Truyện ngắn

Tín vật

Một buổi chiều mùa hè trời nắng như đổ lửa, bỗng nhiên có một vị khách lạ đứng lù lù trước cửa nhà tôi như vừa trên trời rơi xuống.

- Em chào anh ạ!

Anh ta hạ mũ, toàn thân đẫm mồ hôi, mặt héo tóp, cằm nhọn lưỡi cày. Thật là khách không mời. Tôi nghĩ bụng.

- Mời vào nhà!

- Dạ! Cảm ơn anh! – Anh ta nói tiếng Nam bộ.

Anh ta là người miền Nam! Có việc gì mà đội nắng đến đây thế này? Nhưng tôi chưa kịp hỏi thì người khách đã nói ra.

- Dạ thưa anh! Em là thợ vẽ truyền thần! Anh có cần “truyền” cho các cụ hoặc cho riêng mình một bức để lưu giữ lâu dài không ạ?

Hóa ra một gã họa sỹ quèn đi vẽ chân dung kiếm tiền!

Mình thì có quái gì mà vẽ? Thời trai trẻ miên man trận mạc, bị thương mấy lần nhưng mất hết giấy tờ, về nhà không chế độ, lương bổng, đang mong chóng chết cho khuất mắt thiên hạ, có làm ra cơm ra cháo gì mà vẽ ảnh lưu hậu thế? Nhưng tôi vẫn lịch sự pha trà.

- Mời anh!

- Dạ!

Người khách nhìn bâng quơ lên bàn thờ rồi rụt rè: – Dạ! Anh có muốn truyền ảnh thờ của hai cụ không ạ?

Trên ban thờ, ảnh cha mẹ tôi đã mờ, không biết có “truyền” được không? Phận làm con, có thể nhiều cái để chậm, nhưng lòng báo hiếu thì không nên chậm trễ! Có lẽ nhân dịp này, để cho anh ta vẽ xem sao! Đằng nào thì người ta cũng đến nhà mình rồi mà ảnh thờ cha mẹ tôi, để lâu nữa thì khó có thể phục hồi được. Tôi gật đầu đồng ý. Người khách có vẻ thoải mái tự nhiên hơn. Anh nhanh nhẹn giở đồ nghề. Còn tôi, cúi đầu cung kính vái cha mẹ ba vái, hai tay thận trọng đỡ từng cái khung ảnh đưa xuống.

Khi người họa sỹ “truyền” xong hai tấm ảnh thì chiều đã muộn. Hai bức chân dung của cha mẹ tôi đã ố vàng và mờ nhạt bởi thời gian, vậy mà qua khả năng “truyền thần” của người họa sỹ, thần sắc như mới. Cha mẹ tôi qua đời từ ngày tôi đang chiến đấu trong chiến trường miền Nam. Cha tôi, một cán bộ lão thành cách mạng, thuở sinh thời, đôi mắt ông rất sáng. Cha tôi như đang nhìn tôi, cái nhìn vừa như hài lòng, vừa như quở trách. Còn mắt mẹ tôi, trông người mới hiền hậu làm sao!

Mặt trời xuống núi. Người họa sỹ đưa nét bút cuối cùng, hoàn thiện tác phẩm của mình. Anh ta nâng từng tấm ảnh lên, đưa qua đưa lại ngang mặt ngắm nghía, vẻ hài lòng. Trong ánh chiều dần buông, mắt tôi như bị thôi miên. Trên cổ tay áo bên trái của người họa sỹ, đơm một chiếc cúc áo mầu vàng, có đính hai hạt xoàn. Do di chuyển của cánh tay, dưới tác động của ánh sáng, ánh lên, lóng lánh như kim cương. Tôi nhìn sang tay phải, ở cổ tay áo cũng đơm một cái cúc, nhưng là loại cúc nhựa, bình thường.

Có một cái gì đó chợt ùa về từ sâu thẳm, tôi nén xúc động, bình tĩnh, hỏi:

- Chiếc cúc áo này lấy ở đâu? Sao lại chỉ có một bên?

- Dạ! Cúc áo của má em. Khi em bị bắt lính, má lấy từ tấm áo của bà ngoại. Bà ngoại được cố ngoại truyền lại trước khi cố qua đời. Má bảo, chiếc áo đó, cố ngoại được chính nhà vua ban cho. Đôi cúc áo do một nghệ nhân Huế chế tác, chỉ có một, không hai.

- Anh đi lính? Lính nào?

- Dạ! Lính Quốc Gia!

- Anh đã từng là lính Ngụy?

