Tản văn

Tình đất tình người nơi ấy

Bây giờ lớn tuổi rồi không nhậu được nhiều nữa, chứ ngày ấy không bày ra thì thôi, nếu đã bày nhậu là phải nhậu “hết mình”, trong ấy hay gọi nhậu đến “quắc cần câu” – cái tật nhậu rất “đặc trưng” của dân Nam bộ. Biết không tốt nhưng cũng không bỏ được! Nhậu xong lại lăn ra xuồng ngủ. Có khi xỉn quá bước xuống nước tưởng xuống xuồng. Chìm nghỉm – giật mình. Tỉnh luôn, nhưng vẫn biết đang ở dưới sông, nắm be xuồng lắc qua lắc lại cho cạn nước. Thế nhưng, thiệt tình tôi thấy trong đơn vị chẳng có ai chết vì nhậu kiểu này cả, dù tôi chỉ là anh lính Bắc mới tò te được điều vô chiến đấu ở chiến trường Đồng Tháp Mười. Lạ vậy đó! Chiều kéo lưới kiếm cá, tôm. Lại uống tiếp cùng anh em nếu đêm không được phân công đi công tác. Mà cái gì chứ cá tôm ở đây sẵn lắm.

Này nhé. Đêm đi dưới sông cặp mé, gần sáng cứ mò dọc theo những dấu chân thôi là kiếm dư cá ăn, có lẽ cá “thích” núp ở sình dưới dấu chân người. Có khi chúng tôi phải đem đổ bớt cá ra sông, mai ra mò tiếp vì nhiều quá ăn không hết, không có chỗ để rọng, cá chết uổng. Thế đấy. Nếu mà không có cái “kho” tôm cá, rau trai, rau muống, rau mác, bông lục bình, bông súng, điên điển… đủ loại của Đồng Tháp Mười này nuôi bộ đội, cán bộ, du kích, chúng ta khó có thể sống và chiến đấu với đám Mỹ – ngụy “dư tiền, dư của” đồ viện trợ này, tôi dám cam đoan như vậy! – Ông Nguyễn Văn Thoái, lính giao bưu Kiến Phong ngày ấy hồ hởi kể cho tôi nghe khi chúng tôi tình cờ gặp ông trên mảnh đất Kiến Xương, Thái Bình, ngay quê của Anh hùng phi công Phạm Tuân, cách đây mấy chục năm đã bay vào vũ trụ cùng với Gagarin của đất nước Liên Xô.

Tai-dan---son-dau---Pham-Minh-Chanh
Tải đạn – sơn dầu – Phạm Minh Chánh.

Nghe ông kể lại câu chuyện cách đây hơn 40 năm, ngày ông đang sống và chiến đấu trên mảnh đất tỉnh Kiến Phong (Đồng Tháp ngày xưa), tôi mường tượng ra cảnh khốc liệt của chiến tranh, sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc, các anh các chị vẫn vươn lên sống và trụ vững trên mảnh đất này, mỗi nắm đất nắm lên trên bàn tay dường như đều có mảnh bom mảnh đạn lớn nhỏ ghim trong đó, để cùng góp sức mình vào chiến thắng 30-4-1975 lịch sử.

Kỷ niệm trong chiến tranh ư? Nhiều và nhiều lắm, nhưng tôi nhớ nhất có một trận càn của địch, lúc ấy tiểu đội tôi trú ở giáp xã Mỹ Ngãi. Mấy ông du kích mình công đồn Thạnh Mỹ, Thanh Bình, sau khi chiến đấu, họ rút đi, tụi chúng phản kích lại, chúng tôi “lãnh” đủ. Địch tiến sâu vào xóm, súng bắn rát quá, cả 9 đứa của tiểu đội tôi bò ra đồng ẩn náu bên những đám lau sậy. Đêm thì cứ ào ào chạy, sáng ra mới hoảng. Lúc ấy vào mùa nước nổi, nước đã lên trắng đồng. Ngày thứ nhất nhịn ăn, vơ lột nhai ít cọng bông súng, nhấp nháp nắm rau hẹ đồng, đêm xuống trong bụng hơi khua, “đấu tranh” rồi. Ngày thứ hai, thứ ba, vài loại rau đồng không thể làm giảm bớt những cơn xót ruột, anh em lả người muốn xỉu…

