Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Tố Hữu người viết Sử thi cách mạng

Kỷ Niệm 100 Năm Ngày Sinh Nhà Thơ (4/10/1920 – 4/10/2020)

 

Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn cuối, bài thơ “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” đến với những người kháng chiến ở Nam bộ một nét thăng hoa tuyệt vời. Bài thơ rất đẹp, đi vào lòng người, trước hết là ở nét đẹp của khí phách Việt Nam.
Kháng chiến ba ngàn ngày

Không đêm nào vui bằng đêm nay
Đêm lịch sử Điện Biên sáng rực
Trên đất nước, như
Huân chương trên ngực
Dân tộc ta, dân tộc anh hùng
Điện Biên vời vợi nghìn trùng
Mà lòng bốn biển nhịp cùng lòng ta…

Với lời thơ và nhạc điệu đầy sảng khoái, lạc quan ca ngợi chiến thắng, thơ Tố Hữu, suốt trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ như chứa đựng ánh sáng hào hùng, giúp thêm sức cho những người yêu nước vượt qua thời kỳ đen tối, phải chiến đấu quyết liệt với chiến dịch “Tố cộng, diệt cộng” vô cùng tàn bạo của Mỹ – Diệm…

Đặc biệt bài “Ta đi tới” (1954) và“Bài ca mùa xuân 1961” là những dòng chan chứa tình yêu Tổ quốc, mỗi bài thực tế hiện lên như một thiên sử ca về thắng lợi của cuộc đấu tranh chống xâm lược Pháp, sau 9 năm kháng chiến, về nỗ lực xây dựng miền Bắc vì miền Nam ruột thịt, như báo trước thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Ôi tiếng của cha ông thuở trước
Xin hát mừng non nước hôm nay
Một vùng trời đất trong tay
Dẫu chưa toàn vẹn, đã bay cờ hồng
Việt Nam dân tộc anh hùng
Tay không mà đã thành công nên người…

Và tấm lòng với miền Nam

… Ai vô đó với đồng bào, đồng chí,
Nói với nửa Việt Nam yêu quí
Rằng nước ta là của chúng ta
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Chúng ta con một cha, nhà một nóc
Ruột với xương, tim óc dính liền
Dù ai nói ngả nói nghiêng
Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân
Dù ai rào giậu ngăn sân
Lòng ta vẫn giữ là dân Cụ Hồ…
(Ta đi tới)

Đối với thanh niên, thơ Tố Hữu phát huy triệt để 3 luồng cảm hứng:

Trước hết là, tình yêu Tổ quốc sâu đậm, thể hiện qua những lời thơ trầm hùng rất truyền cảm. Như đoạn trích dưới đây trong bài “Ba mươi năm đời ta có Đảng” (1960):

Ôi Tổ quốc! Vinh quang Tổ quốc!
Ngàn muôn năm dân tộc ta ơi
Việt Nam anh dũng sáng ngời
Ánh gươm Độc lập giữa trời soi chung.

Hai là, những bài đề cập đến lý tưởng, rất giản dị, nhưng sâu sắc: Khi dân tộc chìm trong vòng nô lệ, Đảng đã sinh ta lần thứ hai, trao cho ta danh dự làm Người, và vạch cho chúng ta lý tưởng chiến đấu vì một xã hội mới:

Có gì đẹp trong đời hơn thế
Người yêu người sống để yêu nhau
Đảng cho ta trái tim giàu
Thẳng lưng mà bước, ngẩng đầu mà bay.
(Ba mươi năm đời ta có Đảng)

Lý tưởng Cách mạng đã xoay chuyển hẳn tuổi thanh xuân của Tố Hữu theo hướng cách mạng, là tấm gương sống cho thế hệ trẻ đến sau:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một rừng hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim…

Ba là, lòng căm thù thú tính man rợ của quân xâm lược: Thơ Tố Hữu về các gương điển hình, như Bà Má Hậu Giang, Lượm, Người con gái Việt Nam (Trần Thị Lý), Hãy nhớ lấy lời tôi (Nguyễn Văn Trỗi), Thù muôn đời muôn kiếp không phai… Trong phong trào chống chế độ Sài Gòn những năm 70 của thế kỷ XX, thanh niên, học sinh, sinh viên thành phố đã dùng ngay lời thơ Tố Hữu làm biểu ngữ đấu tranh công khai: “Máu kêu trả máu, đầu van trả đầu”, mà địch không dám đàn áp.