Nghe đến từ lính Ngụy, anh ta giật thót mình, mắt lóe lên những tia sợ hãi, tay run run, vẻ hoảng hốt thật sự.

img189-fix
Cửa mở – Bút điện trên gỗ – Xuân Đông (1945).

Con người này trước đây đã từng tham gia Ngụy quân, từng bắn vào đồng đội tôi. Và có thể, ngày ấy, nếu gặp tôi, anh ta cũng không tha! Chuyện đã qua lâu rồi! Biết mình đã làm cho anh ta sợ, cũng có thể cái sợ cố hữu. Mà cũng đúng thôi! Hơn chục năm trước, nếu gặp anh ta trên chiến trường, tha gì mà tôi không bắn bỏ. Kẻ thù mà! Tôi cố giấu cảm xúc, lấy lại thái độ cho thật cởi mở:

- Chà! Xem ra cái cúc quý giá đó chứ?

- Dạ! Đồ gia bảo đó! Em luôn mang theo người để các cụ phù hộ và cũng để tìm anh trai em. Biết đâu chuyến ra Bắc lần này…

- Anh trai anh? – Tim tôi bỗng nhiên đập thình thịch. Có phải đây chính là đứa em trai của Bắc, người đồng đội năm xưa đã bị tôi bắn từ phía sau?

- Tôi cũng có một cái giống như cái của anh. Để tôi lấy cho anh xem. Biết đâu!

Tôi vào buồng, lục lọi trong chiếc rương gỗ. Đây rồi! Tôi đã tìm thấy cái gói nhỏ bọc trong tấm vải dù. Vật này, trước khi chết, Bắc đã gửi lại cho tôi cùng những lời trăng trối đớn đau. Khi tôi đặt hai cái cúc áo cạnh nhau… Trời ơi! Giống hệt, không sai một ly. Hình như hai cái cúc áo cũng có hồn, mấy hạt xoàn ánh lên những tia sáng xanh lấp lánh mừng rỡ trong nắng chiều dần buông.

Người khách lạ mặt bỗng nhiên tái mét, sự việc bất ngờ quá khiến toàn thân anh ta run rẩy. Anh đưa mắt hết nhìn hai cái cúc rồi lại nhìn chằm chằm vào tôi, cuối cùng thì quỳ sụp xuống, hai tay ôm chặt lấy hai chân tôi, nước mắt chảy đầm đìa trên khuôn mặt héo tóp khi ngẩng lên.

- Có phải anh Bắc đó không? Anh ơi! Cuối cùng thì em cũng đã tìm được anh rồi! Hu hu…

Hai cánh tay anh ta dài ngoẵng, giống như hai nhánh rễ cây si cứ bám chặt mãi lấy tôi như chẳng muốn rời.

Tôi chết lặng. Nước mắt tôi tự nhiên cũng ứa ra. Tấm màn bí mật của một câu chuyện bi thương xẩy ra từ thời tôi đang tại ngũ, mười mấy năm nay, đã bao lần làm trái tim tôi rỏ máu mỗi khi nhớ tới – Câu chuyện Bắc phản bội Tổ quốc, bỏ chạy sang hàng ngũ địch, đến bây giờ, nốt mở là đây!


Chiều mùng 9/6/1972, có lẽ cũng tầm giờ này, trên điểm cao H, khi đó đại đội tôi được lệnh phải chốt giữ bằng mọi giá. Dưới chân cao điểm, con đường huyết mạch thông sang Lào ngoằn ngoèo mờ sương khói. Nếu để địch chiếm được cao điểm này, chúng sẽ khống chế toàn bộ việc chuyển quân của ta. Chiến dịch sắp mở màn. Lịch sử giao trọng trách cho chúng tôi khá nặng nề, dù có chết đến người cuối cùng cũng phải giữ cho bằng được. Lời chính trị viên Đinh Hữu Tấn nhắc nhở trước khi vào trận đánh còn vang bên tai. Đã gần tuần qua, địch tấn công tái chiếm hết đợt này đến đợt khác nhưng đều bị đánh bật trở xuống. Dưới chân đồi, xác địch nằm ngổn ngang. Trên điểm cao, xác ta cũng gần như thế. Đại đội chỉ còn lại 6 người: Huỳnh Thế Bắc, Nguyễn Văn Tộ, Hoàng Trọng Cường, Trọng Miễn, đại đội phó Hoàng Thạc và tôi. Chúng tôi di chuyển liên tục để đánh lừa địch. Nếu biết chính xác lực lượng của ta, chúng sẽ tổ chức phản công ồ ạt, mất cao điểm là cái chắc. Chúng tôi không có thời gian ngồi với nhau. Tất cả xác định cùng sống chết với cao điểm. Trong giờ phút ấy, tôi thấy lòng thanh thản. Nhớ ngày nhập ngũ, khi ấy tôi đang học kỳ 2, năm cuối cấp III. Cả trường có 6 đứa được công nhận tốt nghiệp trước để đi lính. Hôm mít-tinh lên đường, thầy hiệu trưởng Nguyễn Bá Thâu đã hùng hồn đọc trích lời nhân vật Paven trong tiểu thuyết “Thép đã tôi thế đấy”, rằng “Người ta, ai cũng chỉ sống có một lần, sống sao cho khỏi hổ thẹn bởi quá khứ ti tiện, để khi nhắm mắt xuôi tay, có thể tự hào rằng, tất cả đời ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao quý nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người”… Thầy còn bổ sung thêm: “Sinh ra trên đời, ai cũng phải chết, nhưng chết vì Tổ quốc, chết trên mặt trận là cái chết vinh quang nhất. Người anh hùng phải biết chọn cái chết cho mình…”. Có lẽ trận này, tôi có cơ hội chọn cho mình cái chết của người anh hùng theo đúng lời thầy dạy đây!

