Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Tiếp nhận thơ Tố Hữu thời kỳ trước 1945

Kỷ Niệm 100 Năm Sinh Nhà Thơ Tố Hữu (1920-2020)

 

1.Trên báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh (số 583, ngày 27-2-2020), tôi đã có dịp phân tích quan niệm nghệ thuật và tương quan Tố Hữu – Nam Trân qua bài viết Tố Hữu với Dửng dưng (Tặng tác giả Huế – Đẹp và thơ). Vào thời kỳ “tiền khởi nghĩa”, còn hoạt động “trong bóng tối” trước Cách mạng tháng Tám 1945, Tố Hữu (1920-2002) đã làm khá nhiều thơ. Trên thực tế, thơ Tố Hữu có phần in công khai trên báo chí cách mạng và khuynh tả thời kỳ phong trào Dân chủ (1936-1939), phần nhiều in báo chí bí mật của Đảng và gắn với hoạt động phổ biến, tuyên truyền trên các báo Dân, Thế giới, Thời báo, Tay thợ, sau được tập hợp trong Từ ấy (1946)… Chẳng hạn, ông có hai bài Mồ côi, Vú em in trên báo Dân (Tuần báo công khai của Xứ ủy Trung kỳ, Huế, 1938). Điều đặc biệt là ngay từ đương thời chế độ thực dân trước 1945, thơ Tố Hữu đã được ghi nhận là “nhà thơ của tương lai” và chính ông đã tham dự vào đời sống thi ca đương đại, trong đó có mối liên hệ với phong trào Thơ mới và tiếng thơ của bậc đàn anh Nam Trân (1907-1967)…

2. Ngay từ khởi đầu phong trào Thơ mới (1932), trên báo Phụ nữ tân văn (Sài Gòn), bên cạnh dòng chủ lưu tiếng thơ chủ nghĩa lãng mạn, “thức tỉnh cá nhân” đồng thời đã manh nha xuất hiện chi lưu thơ tả thực, thơ cần lao, thơ vô sản, “khuynh hướng xã hội” với những bài của Thụy An, Tịnh Sơn, Hồ Văn Hảo, Nguyễn Thị Đồng, Tuyên Thanh An Thị… Tiến lên một bước là tiếng thơ tranh đấu. Phác Căn trong bài “Một khuynh hướng mới trong làng thơ” đã kịp thời sơ kết và xác định: “Bắt đầu từ năm 1935-36, một vài thi sĩ xã hội ra đời, người ta thường gọi là thơ bình dân. Song nghệ thuật còn quá kém cỏi, câu văn còn quá sống sượng, nên thơ bình dân không “chinh phục” được nhiều người. Nhưng lần lần, lối thơ ấy chưa nẩy nở ra nhiều, nghệ thuật được dồi dào hơn. Người ta được đọc của Huy Ân, Tuyết Sơn, Hải Nam, v.v… Gần đây, những thơ ấy có chiều lạc quan hơn. Các nhà thơ đã biết lên giọng gay gắt lên án chế độ xã hội, kêu gọi tranh đấu, phản đối chiến tranh. Các nhà thơ đã biết làm tròn nhiệm vụ của họ. Trong số này ta nên kể: Thôn Dân, Thế Nhu, Dương Lĩnh, Hồ Xanh, Vạn Thế Hùng… Lời thơ của họ không còn là tiếng rên la tuyệt vọng của cô gái xuân hay là tiếng than vãn của anh chàng si tình mất vợ, mà chính là lời anh dũng của vô sản cùng hoan hô và nắm tay nhau ra trận tuyến giết kẻ thù chung” (Dân chúng – Cơ quan của lao động và dân chúng Đông Dương) (Sài Gòn), số 13, ra ngày 13-9. NXB Lao động, 2000, tr.319-322. Các trích dẫn sau đều theo tài liệu này…

So-619--Tiep-nhan-tho-To-Huu-thoi-ky-truoc-1945---Anh-1
Nhà thơ Tố Hữu.

