Truyện ngắn

Trại vườn na

Cả làng ai cũng biết chuyện đó, chuyện khu trại Vườn Na có ma, nên từ lâu, chẳng ai dám lai vãng tới. Nhưng lần này Khang nhất quyết vào Vườn Na. Đã 3 ngày nay, bố Khang lại bị những trận sốt rét hành hạ, người cứ rét run, mà sốt cao tới 40 độ, sau những hồi co quắp là nằm liệt tại giường, uống thuốc mãi chẳng cắt cơn. Giữa chiều, Khang đi đâu về, gọi mẹ xuống bếp, bảo: “Bà cụ Tá mách lá na chữa được bệnh sốt rét!”. “Bà cụ ấy lú lẫn rồi, nói năng lảm nhảm. Gặp ông nào cũng bảo con lão hầu già trong Vườn Na tìm về, lại bảo lão Mạo méo mồm vì ăn tham. Có tin được không? Bao nhiêu thuốc tây còn chưa ăn thua”. Khang: “Để sớm mai con đi sang Vườn Na!”. Mẹ Khang lắc đầu: “Đừng sang trại Vườn Na, có ma đấy, bao nhiêu năm nay có ai dám bén mảng tới đâu, nhất là lúc sáng sớm, sương sa, gió lạnh”. Khang nói với mẹ: “Con không sợ ma! Với lại làng mình cũng chẳng nhà ai còn cây na nào!”.

Ngày bé, Khang và thằng Bộ có lần cầm súng cao su lẩn vào Vườn Na bắn chim nhưng thực ra là hái trộm na, trèo cả buổi chiều tìm được hai quả na bé bằng nắm tay mà không thể trèo xuống được, mông như bị dính chặt trên cây, hai thằng cứ ngồi trên cành mà khóc. Nhà lão Mạo sát vườn na, nghe tiếng khóc, lão vén rào duối sang. Vườn bỏ hoang đã lâu, rộng mênh mông. Toàn cây na và cỏ dại. Lão Mạo chạy mỏi chân mới tìm thấy hai thằng đang ngồi đóng đinh trên cành na khóc, trên tay cầm quả na. Lão Mạo quát, ném quả na xuống ao, chắp tay vái ba vái tạ lỗi đi. Hai thằng làm theo. Vái xong, thấy người nhẹ bẫng, mông ngó ngoáy được, thế là tụt vội xuống. 

Lão Mạo chỉ những quả na xanh rụng đầy khắp vườn, bảo ma bẻ na sớm để không bị người ăn trộm đấy. Hai thằng bám theo chân lão rẽ rào chui ra khỏi vườn. Đợi hai thằng bớt hổn hển, lão Mạo hất hàm: “Bọn này cả gan thật, không biết chuyện ma ở Vườn Na sao còn dám vào?”. Thằng Bộ rụt rè: “Tại có những tiếng chào mào, chích chòe, chúng gọi bọn cháu!”. Rồi thằng Bộ gãi đầu gãi tai, thẽ thọt: “Có ma thật hả ông?”. “Không có sao không tự trèo xuống đi, cứ ngồi mãi trên cây mà khóc làm gì!”. “Thế ông đã gặp ma chưa?”. Lão Mạo thủng thẳng: “Đầy ma, nó khóc eo óc suốt đêm, nó còn vào đầu giường nâng gối của tao ấy chứ!”. Khang tò mò: “Ông kể cho chúng cháu nghe chuyện ma Vườn Na đi!”.

Lão Mạo liếc mắt nhìn sang khu trại bỏ hoang, một màu na xanh rờn rợn, mặt lão lì lì. Hai thằng thích nghe chuyện ma thì lão kể. Không chỉ có ma Na, mà còn có ma Trâu nữa. Giọng lão khò khè như bể lò. Khang và Bộ rúm người lại.

Vườn Na bỏ hoang cuối làng đã từ rất lâu.

Ngày xưa, làng Cát Vàng vốn gần cửa sông Lớn đổ ra biển, tàu thuyền ngược xuôi về đậu đầy bến cảng Cát Vàng. Cảnh buôn bán sầm uất, kẻ đến, người đi, tấp nập quanh năm. Có một người thương gia nước ngoài là Triệu Trân nổi tiếng giàu có đã mua mấy sào ruộng sau làng để xây dinh thự làm chỗ nghỉ ngơi mỗi khi thuyền đậu bến để buôn bán tơ lụa, trang sức.