5 giờ chiều, địch ngừng tấn công. Dưới chân đồi, không gian tĩnh lặng, đến mức có thể nghe được tiếng mấy con dế trũi đang gáy. Dế trũi thường gáy gọi bạn tình khi chiều xuống. Những con dế vô tâm, không hề biết đến cuộc đối đầu lịch sử của con người đang đến hồi quyết liệt. Đúng là “khoảnh khắc im lặng của chiến tranh”, tôi chợt nhớ tiêu đề cuốn tiểu thuyết đã từng đọc. Trong cái im lặng đầy chết chóc ấy, có tiếng gì đó vọng từ dưới chân đồi, ngân nga như tiếng người gọi. Đang đứng bên cạnh tôi, bỗng mặt Huỳnh Thế Bắc biến sắc. Có cái gì đó khiến anh ta lật đật như con rối bị giật dây. Bỗng nhiên Bắc kêu lên một tiếng rồi vùng chạy lao xuống. Tôi hoàn toàn bị bất ngờ, không biết xử lý tình huống này như thế nào. Thì ngay sau đó, đại đội phó Hoàng Thạc hô: – Đồng chí Đức đuổi theo gấp! Phải tiêu diệt kẻ phản bội, không để nó chạy thoát!
Qua phút bàng hoàng, tôi chợt tỉnh. Nếu để Bắc chạy xuống gặp địch, chúng sẽ biết lực lượng của ta. Lợi dụng đêm tối, tổ chức phản công, đêm nay chúng tôi sẽ bị tiêu diệt. Cao điểm mất là cái chắc!

Bắc chạy tay không, bỏ lại khẩu trung liên lùng nhùng băng đạn. Do sườn đồi lởm chởm bởi gốc cây bị đạn chặt đứt và đất bị cày xới nên Bắc vừa chạy vừa bò, tốc độ rất chậm. Tôi vọt ra khỏi công sự đuổi theo. Phải hạ thủ nhanh, nếu không sẽ chậm mất. Địch đang ở ngay dưới chân đồi. Tôi quỳ chân trái, đúng yếu lĩnh, nâng khẩu AK lên ngang tầm ngắm. Tay tôi run run… Nhưng một giọng nói đầy bản lĩnh vang lên bên tai: Không được run tay, đây là cuộc chiến một mất một còn, phải hạ thủ ngay vì nó là kẻ phản bội! Cái lưng dài dài, hơi gù vốn gầy gò của Bắc chập chờn trên đầu ruồi. Không thể chậm, phải bắn ngay! Tôi điểm xạ. Pằng! Pằng! Bắc đổ gập xuống như một cái cây bị đốn. Tôi vọt dậy, xách súng lao xuống.

Viên đạn xuyên từ sau lưng trên đốt xương cụt, phá vỡ ổ bụng. Bắc nằm sấp, hai tay sải về phía trước, quay mặt lại, hai con mắt đen nhánh nhìn chằm chằm vào tôi, không hề có chút bối rối của kẻ phản bội. Bắc cất tiếng, giọng đã yếu nhưng vẫn rành rọt: – Anh Đức! Có kẻ đã bắn vào lưng em. Em bị trọng thương rồi… Có lẽ em không còn gặp được đứa em trai của em nữa… Nó vừa gọi em đấy! Nam ơi!

Cơn giận dữ đã lên đến đỉnh điểm, tôi gầm lên, giọng đầy sát khí:

- Em trai nào? Phản bội! Đừng ngụy biện! Sao mày làm thế? Mày bỏ đồng đội về phía kẻ thù trong lúc này ư?

