Tản văn

Trại viết nhạc trong chiến tranh

Ở đầm Rây Phong

Khoảng giữa tháng 5-1971, những người làm văn học – nghệ thuật tập trung về hội trường Ban Tuyên huấn Trung ương Cục để nghe đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) truyền đạt nghị quyết.

Lớp quán triệt nghị quyết này sẽ tiến hành trong nhiều ngày. Đến ngày thứ hai thì tôi được lịnh biệt phái qua Cục Chính trị Quân Giải phóng.

Được biết, chiều 18-5-1971, Chi bộ Đoàn Ca múa Quân Giải phóng chuẩn bị làm lễ kết nạp đảng viên mới thì… tai họa ập đến thình lình: một cơn lốc khủng khiếp quay cuồng, tàn phá căn cứ của Đoàn Ca múa. Một thân cây to đùng bị tróc gốc đè chết nhạc sĩ Phạm Lập và biên đạo múa Nguyệt Ba!

Trại sáng tác nhạc bên quân đội sắp khai mạc, do nhạc sĩ Phạm Lập và nhạc sĩ Phương Giao (tức Phong Kỳ) phụ trách. Nhưng không may, nhạc sĩ Phạm Lập mất rồi, nên Cục Chính trị đề nghị với anh Tư Siêng (nhạc sĩ Lưu Hữu Phước) cử Lư Nhất Vũ qua hỗ trợ cùng nhạc sĩ Phương Giao.

Cậu giao liên của Tiểu ban Văn nghệ chở tôi đến thị trấn Xa Long (thuộc tỉnh Kampông Chàm). Trên đường đến Đoàn Ca múa Quân Giải phóng, tôi ghé thăm con gái Lê Việt Nga – là “chị nuôi” của ông đạo diễn Mai Lộc, thủ trưởng cơ quan Điện ảnh Giải Phóng. Không biết con gái tôi học nấu nướng lúc nào mà đứng bếp, lo cơm nước cho hàng chục người giữa rừng già thâm u này!?

Chia tay “chị nuôi” Việt Nga, tôi tiếp tục lên đường. Đến xế chiều thì trời đang chuyển mưa, sấm chớp liên hồi. Tôi nhanh chân băng qua cánh đồng, rồi chui qua hàng rào tre gai um tùm thì… bàng hoàng gặp hai nấm mồ của hai đồng nghiệp. Tôi đoán ngay là nơi yên nghỉ của Phạm Lập và Nguyệt Ba. Tôi bồi hồi đứng mặc niệm mà lòng tràn ngập nỗi đau thương tiếc.

Thật cảm động khi gặp lại bạn bè của Đoàn Văn công Sư đoàn 330 tập kết, như các anh: Lê Đình Tiểng, Vũ Thành, Trí Thanh, Phong Nhã, Huyền Tung, Trường Sơn, Đinh Tranh, Phạm Năm, Trương Việt Thông (Đoàn Ca múa miền Nam), Thạch Xrây Manh và Đinh Oai (Đoàn Ca múa Tây Nguyên), Như Tâm (trong điệu múa ong vò vẻ)… Và bùi ngùi nhớ đến Thạch Rương, nhạc sĩ người Khmer, đã hy sinh ở chiến trường Đồng bằng sông Cửu Long, năm 1970.

Thành viên của trại sáng tác là các nhạc sĩ và nhạc công của “chủ nhà” như: Trí Thanh, Vũ Thành, Đinh Tranh, Trương Việt Thông; của Đoàn Văn công Hậu cần, Sư đoàn 9, Sư đoàn 7, Khu 6 (Trọng Thủy), Khu 9 (Thanh Hùng).

Ngoài những buổi trao đổi về kinh nghiệm sáng tác nhạc tôi còn truyền đạt về “Vấn đề thang âm điệu thức trong dân ca Nam bộ”, Tính năng nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng, cách phối khí cho dàn nhạc không chính quy, tính năng các giọng hát.

Những cuốn sách quý hiếm do Hội Nhạc sĩ Việt Nam in đã cùng tôi vượt Trường Sơn ròng rã 4 tháng trời, nay nhìn thấy anh em đồng nghiệp nâng niu chép từng trang bất kể ngày đêm, khiến tôi bùi ngùi xúc động.