Một sớm, chờ thợ thuyền đi đóng hàng, bước chân lang thang đưa Triệu Trân ra ngắm cây gạo cổ đang trổ hoa như những đài lửa sau bến thì vô tình gặp một cô gái giặt chiếu dưới sông. Cô gái nhoài người tung chiếu xuống sông đập nước cho sạch thì nhỡ đà, ngã nhào ra sông, Triệu lao xuống, vớt người đuối nước, cõng chạy, nước chảy ròng ròng từ người và miệng cô gái, khi cô gái ho rũ rượi, Triệu bấy giờ mới thở phào, đặt cô gái nằm dưới gốc đa. Lúc tỉnh cô gái ấy nói tên Na, vì ngày có mang cô, mẹ cô nghén chỉ thèm ăn na. Triệu say mê ngắm người đẹp, má hồng, da trắng, mắt long lanh như giọt sương, răng đều tăm tắp như hạt na. Còn Na thì đỏ bừng mặt khi cúi xuống thấy trên người mình đã mặc một bộ đồ lụa xanh cốm vừa sát như in, nổi từng đường cong thanh tú. Triệu trấn an cô thôn nữ, là tôi đã nhờ bà bán trầu cau dưới gốc cây si kia lại thay đồ cho cô đấy. Trước khi chia tay, Triệu đeo vào tay tặng Na một chiếc vòng ngọc, hẹn ngày Triệu trở lại bến Cát Vàng.

So-494--Tuoi-tho---Thao-Nguyen---Anh-1
Tuổi thơ – hs Thảo Nguyên

Chưa đầy hai tháng sau, Triệu Trân đã cho thuyền cập bến. Dinh thự của Triệu cũng được lão hầu già trồng đầy na xung quanh, vườn cây bắt đầu bén rễ, xanh om. Cắt đặt công việc cho cánh thợ xong, Triệu bước dấn tới gốc gạo cuối chợ. Nước sông sóng sánh. Na đang giặt chiếu. Đôi chiếu mới dệt đôi chim bồ câu. Triệu Trân thấy người đẹp thì lao đến, ôm chầm lấy cho thỏa nhớ nhung, chiếc chiếu rời khỏi tay Na, dập dềnh trong nước. Trong lúc đắm đuối ôm ấp người đẹp, tay Triệu phát hiện thấy chiếc vòng ngọc đã không còn đeo trên cổ tay trắng nõn nà của Na nữa. Mày Triệu khẽ nhíu lại, còn Na khóc nức lên: “Bố em ốm nặng, không có tiền mua thuốc nên em đã phải mang cầm cái vòng ngọc ông tặng!”. Triệu trấn an: “Không sao, không sao. Chỉ là một cái vòng thôi!”. Na chợt nhớ ra, quay xuống sông, đuổi theo chiếc chiếu mới đang trôi theo dòng: “Vì không có đủ tiền để chữa bệnh, em bị ép gả cho con trai địa chủ Đồng làng bên sông. Chiếu này, mẹ mua cho em chuẩn bị ngày sang sông!”. “Em Na đừng khóc nữa. Triệu Trân đã có ở đây rồi, hãy để Triệu lo chuyện này!”.

Triệu Trân theo Na về nhà. Mái tranh xiêu xiêu trong gió. Bố Na đã không thể nhấc mình nổi. Triệu đưa cho mẹ Na hai viên thuốc, bảo cho ông cụ uống cách nhau một canh giờ, sẽ khỏi bệnh. Triệu còn cho mẹ Na một bọc tiền, tặng Na nhiều đồ trang sức quý giá. Sáng hôm sau, Na chạy ra chỗ hẹn, vui mừng báo tin bố Na đã tỉnh táo hẳn, nhúc nhắc đi lại được.

Triệu Trân rước Na về làm vợ, sống trong dinh thự cuối làng, đặt tên là trại Vườn Na. Một đứa em gái họ chừng 7 tuổi, mồ côi cha mẹ được Na dẫn vào ở cùng cho có bầu bạn. Trong đêm tân hôn, Triệu cho Na xem một món đồ quý, đó là bộ ấm trà cung đình, tất cả đều làm bằng vàng ròng, Triệu đã dùng số lụa là và ít thuốc bổ để lấy được chúng từ trong cung ra. Triệu đeo vào cổ tay Na chiếc vòng ngọc đã chuộc lại ở tiệm cầm đồ, hôn lên trán Na thì thầm: “Em là thần may mắn của ta!”.