Hình như nghe câu nói của tôi, Bắc mới bừng tỉnh, nhận ra sai lầm chết người của mình. Trong lúc hai bên đang giao chiến, không có khái niệm anh em nào cả! Bởi thế, hành động vừa rồi đã làm cho đồng đội hiểu lầm.

- Anh Đức! Em nghe rất rõ tiếng thằng em trai, nó gọi: Anh Bắc ơi! Em là thằng Nam. Em đang ở đây… Đúng là tiếng nó. Thực mà! Nó đang trong hàng ngũ của địch. Em muốn chạy xuống đó để gọi nó về…

Bắc khóc nấc lên, tiếng yếu dần… Dưới chân đồi, nơi bọn địch vẫn đang thầm lặng chuẩn bị những đợt phản công mới trời mờ dần trong sương chiều, không gian lặng ngắt. Tôi cố lắng nghe, nhưng có tiếng ai gọi đâu? Chắc là Bắc phát bệnh hoang tưởng chăng?

Tự nhiên tôi trở nên hoảng hốt và mềm yếu đến lạ kỳ. Bao nhiêu tức tối ban nãy vụt biến đi đâu mất. Tôi chỉ còn thấy thương Bắc vô cùng. Mới vừa đây thôi, nó như đứa em trai gần gũi, thân thiết. Lẽ nào tôi đã bắn nhầm? Bắc bị thương nặng lắm, nhìn sắc mặt là biết. Phải đưa nhanh về trận địa cùng anh em chăm sóc, may ra… Nghĩ thế, tôi vội xốc Bắc lên vai, rồi cứ thế bò ngược, mặc cho Bắc rên rỉ kêu đau và đòi đặt xuống.

Tôi cố lết từng bước, rất chậm. Sức tôi cũng đã yếu quá rồi. Từ hôm qua đến giờ, mỗi người chỉ lót dạ nửa bánh lương khô.

Máu từ người Bắc cứ chảy xuống ròng ròng, nhuộm đỏ cả người tôi. Có tiếng phì phì của bọt khí từ phổi trào ra. Bỗng Bắc thều thào:

- Anh Đức! Có lẽ em sắp “đi” rồi! Em thấy người lạnh lắm, lạnh như đang chìm xuống một hố băng. Anh ơi, anh hãy để em xuống, em nhờ anh mở giùm túi áo ngực trái, lấy hộ em một tín vật của má.

Người tôi bỗng run lên. Tín vật? Liệu có cái gì bí ẩn liên quan với tiếng gọi và hành động vừa rồi của Bắc chăng?

Tôi đặt Bắc xuống đám đất vừa bị đạn pháo cày xới mềm xốp rồi vội mở túi áo ngực của Bắc, máu thấm đầy tay tôi. Thì ra hồi nãy, tôi đã điểm trúng đích cả hai viên đạn. Viên thứ hai xuyên từ sống lưng sang ngực phải.

“Tín vật” được cất giữ trong hộp “cao Sao Vàng” đang thịnh hành thời ấy, bên ngoài gói bằng chiếc khăn mu-xoa có thêu đôi chim én đang bay lượn trên cành đào mùa xuân thấp thoáng hoa. Có lẽ khăn của bạn gái Bắc tặng trước lúc xa nhau. Tôi vội mở cả ra, bên trong hộp cao là chiếc cúc áo mầu vàng, có đính hai hạt xoàn hay hạt gì không rõ, nhưng cũng như trong ráng chiều nay, ánh lên những tia sáng xanh lấp lánh, rất huyền diệu.

- Anh Đức! Đây là tín vật của má trao cho em trước khi theo ba đi tập kết ra Bắc. Khi đó, em còn nhỏ lắm. Má bảo với ba là, nhà có hai đứa con trai, giờ em Nam, anh Bắc. Chiến tranh loạn lạc, không khéo chúng lại chĩa súng vào nhau chưa biết chừng. Mình cầm lấy tín vật này cho thằng Bắc, còn một chiếc nữa, em sẽ trao cho thằng Nam. Sau này, khi con khôn lớn, anh hãy nói với con là, đó là tín vật của má trao, để các con tìm nhau… Nếu nhà ta có phước, anh em chúng sẽ tìm thấy nhau và cùng trở về… Lúc đó, nếu em có mệnh hệ gì thì mình nhớ nhé, cái cúc của thằng Bắc ở tay áo phải, thằng Nam tay trái. Vợ chồng mình sẽ đính lại như chiếc áo chưa hề bị tháo cúc. Em còn nhớ, má khóc nhiều lắm. Hình như người cũng linh tính thấy một điều gì đó không hay sẽ xẩy ra…

Bắc nói thì thào, giọng đứt quãng. Thì ra là thế! Sao trước khi lao xuống, Bắc không nói với tôi? Trời ơi! Tôi đã bắn nhầm vào đồng đội rồi! Tôi đã bắn vào tình huynh đệ của anh em Nam – Bắc! Ôi, những viên đạn nghiệt ngã kia!