Trực diện tiếp nhận tiếng thơ của nhà thơ cách mạng trẻ tuổi, hai cây bút phê bình K. và T. (Bút danh ký tắt của hai nhà báo cách mạng Lưu Quý Kỳ, 1919-1982 và Trần Đình Tri, 1915-1997) đã viết Tố Hữu – nhà thơ của tương lai trên báo Mới (1939) ngay sau khi Tố Hữu bị bắt tù (ngày 27-4-1939), bày tỏ sự đồng cảm và thán phục: “Cách đây hơn hai năm, tình cờ tôi được đọc một bài thơ của Tố Hữu đăng ở Thời báo. Tôi bị cái hấp lực của nguồn thơ ấy cuốn đi. Lần đầu tiên, tôi gặp nhà thi sĩ đúng quan niệm của tôi. Rồi từ đấy, mỗi lần thấy thơ Tố Hữu là tôi không thể không đọc. Và đọc một bài thơ Tố Hữu là tôi có cảm giác quen quen, hình như tôi đã thấy đâu một lần rồi. Thì ra bao nhiêu những tình cảm của tôi, mà chính tôi không hề mô tả được, tôi đã tìm thấy trong thơ Tố Hữu”, đồng thời giới thuyết cách thức tiếp nhận thơ Tố Hữu: “Phê bình thơ là một việc làm khó khăn lắm. Vì trong ấy, tất cả những yếu tố của thơ: chữ, màu sắc, âm thanh, hình ảnh quấn quýt lấy nhau, ôm chặt lấy nhau, thành thử cảm cái hay thì dễ, mà tả cái hay thì khó. Cho nên bảo bài này là một bài phê bình thì quá đáng. Tôi chỉ là một người yêu thơ Tố Hữu. Tôi muốn giới thiệu Tố Hữu với bạn đọc để bạn đọc có thể yêu thơ Tố Hữu như tôi. Vì Tố Hữu không phải là một nhà thơ của riêng tôi, mà còn là nhà thơ của tất cả thanh niên, nhà thơ tương lai. Bạn đọc hãy cùng tôi tỷ mỷ phân tách những yếu tố của thơ Tố Hữu ra, rồi chúng ta cùng xem. Vì chỉ có thế mới thấy rõ được nghệ thuật của thơ Tố Hữu”…

Điều thú vị là hai nhà phê bình lại trước hết tập trung phân tích, lý giải cái hay cái đẹp của thơ Tố Hữu từ hình thức nghệ thuật, từ đặc điểm ngôn từ, câu chữ, thi tứ, hình ảnh, nhịp điệu:

Hãy xem qua cách dùng chữ của Tố Hữu:

Nắng xuân tưới trên thân cây dừa xanh dịu,
Tàu cau non lấp loáng muôn gươm xanh.
Ánh nhởn nhơ đùa cỏ non trắng phếu,
Và chảy tràn qua kẽ lá vườn chanh.

Mỗi chữ dùng vừa đủ để phát biểu một ý kiến, vừa đủ để mô tả sự vật. Người ta có cái cảm giác rằng nhà thơ Tố Hữu đã dày công gọt đẽo lắm mới đặt được những chữ khéo léo và đúng địa vị của chúng nó. Nhưng không! Thơ Tố Hữu chạy một cách rất dễ dàng và trong câu nào, bài nào cũng thấy cái sở trường của lối dùng chữ dễ dãi mà khéo léo ấy:

Em len lén, cúi đầu, tay xách gói
Áo quần dơ, cắp chiếc nón le te…
Em ngoái cổ nhìn anh, ta chỉ trả
Thầm cho nhau đôi mắt ướt ly sầu!