Sáng sang, Na mang chiếu ra bến sông giặt. Chiếu vợ chồng mới càng phải ra sông Lớn giặt tình nghĩa mới bền chặt, Na nói vậy. Nhưng Triệu Trân muốn giữ nhan sắc thôn dã cho riêng mình, bèn lệnh cho thợ đào ngay một cái ao trong Vườn Na, thả bèo ong cho nước trong veo để Na giặt giũ. Triệu không muốn cho ai nhìn thấy Na, vì Na quá đẹp, dễ sinh chuyện, nhất là những lúc Triệu vắng nhà.

Lửa tình mỗi lúc một mặn nồng. Nhất là sau mỗi chuyến Triệu Trân lênh đênh trên biển dài ngày trở lại Vườn Na.

Một chuyến, thuyền đã đầy hàng mà Triệu chưa chịu nhổ neo. Tay thuyền trưởng giục, sắp hết mùa biển lặng, không đi ngay sẽ không kịp với bão biển. Na vừa từ vườn trở vào, quần áo ngai ngái mùi cỏ cây, nghe tin, bảng lảng người ngợm, rổ na vừa hái rơi xuống đất, vãi tứ tung, có quả đang mở mắt, vỡ toác ra, phả mùi thơm nức mũi. Triệu nhặt lên, cắn một miếng, tấm tắc khen, na đầu mùa vừa ngọt vừa thơm. Nước mắt Na rơi lã chã như những giọt sương mai. Triệu bấm ngón tay lầm rầm tính toán, đoạn quẳng một túi vải cho thuyền trưởng, bảo cho anh em tìm chỗ mà chơi, 3 ngày sau nhổ neo vẫn kịp. Đoạn Triệu Trân ôm Na vào lòng, âu yếm: “Na đang mùa căng nhựa, ta sao có thể rời đi lúc này?”. Na chợt nôn khan, cổ ngẳng, da xanh tái. Ngắm các biểu hiện của vợ, Triệu thốt lên, có thai rồi, nàng sẽ sinh cho ta thêm cậu con trai để ta cắm một chốt trên bến này. Tình Triệu càng nồng nàn hơn trong những ngày sau đó. Đêm thứ ba, vợ chồng vừa ân ái xong thì Triệu nghe ngoài bến có tiếng súng nổ đì đùng, tiếng chân người chạy rình rịch, tiếng đập cửa vội vã. Triệu ló mặt ra, tay thuyền trưởng báo, trên kinh thành có biến, là một cuộc khởi nghĩa của nông dân, họ đang tiến về các bến cảng lớn, những thuyền buôn ngoại quốc đều đang rút chạy hết rồi. Triệu gọi Na vào buồng nói nhỏ điều gì đó, sau quay ra đưa cho lão hầu già túi bạc và dặn dò chăm sóc mẹ con Na cẩn thận, đợi khi nào yên, thuyền Triệu sẽ lại cập bến Cát Vàng. Rồi Triệu cho thuyền nhổ neo ngay sau đó.

Sau ngày Triệu đi, bụng Na mỗi lúc một to. Đứa em họ giúp Na giặt giũ, cơm nước. Nghe lão hầu già kể, tình hình đang ổn dần, trên kinh dẹp tan được giặc cỏ rồi, dưới bến cũng lác đác có bóng tàu thuyền cập bến. Na khấp khởi chờ đợi.

Một hôm, có người đàn bà lạ xăm xăm vào vườn hỏi mua na. Người này vừa cập bến, đi dạo ngắm cảnh quanh làng, ngửi thấy mùi na chín, hỏi thăm vào mua về làm quà biếu cho ông nội. Na bảo: “Na trong vườn trồng không để bán!”. Người đó bỗng mở túi lấy ra một bọc quả màu tím sậm, tròn lẳn, mềm mại gần giống như dâu tằm. Người đàn bà mời Na. Na chợt lên cơn thèm ghê gớm, cũng cắn thử một miếng. Nước từ quả ứa ra, lúc đầu chua chua, sau có vị ngòn ngọt, mát lạnh nơi cuống họng. Na gật gù khen: “Quả lạ, chua chua ngọt ngọt, rất ngon!”. Đoạn sai em họ vào buồng bê cả rổ na ra tặng người này. Đổi lại người này cũng tặng Na cả túi quả lạ. Trước khi ra bến người đàn bà dặn lại: “Quả này là quả dâu rừng còn có tên là quả nhan sắc, ăn vào sinh ra con đẹp như phượng như rồng, người mẹ cũng săn chắc, tươi trẻ như thuở còn con gái, đây là thứ quả quý hiếm, đợt này đi chạm mùa mới có ít hàng mang vào kinh thành bán!”.