Tôi khóc như mưa, hai tay ôm chặt lấy thân thể Bắc đang lạnh dần:

- Bắc ơi! Anh hồ đồ! Anh không tính trước suy sau. Anh là kẻ bất nhân, kẻ có tội! Xin em hãy tha thứ cho anh!

Giọng Bắc bỗng mạnh lên:

- Anh Đức! Anh không có tội! Tất cả là do chiến tranh.

Nói đến đó, Bắc nấc lên ba lần rồi lặng hẳn. Tôi biết, thế là Bắc đã vĩnh viễn ra đi và giấc mơ gặp lại đứa em trai cũng tắt từ đây…

Tôi cất vội tín vật của Bắc vào túi áo ngực. Trời đã mờ tối. Trên cao điểm, chắc mọi người cũng không dám cử ai xuống tìm tôi vì lực lượng chốt giữ quá mỏng manh. Tôi cứ ôm lấy Bắc, lòng trống rỗng. Sống hay chết, với tôi, khi đó, chẳng quan trọng nữa rồi! Tôi đã bắn chết một người mà chỉ cách đây chưa đến 10 phút là đồng đội cùng sống chết với tôi, sẵn sàng lao ra hứng đạn thay cho tôi. Tôi còn xấu xa, dã man và ghê tởm hơn loài thú vật. Tôi muốn tự bồi vào đầu mình một viên đạn. Có lẽ chỉ như thế tôi mới được thanh thản.

- Đồng chí Đức, sao rồi?

Tôi giật mình, ngoảnh lại phía sau, đại đội phó Hoàng Thạc đã xuống không biết từ lúc nào.

Tôi không muốn nói lại sự việc vừa xẩy ra, vì dù có nói, đại đội phó cũng không tin. Làm gì có tiếng gọi anh ơi trong lúc hai bên đang choảng nhau, lửa đạn bời bời như thế này?
Tôi hậm hực:

- Hắn chết rồi! Đại phó lên trước đi. Để tôi chôn cất hắn xong rồi lên sau. Vừa nói, tôi vừa đưa tay quệt đôi dòng lệ đang chảy ròng ròng làm mờ cả hai mắt.

Tôi xác định vị trí, ước tính tọa độ, rồi rút lưỡi lê súng AK bên hông bới đất vùi xác Bắc dưới một gốc cây bằng lăng, thân cây nứt toác và bị găm không biết bao nhiêu mảnh đạn. Xong, tôi không quên đánh dấu bằng một tảng đá lớn có hình thù uốn éo như chữ S, ý đồ để sau này khi tìm lại, dễ nhận ra. Tôi biết, câu chuyện này sẽ có một ngày được đưa ra ánh sáng và tôi sẽ còn trở lại…


Tôi cúi xuống, đỡ người khách đứng dậy. Tự nhiên thấy như mình đã trở thành một người khác. Giọng tôi rất lạ, giống hệt giọng nói của Bắc ngày trước:

- Có đúng là Nam đó không? Em ơi! Không ngờ anh em ta lại có ngày hôm nay.

Khi tôi nói câu đó, Nam đã hoàn toàn tin tôi là Bắc, người anh trai ruột của mình. Nam ôm tôi càng chặt hơn. Hai anh em cứ ôm lấy nhau, mừng mừng tủi tủi trong bóng chiều chạng vạng…

Đêm hôm ấy, hai anh em nằm bên nhau trò chuyện, gần sáng mà không ai buồn ngủ. Nam thì vui mừng vì đã tìm được người anh trai của mình. Còn tôi, để làm giảm đi gánh nặng tội lỗi với Bắc, tôi đối xử với Nam như một người anh thực sự. Nam kể chuyện nhà. Nam bảo: – Sau khi anh theo ba tập kết ra Bắc, má cũng chịu biết bao cơ cực. Chồng là cán bộ Việt cộng mà! Lính Quốc Gia đến quấy nhiễu, hăm dọa đủ điều, không để má yên mà nhìn về phương Bắc, bảy tám năm trôi qua, tin tức chồng con vẫn mờ như sương khói. Cuối cùng, má đành nhắm mắt đưa chân, chung sống với một thiếu tá quân đội Quốc Gia.

- Bây giờ má đang ở với ai? Tôi hỏi.