Tới ngày thứ bẩy đói quá tưởng chết hết đến nơi. Cả tiểu đội ai nấy lả cả đi dựa vô gốc sậy. Địch ở riết, bám riết đêm ngày, căng quá, bà con không thể ra tiếp tế được. Chết thì thật dễ nhưng sống mới khó. Không có gì ăn, chúng tôi kêu nhau vớt ốc bươu đập đít, húp nước. Lúc đầu tanh nồng, ráng nuốt vô nó muốn trào ngược trở ra. “Nhắm mắt, nhắm mũi” nuốt đại vô. Sau quen dần thấy tỉnh táo. Có lẽ nhờ những con ốc bươu vô số trên đồng nước mênh mông này cả tiểu đội mới không chết vì đói, lạnh.

Ủa, cá nhiều lắm sao không bắt cá? – Tôi hỏi anh. Bắt rồi lửa đâu mà nấu. Cá sống tanh lắm sao ăn nổi. Rau muống thì đầy đồng nhưng ăn sống “Tào Tháo” rượt, có mà tiêu, chìm xuống nước luôn. Còn rau trai, bông súng, rau hẹ đồng (à mà loại này nghe nói ở mấy nhà hàng ngoài chợ Cao Lãnh bây giờ họ làm món chấm mắm kho ngon tuyệt đó, sắp thành “đặc sản”) thì nhấm nháp chút đỉnh thôi, chứ làm sao mà ăn sống thay cơm cả tuần cho no được. Tới ngày thứ 7, chúng tôi thấy thấp thoáng một người áo trắng, nón trắng chống xuồng ra, tới gần thì ra ông già đi cắm câu trên đồng. Sau mới biết ông là cơ sở mật liều thân ra tìm, xem anh em mình sống chết ra sao? Thấp thoáng bóng người, cả đám núp xuống, vừa mừng vừa lo. Lo sợ gặp tụi nó thì tiêu! May quá cơ sở của mình! Nhìn cả đám lóp ngóp trong ruộng, xót xa, ông bơi xuồng trở về sau khi nói: Ráng chờ đi, đến tối tôi trở ra…

Tại sao ông nông dân lại mặc áo trắng ư? Địch đã qui định, khi ra đồng dân phải mặc đồ trắng để phân biệt với các loại đồ khác của bộ đội, du kích, cán bộ ta. Trông ngóng từng giờ, từng giờ. Cả mấy tiếng dài dằng dặc trôi qua… Trời chạng vạng ông ấy mới trở ra. Ông đem theo cả một nồi cháo cá lóc to, bốc khói nghi ngút để trên sạp xuồng cho tụi tôi. Tôi kêu anh em hãy ăn từ từ. Cả một tuần “rỗng” ruột, ruột “se” lại, ăn nhiều vô coi chừng – tôi hay nghe anh em căn dặn thế khi phải nhịn đói lâu.

Thế nhưng anh em đói quá, không có kinh nghiệm, gặp nồi cháo quá ngon, húp lia lịa, cản không lại. Hai anh húp 4 chén cháo liền, đêm không ngờ lại thiếp đi, chết vì no, quá thương tâm! Chín người, sau một tuần ngụp lặn trong nước chết 3. Chết thêm 2 người vì no nữa chỉ 4 người còn sống. Đau quá! Chờ đêm xuống, ông cơ sở chở chúng tôi lên một cái gò khô. Còn anh em hy sinh, chúng tôi neo đỡ xác bên gốc sậy cho khỏi bị trôi, sau vài ngày mới ra đào hố chôn. Hai ngày sau đó tụi lính mới rút khỏi xóm, ông Hai, tên người dân bơi xuồng đón chúng tôi về cơ sở của ta trong xóm. Bà con nấu cháo, cho ăn uống, tẩm bổ rồi nhắn liên lạc đón chúng tôi vô căn cứ lúc ấy đang đóng ở Thanh Mỹ.