Hôm sau, Na lại ăn hai quả, ăn xong, thấy người khỏe lên, thai nhi trong bụng đạp lục bục. Mấy hôm sau, bụng đã to thêm một chút, nhưng không thấy thai nhi đạp nhiều, chắc nó đã biết thương mẹ. Ăn gần hết túi quả thì Na bị đau bụng dữ dội, máu đen rỉ ra. Thầy lang được vời đến, sờ tay, bấm huyệt, nắn bụng. Một lúc sau, thầy lang lắc đầu thông báo: “Thai đôi, nhưng đã chết lưu, cần phải cho ra để cứu lấy mẹ!”. Thuốc được sắc đưa lên, Na lại ôm bụng kêu đau nhưng không chịu uống, một mực van nài thầy cứu đứa bé. Thầy hỏi: “Trong thời gian qua, cô có ăn thứ gì khác lạ không?”. Na kể có ăn quả dâu rừng – nhan sắc, đoạn sai đứa em họ mang nốt hai quả dâu rừng cho thầy lang. Bằng kinh nghiệm lâu đời, sau khi xem xét kĩ lưỡng hai quả dâu rừng, thầy lang thả chúng vào một cái thau nước có giỏ vài giọt thuốc thẫm màu, lúc sau vớt lên, thầy hết nhìn nước trong thau đang đổi màu lại nhìn hai quả dâu rừng, lắc đầu: “Thứ quả này đã bị tẩm thuốc độc để hủy thai rồi!”. Na nghe thế thì choáng rụng rời, máu ộc ra lênh láng giường chiếu, bụng nổi cơn đau quằn quại. Khi hai thai nhi ra đến ngoài thì Na cũng lịm dần, rồi tắt thở.

Lão hầu già chạy ra bến Cát Vàng, hỏi thăm người đàn bà đã cho quả dâu rừng, ai cũng lắc đầu không biết, nhưng một cậu bé chuyên xách bình nước vối bán dạo trên bến bảo có trông thấy bà ấy trên chiếc thuyền. Sáng ấy, trước lúc cho thuyền nhổ neo, người đàn bà đứng đầu mũi thuyền đổ một túi na chín xuống sông.

Mộ ba mẹ con Na được chôn ngay trong Vườn Na. Thời gian sau, bố mẹ Na thương con mà đổ bệnh, cũng lần lượt theo nhau đi cùng. Đứa em họ bỏ về đi ở đợ. Lão hầu già ở lại một thời gian, rồi sinh tật bệnh cứ nói năng lảm nhảm một mình, sau cũng phát ốm nặng, con cháu lên đón về quê, sau đó cũng mất.

Vườn Na bị bỏ hoang, rậm rạp, cỏ ngập bụng người, cây to đè cây bé, chim chóc, rắn rết tụ về. Ai đi qua vào lúc nửa đêm, thường nghe có tiếng trẻ con khóc ỉ ơi, tiếng người mẹ vừa hát ru con vừa thút thít kêu đau quá, đau quá. Nếu có trăng suông, người qua đường còn nhìn thấy những bóng trắng trèo thoăn thoắt lên cành na hái quả vừa ăn vừa ném bồn bột trêu người. Dân làng càng ít qua lại con đường nhỏ sau làng dẫn tới trại Vườn Na, đường không được bồi đắp, vắng dấu chân người, lầy lội, chằng chịt cỏ dại, dây leo.

Bao nhiêu năm.

Chuyện ma Na, lão Mạo kể có một lần, Khang nhớ hơn cả bảng cửu chương. Khang bây giờ đã 20 tuổi, cũng được học hành ít nhiều. Khang không sợ ma nữa.