Nam nằm sát lại với tôi hơn, mặc dù khí trời về đêm vẫn rất oi nồng, mà ngày ấy làng tôi chưa có điện.

- Má mất rồi! Có lẽ do tâm trạng má lúc nào cũng nghĩ mình là con đàn bà phản bội chồng, xấu xa ghê tởm. Vì thế mà hai lần má mang thai, sinh ra hai đứa trẻ oặt ẹo. Mới lọt lòng mẹ mà hai con mắt đã lồi ra như mắt cá thòi lòi. Có lẽ ba dượng ngày ấy gây nhiều nợ máu với cách mạng cũng nên…

Tôi rùng mình. Nhớ lại chuyện đau lòng, khi tôi chôn cất Bắc, không hiểu sao, hai con mắt cũng trợn ngược như thế.

- Má mất, hai năm sau đó người em phải kêu bằng dượng sau này cũng chết trận ở chiến trường Quảng Trị. Sau khi má mất, ngôi nhà của ông ta tự nhiên thuộc về em, ở ngay thành phố Nha Trang, bên bờ vịnh…

Tôi chưa dám kể sự thật đau lòng về cái chết của Bắc cho Nam nghe. Cứ tạm đóng vai cho Nam khỏi tuyệt vọng. Tôi buộc phải bịa chuyện. Tôi nói, khi tôi lên đường nhập ngũ, ba làm việc ở một cơ quan trung ương. Ngày rời quân ngũ, thì ba đã chết sau một cơn đau tim đột ngột. Người ta chôn cất ba trong một nghĩa trang ở Hà Nội. Khi tôi đến tìm phần mộ của ba, vì mở rộng thành phố, nghĩa trang cũ di dời đến một vị trí khác rất xa. Mộ của ba hiện bị thất lạc. Còn ngôi nhà tôi đang ở là của bố mẹ vợ. Ảnh trên ban thờ cũng thế… Chị dâu của chú đã mất cách đây 2 năm.

- Ba ơi! – Nam nấc lên – Bao nhiêu năm con mơ ước sẽ có ngày ra Bắc gặp ba, nào ngờ…

Thì ra Nam trong vai họa sỹ truyền thần ra Bắc, mục đích là để tìm ba ruột và anh trai mình chứ đâu phải kiếm sống? Nhưng trớ trêu thay…

Nhớ lại trận đánh trên cao điểm H, khi thấy mặt Bắc tái mét, người giật giật như bị ma khiến, lao xuống chân cao điểm, tôi linh tính thấy một điều gì đó, liền hỏi thăm dò Nam:
- Chú Nam! Có một lần hai bên giành nhau chiếm cao điểm H, sau khi lực lượng Quốc Gia bị đánh bật xuống chân đồi, trời đã chạng vạng, anh đã nghe tiếng người gọi: Anh Bắc ơi! Em là thằng Nam. Em đang ở đây… Không biết có phải tiếng chú gọi anh không?

Mặt Nam bỗng nhiên biến sắc, người run như lên cơn co giật. Giờ tôi mới thấy anh em họ, đặc điểm diễn biến tâm trạng giống nhau đến thế. Nam bật khóc hu hu…

- Anh ơi! Trên cao điểm ngày ấy có anh thật sao? Em linh tính mà! Khi đó em bị thương nặng. Lính Quốc Gia chết và bị thương nhiều lắm. Không biết mình có còn sống sau trận này hay không, em mới kêu to lên như thế. Tên chỉ huy liền chạy lại vã vào miệng em. Nó bảo: Mày rống lên cái gì đó? Bắc nào? Chỉ có cộng sản Bắc Việt thôi! Chúng đang xả súng vào mày đấy. Mày mà rống lên lần nữa, ông cho phát đạn vào sọ dừa ngoẻo luôn! Nghe chưa con?

Thế là rõ! Bắc đã nói đúng. Trong buổi chiều khói đạn, đầy chết chóc năm ấy, Bắc đã nghe tiếng đứa em ruột thịt gọi mình, vì thế mà anh quên bẵng nhiệm vụ, vượt qua chiến tuyến, để lại nỗi thương đau cho đến tận bây giờ…