Chưa hết! Trở về kinh 1, xã Thanh Mỹ, căn cứ của Tỉnh ủy ngày xưa được ít hôm, lại nghe cơ sở báo sắp có một trận càn của địch với qui mô lớn. Thế là các cơ quan, trong đó có bộ phận giao bưu của chúng tôi theo lệnh: sau khi ăn sáng xong phải thu dọn đồ đạc di chuyển khỏi địa điểm địch sắp càn vô. Cái nào đem đi không được thì cất giấu kỹ lại, còn quân trang gọn ghẽ lên đường, tất cả hành quân về khu căn cứ Xẻo Quýt. Bây giờ xe chạy ngồi chỉ hơn tiếng đồng hồ thật sung sướng, nhưng lúc ấy từ sáng tinh mơ hành quân đến chiều tối chúng tôi mới… gần tới nơi. Cứ theo cánh đồng, sông rạch mà bườn tới. Khổ nhất là các chị em, sau này mới biết có chị tới tháng, không thể đi nhanh được. Dầm cả người xuống nước cả mười mấy tiếng đồng hồ chứ có ít đâu! Thanh niên như chúng tôi còn bã cả ra huống hồ… Chúng tôi vừa đi vừa đỡ các chị em yếu sức. Trên đồng nước mênh mông, nhìn xa xa thấy rặng tràm xanh rì thì khấp khởi mừng thầm… Vậy nhưng chưa êm chuyện! Chỉ còn một cái đầm sen rộng bước qua là tới căn cứ trong rừng tràm Xẻo Quýt – lúc ấy đám “chó” biết ta hành quân cũng không làm gì được, mệt quá, chúng tôi đều nghĩ vậy. Ngay lúc đó, một bầy nòng nọc (trực thăng) ào ào kéo tới. Trước những năm 70, nòng nọc thường bay sát ngọn cây, ở dưới có người hay vật là chúng nhìn thấy rõ mồn một, hai bên máy bay đều trang bị súng máy, chúng chĩa xuống bắn cho tan tác (như trong phim “Cánh đồng hoang” ấy). Ai nấy giật thót. Tôi kêu vội các anh chị ai ở đâu đứng nguyên đó, hái lá sen úp lên mặt rồi ngụp xuống nước chỉ chừa cái mặt ngửa lên đụng lá sen. Tới tận bây giờ thỉnh thoảng tôi vẫn còn nhớ cái mùi hương sen thoang thoảng, mát rượi. Lúc ấy tôi lại có một ý nghĩ thật kì quặc: giá lần này những lá sen cứu được chúng tôi, sau chiến tranh, tôi thề trở về quê hương tôi sẽ trồng những bụi sen để luôn nhớ về một thuở hào hùng gian khổ – hy sinh. Thật ngạc nhiên. Cả mấy chục con người ngụp xuống đầm sen mà không bị máy bay phát hiện, bắn phá nên chuyến này lực lượng ta không bị thương tổn gì. Mừng lắm!

Sau hòa bình ít năm, tôi trở về quê hương. Mấy chục năm chiến tranh đã qua rồi nhưng thi thoảng tôi vẫn ngồi nhớ về những kỷ niệm ngày nào. Tôi đã thực hiện lời hứa của lòng mình. Dù cái ao gia đình nhỏ thôi nhưng tôi luôn trồng những bụi sen thơm ngát. Khi sen nở, vợ tôi thường ra ngắt những bông sen hồng thơm dịu ấy cắm vào bình bông để trên bàn thờ cúng các cụ, cúng anh em đồng đội mãi ra đi ở lứa tuổi mười tám, đôi mươi, nhớ cái thuở thanh niên chúng tôi “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”… Nếu không có dân – má Năm, má Tám, chị Tư, anh Hai… Nếu không có Đồng Tháp Mười “cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn”, thì chắc chắn tôi không còn dịp gặp lại cha mẹ, anh em và những người thân thích như bao đồng đội thân yêu của tôi đã ra đi mãi mãi từ ngày ấy. Thế mới thấy cái giá của hòa bình thật lớn lao quá!

Cảm ơn mảnh đất Kiến Phong.

Nhờ nó tôi mới biết được tình đất, tình người nơi đó.

Nhớ mãi không bao giờ quên!

Phạm Thị Toán
(Hội LHVHNT Đồng Tháp)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 424

Ý Kiến bạn đọc