Khi bóng trăng chênh chếch soi qua ô cửa sổ nhỏ, thì Khang lên đường. Chân đi ủng, tay cầm đèn pin. Phải hái được lá na trước 4 giờ sáng, thì thuốc mới phát huy tác dụng. Tối qua, bố Khang chưa kịp ăn miếng cơm nào, thì trận sốt rét lại đến hành hạ, miệng lảm nhảm kêu xung phong, xung phong, khi sốt bố Khang hay mê tới những trận đánh thời trai trẻ. Khang ôm chặt bố với đống chăn, bặm môi kìm cơn khóc. Suốt đêm ngủ chập chờn, tỉnh giấc là Khang vùng dậy, chuẩn bị đi cho kịp giờ.

Trời nhờ nhờ tối. Băng qua con đường nhỏ cỏ dại mọc chen lối đi, Khang nghe có tiếng bòm bõm dưới góc ao phía tây vườn, qua kẽ lá thấy ong ong, lùng bùng một khối đen sì dập dình dưới nước, chẳng lẽ là ma Trâu? Người Khang nổi gai ốc. Những cây duối to, cành mọc chằng chịt như dây mơ. Khang lom khom ngồi xuống, vén từng lớp cành duối chui vào trong, mặc kệ tiếng nước dưới ao lõm bõm.

Lão Mạo từng đe lần hai thằng dắt trâu qua cổng nhà lão ra đồng: “Đừng dắt trâu qua lối này, bị ma Trâu rủi xuống ao Vườn Na là chết sặc bùn đấy”. “Trâu lội bùn, sao chết sặc vì bùn được?”. Nghe hai thằng thắc mắc, lão Mạo cười: “Thì con ma Trâu trong vườn nó rủi, nó trêu cho chết!”. Trước kia, có bốt Tây đóng dưới bến. Một hôm, hai thằng Tây đen đi vào làng cướp gà, vịt nhưng chẳng còn con nào, qua Vườn Na ngửi thấy mùi thơm, định chui vào Vườn Na hái quả về ăn. Đi tới con đường nhỏ rẽ vào trại, bỗng thấy con trâu nhà ai đang thả ven đường hoang vắng, chúng rủ nhau đâm thủng bụng trâu cho chết, mổ lấy thịt chén, da và xương quẳng xuống ao. Về sau, dưới ao luôn có tiếng trâu quần bùn. Tiếng đồn lan đến bốt Tây. Hai thằng Tây đen thèm thịt trâu lại lỉnh đi. Chẳng ngờ, qua đêm không thấy về, sớm sau, lính Tây đi tìm thì thấy xác hai thằng nổi lềnh phềnh trong ao bèo ong. Ma Trâu đã dìm chết chúng. Bọn trẻ trâu được nghe lại chuyện này, chẳng đứa nào dám đi chăn trâu qua đường này nữa.

Trưa hôm qua, lúc chạy sang nhà cụ Tá về nhà cho nhanh, Khang mới chạy tắt qua đường Vườn Na, thấy lão Mạo mở cổng dẫn một người đàn ông tóc trắng, áo đen xách va li vào, Khang dừng lại nhìn. Từ trước tới nay, chẳng bao giờ thấy lão Mạo có ai đến thăm cả. Lão cứ sống dật dờ với mảnh ruộng cạnh nhà, cá tôm thì bắt dưới mương quanh trại Vườn Na mà ăn. Cụ Tá vẫn dò ra gốc tre đầu làng ngồi nói lẫn liên mồm rằng lão Mạo ăn cá quanh mương Vườn Na một mình nên bị méo mồm, nên vợ chê! Người làng đồn, hồi trẻ lão cũng có vợ, nhưng rồi bị vợ chê vì bệnh lao phổi. Lão bỏ đến đây dựng căn nhà tranh ở cạnh Vườn Na sống lay lắt qua ngày. Không có ai vào nhà lão chơi. Đến ma trong vườn cũng chẳng dám động tới lão. Nay, tự dưng lão lại có khách. Khang tò mò nhìn. Lão Mạo khó chịu khi thấy Khang, e hèm bước ra gằn giọng: “Đi đâu mà đứng đây?”. Khang ấp úng: “Cháu đi tắt cho nhanh, ai đến thăm ông đấy?”. “Người nhà thất lạc mới tìm thấy, không về đi định đợi ma trêu hả?”. Khang chạy.