Trai-viet-nhac-o-R---1873---Anh-1
Trại viết nhạc ở R – 1973. Hàng ngồi thứ 2 từ phải qua: NS. Lưu Hữu Phước.
Hàng đứng từ trái qua: NS Lư Nhất Vũ, NS. Thanh Trúc (thứ 5),
ông Trịnh Mai Diêm (thứ 7, cuối cùng).

Trong những buổi lên lớp, đang bàn đến đề tài học thuật thật sôi nổi thì… bỗng dưng có một cơn giông kéo đến, “thầy trò” nhanh chân chui xuống hầm trú ẩn. Cây cối đã “bị thương” sau cơn lốc, bây giờ rơi xuống đất ầm ầm như trận bom B52. Cũng may là mọi người đã đề phòng. Hội trường lớp học cũng không hề hấn gì.

Trong thời gian anh em đang “o bế” tác phẩm cho kịp ngày kết thúc trại sáng tác, tôi tranh thủ viết một ca khúc với nhan đề “Mùa chim trên Bảy Núi”. Đây là bài hát đầu tiên của tôi sáng tác trực tiếp trên chiến trường miền Đông Nam bộ, được Đài phát thanh Giải Phóng sử dụng qua tiếng hát Mỹ An, với lời ca mở đầu:

An Giang mình đẹp lắm
Đây núi Dài sừng sững hiên ngang
Kia núi Phượng Hoàng đang xòe cánh
Trên đất mẹ nắng sớm mưa chiều
Gió đưa tiếng hò mùa chim két bay…

Theo yêu cầu của Đoàn Nghệ thuật Quân Giải phóng Miền, tôi viết mấy ngày liền mới xong bản độc tấu “Tiếng T’rưng giữ rẫy”, do nghệ sĩ Tây Nguyên Đinh Oai cùng dàn nhạc diễn tấu. Đây là tiết mục sau này đi biểu diễn phục vụ bộ đội được hoan nghênh nồng nhiệt.

Trại sáng tác nhạc rồi cũng đến ngày kết thúc. Sau buổi biểu diễn những bài hát của trại viên thì chúng tôi bịn rịn chia tay. Có người về Khu 6, có người về tận Khu 9, và nhiều anh em trở lại các đoàn văn công của Hậu cần, Sư đoàn 7, Sư đoàn 9.

Tôi về Tiểu ban Văn nghệ R, có nhạc sĩ Thanh Hùng cùng đi (để về Khu 9 – Tây Nam bộ). Chúng tôi đi từ rừng Đầm Rây Phong đến thị trấn Xa Long vào lúc 2 – 3 giờ sáng. Đêm trăng mờ mờ ảo ảo. Trời se se lạnh. Cách đây mấy ngày, Quân Giải phóng Miền đã chận đánh tan tác những trận càn của ngụy quân Sài Gòn trên con lộ 2, đây là đường đất đỏ nối liền từ tả ngạn sông Mê Kông đến địa danh Ngã Tư Nước Đá, Lò Than, Đầm Be đến biên giới Tây Ninh… là nơi thất bại nặng nề của Lữ đoàn thiết giáp ngụy (ở Đầm Be). Trên đường còn ngổn ngang xe cơ giới địch và dấu vết của hàng trăm xác chết ngụy. Thanh Hùng cầm lựu đạn (đã rút chốt), tôi lăm lăm khẩu K54 (đã lên đạn) để đề phòng tên lính ngụy nào đó còn sống sót có thể bắn lén!?

Gặp xác chiếc xe M113, chết cháy nằm chình ình giữa đường, tôi tò mò leo lên xe thì giựt mình, thấy thi thể một tay lái mình mẩy xám xịt, đầu gục trên cần lái. Tôi vội nhảy xuống. Thanh Hùng hỏi tôi: “Có gì lạ không? Anh Năm?”. Tôi đáp: “Cứ leo lên coi rồi sẽ biết”. Thanh Hùng leo lên xe, rồi nhảy xuống thật nhanh, miệng kêu khe khẽ: “Ghê quá!”.

Về đến căn cứ ngành Âm nhạc Giải phóng, chúng tôi giữ Thanh Hùng ở lại chơi vài ngày, tranh thủ bồi dưỡng để có sức trên đường về miền Tây Nam bộ. Hiện nay, Thanh Hùng là Đại tá, hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam, nguyên Trưởng đoàn Nghệ thuật Quân khu 9.

Ở R

Rạng sáng ngày 2-2-1973, chúng tôi được lệnh chuyển cứ cấp tốc từ Đầm Be (Kampông Chàm) về vùng đất Tây Ninh, gần Lò Gò, Thiện Ngôn, Xa Mát.