Nhìn thấy gia cảnh của tôi, Nam không khỏi ái ngại. Đêm hôm sau, Nam không ngủ, cứ đi đi lại lại ngoài sân, vẻ đắn đo, suy nghĩ. Tôi cũng giả bộ nằm thế thôi chứ không chợp mắt. Chuyện xẩy ra cứ như trong mơ. Làm sao mà Nam lại tình cờ vào đúng nhà tôi? – người chứng kiến và cũng gây nên câu chuyện bi thương của anh em Nam – Bắc? Có lẽ trên chín tầng cao xanh kia, có sự sắp đặt bí ẩn nào chăng? Bao giờ thì tôi nói ra sự thật? Không! Tôi phải nói ra sự thật, dù đau đớn mấy thì cũng một lần thôi. Nhưng nói vào lúc nào? Tất nhiên không phải lúc này, khi mà Nam đang tràn trề hạnh phúc sau bao nhiêu năm chiến tranh phiêu dạt, anh em mới được đoàn tụ. Gần sáng thì Nam bảo tôi: – Anh Bắc! Anh và ba tha hương gần nửa thế kỷ rồi! Giờ là lúc gia đình ta phải trở về cùng sum họp. Ở ngoài này, anh cũng chỉ có một thân một mình, anh phải trở về nơi chôn rau cắt rốn, rồi viếng mộ má. Chắc má mong có ngày này từ lâu lắm rồi. Và anh biết không? Chiếc áo má đã cắt rời hai cái cúc cho hai anh em ta, giờ là lúc phải khâu lại cho lành lặn chứ? Anh nhớ nhé, lời má dặn, cúc của anh tay phải, cúc em tay trái. Má bao giờ cũng nghiêng về anh và ba…

Mấy ngày sau thì tôi theo Nam về thành phố Nha Trang, nơi gia đình em đang sinh sống. Hai anh em lên tầu Thống Nhất, cùng ngồi sát bên nhau. Cái tên “tầu Thống Nhất” bây giờ nghe mới ý nghĩa làm sao! Con tầu lầm lũi xuyên đêm. Tôi nhìn qua khung cửa, làng mạc, núi sông hiện lên một dải nối liền. Ôi đất nước! Mười mấy năm trời tôi cùng đồng đội đổ bao xương máu, đến bây giờ được thế này đây! Tôi rưng rưng cảm động, nhận ra từng địa danh, nhớ lại những mái nhà, những tấm lòng nhân hậu của những con người đã cưu mang giúp đỡ, bây giờ họ đang ở đâu? Nơi ấy, chắc vẫn còn in dấu chân tôi…

Qua hai ngày một đêm, thành phố đã hiện ra, yên bình và lịch lãm bên bờ vịnh Nha Trang. Nam đưa tôi đến một ngôi biệt thự và bảo: – Anh ơi! Trên thế gian này em chỉ còn có anh là ruột thịt. Ngôi nhà này ngày xưa là của má và ba dượng em, bây giờ nó sẽ thuộc về anh. Vì anh là trưởng mà! Còn em, đã có một cơ sở khác, cũng gần đây thôi. Mọi sự xẩy ra với gia đình ta, cứ coi như một cơn ác mộng. Anh em mình sẽ sống bên nhau suốt quãng đời còn lại. Sau đó, Nam đưa tôi về ngôi nhà hiện Nam đang ở. Gặp tôi, vợ con Nam mừng vui khôn xiết. Cuộc sống của gia đình Nam khá sung túc…

Thời gian cứ thế trôi đi, tôi vẫn sống trong ngôi biệt thự ấy trong vai người anh trai của Nam. Nhưng càng ngày, tôi càng cảm thấy mình mắc nợ. Tôi chẳng có lý do gì để ở ngôi biệt thự này! Tôi đang đối diện với sự thật: – Một kẻ sát nhân và lừa dối!

Thực lòng không phải tôi sợ khi Nam biết, tôi, kẻ đã bắn người anh ruột của mình từ phía sau, sẽ đòi lại nhà và căm hận tôi? Tôi là người đáng thù hận hay đáng thương? Tôi cũng như Bắc, người lính trên chiến trường, nếu lúc ấy, tôi cũng bỏ chạy về phía kẻ thù như thế, thì Bắc cũng đâu có tha cho tôi? Tất cả là do chiến tranh! Trước lúc nhắm mắt Bắc đã tha thứ cho tôi và cuộc chiến giờ đây cũng đang dần lui về dĩ vãng. Nói ra, liệu có ích gì? Lại đớn đau, lại thù hận?