Tiếng nước vẫn bòm bõm. Khang vung cành roi dâu trong tay, bấm đèn. Khối lùng bùng, ong ong đen sì bỗng lóe lên rồi tan ra như sương, đám bèo ong dạt sang một góc như vừa có ai gạt, bàn chân Khang hơi chững lại, mồ hôi đã túa ra hai bên thái dương. Ao bèo phủ một màn sương. Trong vườn cây lá một màu nhờ nhờ, đùng đục. Văng vẳng có tiếng “eo eo” như trẻ con khóc. Khang run run bước. Phía trước là một gốc na thâm thẫm. Khang nhoài người, dẫm đạp lên cỏ dại, tay vẫn không thôi vung cành dâu, cảnh bố ho sù sụ, run sần sật trong chăn tiếp thêm can đảm cho Khang. Tới gần gốc na, thì bỗng nhiên trên cành rung chuyển mạnh, những đôi mắt xanh lét lóe sáng như đom đóm, hai bóng đen nhảy chồm chồm trên cành, kêu thét lên “eo eo” rồi lao vọt xuống gốc na, quăng mình vào chân Khang, rẽ cỏ chạy biến mất trong màn sương. Khang ngã dúi xuống cỏ, chân tay bủn rủn, chiếc đèn pin văng đi đâu mất. Khang nhủ thầm, chỉ là hai con mèo hoang, đừng sợ. Khang bám tay vào gốc na, đu lên. Nhất định phải hái được lá na. Cây na này thân to, sần sùi mà khó trèo vì cành mọc tít trên cao. Khang leo, đu mãi cũng vắt chân để gác mình lên được một cành. Vừa đưa tay co cành na lại gần để hái nắm lá thì mắt Khang khựng lại. Phía tây vườn, sau mấy cây na già na con, có ánh đèn pin loang loáng. Bóng hai người. Khang hoảng. Hay là ma trêu? Nhưng không, ánh đèn pin lóe lên, rõ bóng hai người đàn ông, những tiếng nói rì rầm, Khang bớt run, khẽ khàng trèo lên hai cành cao hơn nữa, xem có điều gì đang xảy ra trong kia, vén cành to ra để nhìn sang, thì nghe có tiếng cười khùng khục man rợ. Trời đã rạng hơn một chút nên Khang nhìn thấy cái hố đất sâu mới đào cạnh ao bèo ong. Sát một gốc na to, lão Mạo đang quỳ xuống bên một cái hòm sắt vừa mở. Người đàn ông tóc trắng, áo đen nói một câu gì đó khàn khàn trong lúc lão Mạo ngây người ngắm những đồ vật trong chiếc hòm sắt. Bất ngờ, người tóc trắng vung tay chém xuống gáy lão Mạo, lão gục ngay xuống lòng hố. Người kia nhặt đồ trong hòm sắt xếp vội sang chiếc va li của mình, khóa lại, xong thì chạy vọt đi nhanh như con mèo hoang, thoắt cái đã biến mất trong màu xanh ngái ngủ của trại Vườn Na.

Sau phút bàng hoàng, Khang tụt xuống chạy tới hố sâu lôi lão Mạo lên…

*
Khang giã lá na cho bố uống. Một lát sau mẹ kiểm tra gật đầu bảo có chiều hướng ổn, Khang bèn chạy sang nhà lão Mạo.

Lão Mạo chậm chạp mở mắt, thấy mình đang nằm trong giường tre. Hàng xóm lố nhố đứng, ngồi trong nhà. Cả bà cụ Tá cũng đứng chống gậy nhai trầu móm mém. Lão thều thào: “Tôi còn sống sao?”. “Thằng Khang nó bế ông lên rồi chạy gọi anh y sĩ đến đấy!”. Mọi người nhốn nháo hỏi chuyện về cái hòm sắt bị đào lên trong Vườn Na. Lão Mạo ngồi thu lu góc giường, mặt đờ ra, bụng dạ của lão lúc này đang hụt hẫng, chơi vơi, mãi lão mới cất giọng rầu rầu: “Mọi người nhớ chuyện cô Na đã mất từ lâu trong Vườn Na này chứ?”.