Sau khi ổn định chỗ ăn ở tại căn cứ mới, lãnh đạo của Tiểu ban Văn nghệ R giao cho ngành Âm nhạc Giải phóng mở trại sáng tác nhạc trong vòng 6 tháng (từ tháng 11-1973 đến tháng 4-1974). Phần lớn các trại viên là nhạc sĩ đang hoạt động ở T2, tức Trung Nam bộ, gồm Kiến Phong, Kiến Tường, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Bến Tre.

Đi theo đường dây xuyên qua nhiều địa hình hiểm trở để lên đến miền Đông, đất Tây Ninh…rất gian nan, đầy thử thách; chỉ có 9 nhạc sĩ hành quân về đến R, gồm có các anh Thành Sơn, Xuân Hòa, Đức Thu, Thanh Bình, Tùng Sơn, Hữu Tài, Cẩm Bình, Bé Ba và Bé Hoàng Hiệp (Văn công Đồng Tháp).

Tổ giảng viên gồm có:

Nhạc sĩ Hồ Bông với môn: Hòa âm và phức điệu.

Lư Nhất Vũ: Nhạc lý cơ bản, tác khúc, phối âm phối khí và hòa âm dân tộc.

Ngô Đông Hải: Điệu thức dân ca Nam bộ.

Nguyễn Tấn Thi: Xướng âm, ký âm.

Ngoài ra, chúng tôi còn tổ chức những buổi ngoại khóa, mời các nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn, Cửu Long, Thanh Trúc để trao đổi kinh nghiệm sáng tác, nghệ sĩ Thế Viên giới thiệu tính năng đàn t’rưng và cồng chiêng.

Anh em trại viên đều mắc võng, căng tăng xung quanh hội trường để tiện việc lên lớp. Thời khóa biểu rất khít khao, từ 7 giờ sáng đến 11 giờ trưa, từ 14 giờ đến 16 giờ 30 mỗi chiều. Ngày chủ nhật thì được nghỉ, có khi cùng với cơ quan chủ quản đi cõng gạo hoặc đi cưa cây bửa củi. Những buổi chiều thì anh em có thể ra sân chơi bóng chuyền, bóng đá.

Ăn uống đạm bạc, ở thì tạm bợ mà tiếp thu bao nhiêu môn như đã nêu trên thật căng thẳng, nhưng trong chiến tranh mà! Phải tranh thủ chạy đua với thời gian. Vả lại, đây là những cẩm nang nhằm trang bị cho anh em học viên “bỏ bụng” vốn liếng để sử dụng khi trở lại chiến trường T2.

Ngày 8-12-1973, có một cuộc họp giữa tổ giáo vụ với trưởng, phó lớp sáng tác để rút kinh nghiệm sau 4 tuần lễ qua. Ý kiến anh em cho rằng: Bộ môn nào cũng đều quan trọng, rất thiết thực cho anh em sau này về địa phương công tác.

Thời gian này, tôi đi chợ Xtung mua 20 trứng vịt đem về cho mấy con gà mái nó ấp. Và không bao lâu một bầy vịt con khẻ mỏ chui ra vỏ trứng chào đời. Mỗi lần tôi đi lên lớp giảng bài, dọc theo con đường mòn nhỏ hẹp, một bầy vịt con lông tơ vàng tươi sắp hàng chạy theo sau lưng tôi. Con này giẫm đạp lên con kia, té chúi nhủi. Khi tôi đứng trên bục giảng (bằng đất nện) thì bầy vịt con nằm xếp lớp chờ tôi dưới bục, lông tơ vàng mịn như… kén tằm.

Sau những ngày anh em tiếp thu tương đối nhuần nhuyễn kỹ thuật của nhiều bộ môn, là đến lúc hoàn thành tác phẩm để biểu diễn báo cáo trong buổi bế mạc trại sáng tác nhạc.

Khi anh em nộp bài hát dưới dạng phác thảo cho tổ giáo vụ, chúng tôi phát hiện nhiều bài có nét nhạc na ná nét nhạc trong bài hát của Đức Thu!? Té ra cái chòi của Đức Thu nằm ở giữa 8 cái võng được mắc chung quanh của các anh em học viên như vệ tinh. Đức Thu có cái tật khi sáng tác đều đánh đàn guitare và hát nghêu ngao thật to, cho nên nét nhạc nào của Đức Thu mà nghe hay đều “lọt” vào những bài hát đang thai nghén của anh em ở bên cạnh. Do đó, tôi và nhạc sĩ Hồ Bông đề nghị anh em mình nên phân tán ra, ở một góc rừng nào đó hoặc ra ngoài rìa trảng trống để tránh giai điệu có thể na ná giống nhau.