Cứ tự dằn vặt rồi lại tự an ủi như thế, tôi luôn phải sống trong ân hận và đớn đau…

Không! Tôi không thể nào chịu đựng tình trạng này lâu hơn được nữa! Khi mà hàng ngày Nam vẫn chăm lo và cung kính người anh trai giả mạo! Vì sao mà tôi lại phải giả mạo? Tuổi thanh xuân của tôi đã gửi lại nơi rừng xanh núi thẳm, bao lần cận kề với chết chóc đau thương nhuốm đầy bi kịch, để rồi bây giờ cứ im lặng ung dung hưởng thụ như thế này sao? Như thế có khác chi kẻ cướp đoạt! Rẻ mạt lắm! Ôi cái thằng tôi! Bẩn thỉu và ghê tởm! Đã đến lúc hạ màn! Sự thật phải được nói ra! Không phải vì những người đang sống, mà còn vì những người đã ngã xuống trên mảnh đất đau thương này nữa chứ? Còn hài cốt của Bắc, danh dự của Bắc? Tôi phải nói ra sự thật! Đó là một phần lịch sử đớn đau không phải riêng gia đình Nam mà của cả dân tộc. Ngày mai, dứt khoát tôi phải đối mặt với những gì mà tôi cố tình lảng tránh, phải nói rõ với Nam rồi cùng Nam đi tìm hài cốt Bắc. Tôi phải trở lại vị trí xẩy ra trận đánh trên cao điểm ngày xưa, dưới gốc cây bằng lăng giữa triền đồi dốc lởm chởm đất đá, nơi tôi đã tự tay vùi xác Bắc, một người con ưu tú của dân tộc, sinh ra từ phương Nam, rồi lại trở về quê hương, hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp thống nhất đất nước chứ không bao giờ là kẻ phản bội!

Và cuối cùng, tôi đã chọn thời điểm thích hợp, đó là ngày giỗ má. Khi trong phòng chỉ còn lại có hai anh em, tôi đã ôm lấy Nam, để mặc cho hai dòng lệ chảy và kể lại câu chuyện bi thương… Ban đầu thì Nam không tin, nhưng khi thấy tôi nói rằng, nếu Nam không đi tìm hài cốt của anh mình, thì chính tôi sẽ đi. Rồi sau đó, tôi sẽ xa rời nơi đây vĩnh viễn… Trên cao điểm ngày ấy, cho dù thời gian đã xa, nhưng từng ngọn cỏ gốc cây vẫn hằn trong trí nhớ của tôi. Nhất định tôi sẽ tìm thấy mộ của Bắc.

Nhìn thấy vẻ mặt Nam thay đổi. Từng thớ thịt run run chuyển đổi từ tái mét sang nâu sậm rồi ngược lại. Những mạch máu nhỏ li ti đang làm đúng chức năng của nó, tuần hoàn qua nhịp đập con tim. Vì thế mà tôi biết, trái tim Nam đang quằn quại nỗi đau – mất ba, mất má, còn giờ thì mất anh.

- Chú Nam! Ngày mai anh em mình phải đi thôi, không thể chậm trễ thêm được nữa. Bắc đã đợi anh em mình lâu lắm rồi! – Nơi chốn gốc cây bằng lăng sù sì chi chít mảnh đạn ngày ấy, tôi như thấy Bắc đang ngồi gục đầu, đau đáu trong nỗi chờ mong những người thân yêu của mình trong ráng chiều miền Trung trống vắng.


Sau khi tôi và Nam trở lại cao điểm, nơi xẩy ra các trận đánh và câu chuyện đau thương, đưa hài cốt Bắc về an nghỉ tại nghĩa trang quê nhà, tôi trả lại ngôi biệt thự cho vợ chồng Nam và trở ra Bắc. Dĩ nhiên là phải qua rất nhiều cung đoạn phiền toái vì khi Bắc hy sinh chưa được Nhà nước công nhận Liệt sỹ. Song nhờ có tôi và Nam, những nhân chứng lịch sử, khi đón hài cốt Bắc vào nghĩa trang, người ta đã làm đầy đủ thủ tục của một người đã ngã xuống vì sự nghiệp thống nhất non sông. Có một chuyện buồn cho gia đình Nam nữa là, khi Nam ra Hà Nội tìm mộ ba mình thì mới biết: Ba Nam đã tình nguyện trở lại quê hương chiến đấu, khi ông về đến địa phận tỉnh Khánh Hòa thì bị một tiểu đội địa phương quân phục kích, ông đã hy sinh khi gần đến nhà mình…

Bây giờ, trong ngôi biệt thự của ba dượng Nam làm nơi thờ cúng, ảnh ba má ruột của Nam, anh trai và ba dượng cùng đặt chung trên một bàn thờ. Một lần tôi vào thành phố Nha Trang tham quan cùng với Hội Cựu chiến binh, vào nhà, thấy thế, tôi bảo Nam: – Không được! Chú phải làm hai bàn thờ riêng. Ba và anh Bắc trên một bàn thờ, còn ba dượng Nam ở một vị trí khác.

Đã hơn 20 năm nay, tôi chưa một lần vào thăm lại, không biết Nam có làm như vậy không? q

9/2015

Trịnh Tuyên
(Hội VHNT Thanh Hóa)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 376

Ý Kiến bạn đọc