Người đàn bà đã đổi na lấy dâu rừng tẩm thuốc độc để triệt thai cô Na chính là vợ cả của Triệu Trân. Lần cuối từ biệt Na ra tới biển thì thuyền Triệu Trân gặp cướp biển. Thuyền bị cướp, người bị đánh đến gãy hai chân tưởng chết; về tới nhà, Triệu Trân phải cưa hai chân để cứu tính mạng. Triệu Trân không thể đi buôn đường dài được nữa, đã nói chuyện có thê thiếp với vợ cả. Vợ cả ngon ngọt nhận lời đánh chuyến hàng cuối sang để đón Na về cho Triệu. Nhưng trong bụng ả đã có âm mưu hãm hại Na. Khi về tới nhà, vợ cả bảo, bến Cát Vàng bị bạo loạn tràn qua, Na đã bị giết chết vì nghi ngờ có quan hệ với thương gia ngoại bang. Triệu Trân đau khổ mấy năm sau, rồi chết. Trước khi chết có dặn con trai, trại Vườn Na còn chôn cất một kho báu là bộ ấm chén trà đều bằng vàng ròng và châu báu mà Triệu đã lấy được ra từ cung điện. Lúc trước vội chạy loạn, đã không thể đào mang kịp theo, sau thì sức đã tàn chẳng sang lấy lại. Cánh tay Triệu vừa giơ lên chưa kịp chỉ nơi cất giấu sơ đồ kho báu thì buông thõng xuống, Triệu tắt thở. Một vài lần, người nhà Triệu Trân sang dò hỏi, đào tìm, nhưng chưa thấy, Vườn Na thì quá rộng và rậm rạp. Sau người đó đã bắt liên lạc với lão Mạo, cho ít bạc, dặn lão cứ bám Vườn Na, khi nào tìm được sơ đồ ông cụ thân sinh để lại sẽ sang lấy kho báu, rồi cho theo sang đó chữa bệnh, hưởng vinh hoa phú quý tới hết đời.

Vài hôm trước, người đó sang, bảo đã tìm thấy sơ đồ, Triệu Trân giấu tận trong giữa lớp gỗ của tủ đựng đồ cổ, lâu rồi bị mọt, lôi ra làm lại thì phát hiện thấy. Nhiệm vụ của lão Mạo là xác định đúng tâm vị trí nền nhà xưa của Triệu Trân. Bây giờ, na, cỏ cây dại đầy rẫy, nhưng lão cũng đã tìm được. Từ đó, nhằm hướng tây bước 10 bước tới gốc duối, quay sang trái bước 8 bước nữa tới cạnh một gốc na, một gốc duối, gần ao bèo ong. Lão Mạo và người tóc trắng đào xuống thì thấy chiếc hộp sắt. Người tóc trắng bẻ khóa, bảo lão Mạo mở hòm. Mở ra, thấy trong đựng một bộ đồ uống trà bằng vàng và những đồ trang sức vàng ngọc khác. Trong khi lão Mạo cúi xuống ngây dại ngắm kho báu như bị thôi miên thì người kia ra tay…

“Sao lão biết có kho báu mà bám giữ trại Vườn Na để kể những chuyện ma tà quái dị dọa mọi người?”. Một bác hỏi. Lão Mạo nghẹn lời, mắt đỏ sọng lên, ho sù sụ. Cụ Tá gõ cây gậy xuống nền nhà cộp cộp: “Lão hầu già trong nhà Triệu Trân đã đoán định được kho báu vẫn chưa được mang đi nhưng không biết chỗ cất giấu, đã truyền cho con trai của mình bí mật đó. Lão chính là người con trai đó đúng không?”. Cụ Tá dò dò tới chỗ lão Mạo ngồi, lấy tay vén đám tóc lơ phơ trước trán lão: “Cái vết sẹo này, hồi lão mới chập chững biết đi, bố lão dẫn đến Vườn Na chơi. Lão theo ta ra vườn hái na, bị ngã đập trán xuống mỏm đá, chảy bao nhiêu máu, vết sẹo vẫn còn. Bấy lâu nay lão đã tìm tới gần Vườn Na để chờ cơ hội!”. Lão Mạo tròn mắt nhìn cụ Tá. Cụ Tá dừng lại rất lâu để thở. “Mấy hôm trước, lão Mạo tìm tới nhà tôi cho tôi một nồi cá trê kho rồi hỏi, nền nhà phía tây của Triệu Trân có phải nằm sát hai gốc duối không, tôi đã gật đầu. Ngày ấy, lúc ra ở với chị tôi tuy còn quá bé nhưng tôi vẫn nhớ hay ra nhặt quả duối chín rụng để ăn, còn chị Na thường ra đấy ngồi hóng mát, trước mặt là vườn na trĩu quả…”.

Nguyễn Thu Hằng
(Huyện Cẩm Giàng – tỉnh Hải Dương)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 494

Ý Kiến bạn đọc