Đến tháng 4-1974 thì kết thúc lớp học. Trong lễ bế giảng có buổi biểu diễn báo cáo kết quả tác phẩm của 9 học viên. Nhà văn Lý Văn Sâm, đại diện Tiểu ban Văn nghệ R phát biểu. Thành phần đại biểu có nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; nhà văn Thanh Nghị, Thứ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; ông Trịnh Mai Diêm, chánh văn phòng Tiểu ban Văn nghệ. Khách mời đặc biệt là các anh em trong phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe”, có Trần Long Ẩn, Trương Quốc Khánh, Nguyễn Văn Sanh, Lê Duy Hạnh (nhạc sĩ Tôn Thất Lập đã ra Hà Nội nhận công tác mới).

Mấy tháng trước, lãnh đạo T4 (tức đặc khu Sài Gòn – Gia Định) có mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho những anh em này tại Xóm Giữa. Nhà biên kịch Ngô Y Linh, biên đạo múa Thái Ly và tôi được cử đến truyền đạt chuyên môn với anh em. Lớp học đóng quân dưới rừng cây lộc vừng, bên bờ sông Vàm Cỏ trên đất Tây Ninh. Bữa cơm của chúng tôi rất đạm bạc, toàn là bông lục bình tím luộc chấm nước muối. Hôm chia tay, anh em gom góp được 120 đồng (tiền Sài Gòn) rồi kéo đến tiệm hủ tiếu, mua được một chai la-ve đầu con cọp và một thau xíu quách. Chủ quán cho thêm một chai cơm rượu sủi bọt.

Nhậu chưa “đả ngứa”, anh em rủ nhau đi tắm sông. Tôi cao hứng, liền phóng xuống nước đúng kiểu cách một vận động viên bơi lội. Bơi được một quãng, tôi thử lặn một hơi qua bờ bên kia sông thuộc đất Campuchia. Đến trời chạng vạng thì chúng tôi lên bờ. Trên đường về chỗ đóng quân, tôi nghe mấy tay “văn nghệ nội thành” xì xào to nhỏ: “Tụi mình bàn bạc với nhau định dìm nước ổng một phen, nhưng ổng lặn hụp như con rái cá”…

Buổi liên hoan bế mạc trại sáng tác ở R thật xôm tụ, vui quá chừng. Chúng tôi qua bên phum sóc Khmer tậu về 2 con cầy tơ và 21 con vịt bầu; 2 can nhựa rượu trắng mua từ Xóm Giữa (loại không có pha khí đá). Chúng tôi “khai hỏa” từ 4 giờ chiều đến 2 – 3 giờ sáng. Cứ quây quần xung quanh đống lửa, vừa đuổi muỗi vừa ngấu nghiến những miếng thịt thơm phức… Rồi say sưa cùng hò hát tiễn biệt nhau. Chín nhạc sĩ trại viên sẽ hành quân trở lại chiến trường miền Trung Nam bộ. Anh em của phong trào đấu tranh ở nội thành phải vượt Trường Sơn ra Hà Nội học tập. Trước khi “xáp trận”, anh em nhắc nhau nhớ vị trí mình mắc võng để khi tan cuộc mà bị “xây xẩm sau khi xỉn” biết hướng mà bò lết về. Vậy mà nhạc sĩ T.Q.K bò mới tới cái gò mối thì đánh một giấc tới sáng.

Mấy ngày sau, 9 anh em dự trại viết nhạc đã ra trạm giao liên về địa phương. Còn Lê Duy Hạnh, Trương Quốc Khánh, Trần Long Ẩn và Nguyễn Văn Sanh ở lại thêm vài ngày, đãi đằng nhau cho phỉ tình phỉ dạ… Tất nhiên có đàn vịt xinh xắn từng theo tôi ngày ngày lên lớp học cũng góp phần làm mồi thơm ngon cho mỗi cuộc tiễn đưa. Còn sót lại 2 con vịt bầu, đêm nào cũng leo lên dép cao su của tôi đẻ một trứng ấm hiểm…

Lư Nhất Vũ
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2018

Ý Kiến bạn đọc