo tay tôi leo lên chiếc xe đi đầu của trung đoàn Bộ binh. Nhưng lập tức chúng tôi bị đuổi xuống vì không có quần áo mới, mũ mới… và nhất là không có “TIẾN LÊN!…” như các chiến sĩ khác. Hai anh em chúng tôi đành phải tiến theo đoàn quân bằng chiếc xe Honda vậy. Nhưng như thế vẫn hay hơn, chúng tôi được chạy song hành với đoàn quân, khi phóng lên cao, khi lùi xuống dưới. Tôi có cảm giác như mình là một viên tướng của Cu-tu- dốp đang ngồi trên mình ngựa đuổi quân của Na-pô-lê-ông ra khỏi Mạc Tư Khoa năm nào! Với cả một đoàn quân tiến vào nội đô thế này, thật không còn gì uy nghi hơn nữa, kiêu hãnh hơn nữa. Chúng tôi đi tới đâu là nhân dân ven Sài Gòn ùa ra tới đó, người người vỗ tay, người người ném hoa lên xe. Hết thảy mọi người đều rơm rớm nước mắt chào đón chúng tôi. Đây chưa phải là ngày đoàn quân kéo về tiếp quản thủ đô của mùa thu năm xưa 1945, mà trước mắt chúng tôi vẫn còn kẻ thù rình rập. Nhưng làm sao chúng ngăn nổi bước chúng tôi đi.
Trăng lại lên! Ánh trăng thà thẫm với đoàn quân. Trăng cõng chúng tôi hay chúng tôi đi theo trăng, không biết nữa. Chúng tôi có cảm giác trong ánh trăng lung linh, huyền ảo kia như có bóng hình của Bác, như thế Bác đang hành quân cùng với chúng tôi và đang dẫn đường cho chúng tôi vào thành phố mang tên Người.

Công Viễn

(An Định, ThuỵVăn, Thái Thuỵ, Thái Bình)

Ý Kiến bạn đọc