So-614--To-Huu-nguoi-viet-Su-thi-cach-mang---Anh-1
Bác Hồ làm việc với đồng chí Tố Hữu, tháng 4-1960. (Ảnh tư liệu)

Trong phần lớn thời gian tham gia kháng chiến, những lúc gian nguy, khắc nghiệt của chiến trường, hay trong tù đày, dù ngoài thân chỉ mong manh áo vải nhưng trong lòng cán bộ chiến sĩ miền Nam luôn được sưởi ấm từ nguồn thơ Tố Hữu:

Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc Cụ Hồ sáng soi
Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.
(Việt Bắc – 1954)

Cái “chí bền” đó có được trong mỗi con người chiến sĩ cộng sản trước hết từ sự tu dưỡng bản thân về lý tưởng, về phẩm chất chiến đấu, kiên định lập trường, tin vào đường lối đúng đắn của Đảng, tin vào lãnh tụ… Phẩm chất đó được lời thơ Tố Hữu, nâng lên thành sức mạnh trong nhân dân chiến thắng kẻ thù.

Nhưng có lẽ điều đặc sắc nhất trong thơ Tố Hữu là hình tượng Bác Hồ. Hình tượng Bác Hồ trong thơ Tố Hữu chung nhất là một tượng đài trong lòng Dân.

Năm 1951, khi Tố Hữu được điều lên công tác ở ATK Việt Bắc (An toàn khu), với bài thơ “Sáng tháng năm”, góc nhìn, tình cảm, tư duy về Bác rất đặc biệt: Bác Hồ rất vĩ đại nhưng lại rất gần gũi:

Bác Hồ đó chiếc áo nâu giản dị
Màu quê hương bền bỉ đậm đà
Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta
Ta bỗng lớn ở bên Người một chút…
(Sáng tháng năm)

Năm 1954, hình ảnh Bác Hồ trong bài Việt Bắc, sáng ngời nét đẹp của một nhà cách mạng Phương Đông, hoạt động trong chiến khu, gắn với quần chúng, là trung tâm của cuộc kháng chiến:

Nhớ ông cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo
Nhớ khi Người bước lên đèo
Người đi rừng núi trông theo bóng Người.

Bác Hồ tượng trưng cho niềm cố kết dân tộc:
Dù ai nói ngả nói nghiêng
Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân
Dù ai rào giậu ngăn sân
Lòng ta vẫn giữ là dân Bác Hồ…

Lòng ta không giới tuyến
Lòng ta chung một Cụ Hồ
Lòng ta chung một thủ đô
Lòng ta chung một cơ đồ Việt Nam.
(Ta đi tới!)

Năm 1969, Bác mất! Bài thơ “Bác ơi!”, là tiếng khóc nấc nghẹn cho tác giả cũng là tiếng khóc cho mọi người về sự mất mát to lớn: người con vĩ đại của dân tộc đã về với tổ tiên, về với thế giới người hiền:

Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm
Quanh mặt hồ in mây trắng bay…
… Bác ơi! Lòng Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông, mọi kiếp người

Và hình tượng Bác được cô đọng trong 2 câu thơ:

… Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi giữa lối mòn.
(Bác ơi!)

Năm 1970 – một năm sau khi Bác mất – bài trường ca “Theo chân Bác” là một bản tổng kết hay nhất về cuộc đời của Bác, cuộc đời của một con người vừa vĩ đại trong tầm tư duy, hành động, vừa rất giản dị trong lối sống mẫu mực, đậm nét Phương Đông. Nhà thơ muốn mọi người:

Nhớ lời Di chúc theo chân Bác
Lên những tầng cao thẳng cánh bay

… Còn những ai chưa được một lần
Trong đời gặp Bác. Hãy nhanh chân
Tiến lên phía trước. Trên cao ấy
Bác vẫn đưa tay đón lại gần!…
(Theo chân Bác)

Chúng ta có thể nói, như nhà báo Đỗ Quế Anh (báo QĐND): Thơ Tố Hữu về Bác Hồ đã chuyển từ “phi thường trong phi thường”, thành “phi thường trong giản dị”.

Sáu năm sau ngày Bác mất, Tố Hữu viết về ngày Toàn thắng 30/4/1975, bài thơ “báo cáo” với Bác chứa đựng niềm vui tột độ về Đại thắng mùa xuân 1975:

Ôi buổi trưa nay tuyệt trần nắng đẹp
Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta
Chúng con đến xanh ngời ánh thép
Thành phố tên Người rực rỡ cờ hoa.
(Ngày toàn thắng)

Nhìn chung quá trình thơ Tố Hữu viết về Bác Hồ đã chuyển từ nhận thức ban đầu khá đơn giản về vị lãnh tụ của dân tộc (Bài “Hồ Chí Minh” viết năm 1945), sang ý thức sâu rộng và tấm lòng yêu kính của tác giả đối với một người thực sự đã thành người Bác, người Cha, thành nguồn sáng có sức lan tỏa phi thường trong tâm hồn mỗi con người của thế hệ Hồ Chí Minh. Tố Hữu, bằng lời thơ tuyệt vời của ông, đã thay chúng ta bày tỏ tình cảm tôn quý tột bực, mối ân tình sâu đậm đối với vị Cha già dân tộc.

Về tính dân tộc, tính trữ tình trong thơ Tố Hữu, nét đẹp hài hòa, cả nội dung và nghệ thuật, có lẽ bài Việt Bắc viết năm 1954, có mức thể hiện sâu đậm nhất:

… Người về còn nhớ chiến khu,
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai
Mình đi rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già…
Mình đi có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son.
(Việt Bắc)

Đó không chỉ là lời thơ, lời chia tay tha thiết giữa kẻ ở người đi, mà như ẩn chứa hồn thiêng dân tộc, thâm trầm nhắc chúng ta đạo lý thủy chung với cội nguồn, nghĩa tình gắn bó bền chặt với Dân, với nước mà hiện nay mỗi chúng ta đang tiếp nối, kế thừa.

Nhà văn hóa Đặng Thai Mai nhận xét: “Trong thơ Tố Hữu, nét nổi bật đáng quý là sự nhất trí. Nhất trí giữa đời sống và nghệ thuật. Nhất trí giữa tình cảm, tư tưởng và hành động. Nhất trí giữa con người với thời đại, cá nhân với tập thể… <nhandan.com.vn>”

Vũ Thị Thanh, người bạn đời của nhà thơ, viết trong Hồi ức:

… Thơ anh hào hùng thúc giục mà vẫn thủ thỉ tâm tình nên có sức truyền cảm, dễ nhớ, dễ thuộc, do đó đã tác động đến cuộc đời nhiều người, ở những bước ngoặt quan trọng, khi phải chọn lựa hướng đi… Với trái tim tràn đầy tình yêu, một tâm hồn nhạy cảm, bao dung; tính tình dịu dàng trầm mặc; lại sinh ra trong một gia đình trí thức nho học vốn rất yêu và biết nhiều thơ ca dân gian của xứ Huế thơ mộng (những nhân tố đã hun đúc) anh trở thành nhà thơ (cách mạng) trữ tình…

Vũ Thị Thanh – Hồi ức

*
Trong thời lượng hạn chế của một bài viết không thể nói hết những gì cao quý, được truyền tải trong những vần thơ hào hùng, rất đẹp, rất trữ tình, rất dân tộc. 82 năm đời người, trong đó hơn 60 năm hoạt động cách mạng, với hơn 246 bài thơ, thực chất Tố Hữu đã viết nên thiên sử thi của một giai đoạn cô đọng biết bao vấn đề, sự kiện, con người của Việt Nam trong lịch sử thế giới đương đại.

Kỷ niệm 100 năm nhà thơ lớn Tố Hữu, đọng lại trong mỗi chúng ta những giá trị tinh thần rất đặc biệt: Đó là sự “tiếp lửa truyền thống dân tộc” bốn nghìn năm, được nhiều thế hệ nối tiếp nhau làm nên lịch sử kháng chiến thần kỳ, và được thể hiện trong những vần thơ sâu thẳm mà sáng trong như ngọc: Những vần thơ đã góp phần không nhỏ truyền vào mỗi người chúng ta:

- Tình yêu: Yêu Tổ quốc, yêu dân tộc, yêu con Người, gắn bó với con người.

- Lòng tin vững chắc vào chính nghĩa, vào chân lý, vào tiền đồ dân tộc, vào sức của chính mình.

- Lòng tự hào vô hạn về chủ nghĩa anh hùng Việt Nam đã thăng hoa thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

- Ý chí kiên cường bất khuất, “Không có gì quí hơn Độc lập, Tự do”.

10/2020

Văn Nhân
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 614

Ý Kiến bạn đọc