Nếu không có cái tài tình của nhà nghệ sĩ tin cậy ở cây viết mình, và cái táo bạo của nhà cách mạng thì tưởng cũng khó tìm ra và dùng nổi những câu chữ của Tố Hữu. Khi người đọc đến những chữ «nắng xuân tươi», «muôn gươm xanh», «mắt ướt ly sầu» thì những chữ ấy không còn là chữ đen trên giấy trắng nữa, mà đã hóa ra những cảnh thực”…

Hai cây bút phê bình nhấn mạnh đặc tính phong cách, tính nhạc, chất thơ và tài năng sáng tạo:

«Và những cảnh thực với tất cả màu sắc của chúng nó. Hãy đọc lại những câu «nắng xuân tươi»… ta cũng đã thấy cái cảnh xuân tươi với bao nhiêu rực rỡ và dịu dàng của nó. Nhưng bạn có muốn nhìn thêm một đôi cảnh nữa chăng!

Thì đây:

Đèo cao vút vươn mình trong lau xám
Đá uy nghiêm trầm mặc dưới trời tro…
Đêm hôm nay sông ngà choàng ánh dịu
Ánh trăng xanh lả lướt mạn thuyền ca…

Và âm điệu thì thơ Tố Hữu rất trong trẻo và rất dễ dãi. Có thứ thơ hay mà khúc khuỷu, và có thứ thơ chỉ hay ở chỗ dễ dãi, trong trẻo như dòng nước chảy xuôi trên mảnh kính pha lê, thơ Tố Hữu vào lối thứ hai này:

Tiếng bầu lan nhẹ tiếng ấp sóng ngân nga,
Hồn ca kỹ trong dòng trôi ríu ríu…
Ta bâng khuâng nghe gió bỗng vô tình
Rơi trong bóng hàng dương vờn ánh ngã.
Trên bến cỏ tiếng chuông tù lả tả,
Tan dần trong lạnh lẽo vướng chân thành.

Nếu tìm những câu thơ để chứng thực cho âm điệu của thơ Tố Hữu thì khó lựa. Vì bài nào cũng thế, cũng dịu dàng và trong trẻo. Có khi âm thanh lên rất cao hoặc xuống rất thấp nhưng không khi nào khúc khuỷu, gắt gao. Bây giờ ta nhìn đến hình ảnh:

Với gió bấc đi về rét mướt
Nương chuối già nghe lạnh lẽo rùng mình.
Vài chim quen thưa thớt ở đầu cành
Còn lưu luyến ngày tàn trong nắng yếu.

Đấy, hình ảnh của mùa thu tàn tạ với cơn gió bấc đi về, với những cái rùng mình của vườn chuối, với những con chim thưa thớt đầu cành, với nắng yếu…

Tìm chi em trong sương chiều thất thểu,
Chẳng ngại ngùng e lạnh của ngày đông.
Chờ chi em mà vơ vẩn buồn trông,
Cây xơ xác chìa tay khô gầy gõ.
Mùa thu qua, qua hết những tình thương,
Mà tim em khao khát lượm trên đường!
Rồi đây lạnh, đây mưa và lặng lẽ,
Em sẽ biết mình em trong vắng tẻ.
Còn ai đâu ái ngại đứng nhìn em,
Còn ai đâu buông nhẹ một lời êm?…

Một đứa trẻ bơ vơ, lạc loài, trơ trọi, thiếu tất cả, khao khát cho đến mảnh tình thương lượm mót trên đường!…

Không cần ngâm nhiều hơn nữa. Bởi vì như thế ta đã ngâm hầu hết các bài thơ Tố Hữu. Từng ấy cũng đủ tỏ rằng Tố Hữu có một căn bản nghệ thuật vững vàng lắm. Những đức tính của thơ kết chặt với nhau trong một khối. Một khối chữ tuyệt diệu, màu sắc tươi như thiên nhiên, âm thanh làm rung động cả lòng người, vì hình ảnh hoạt động ít ai hơn được”…

Khác biệt với phần đông lối viết sau này thường nhấn mạnh nội dung tư tưởng rồi mới đến bình phẩm nghệ thuật, hai cây bút phê bình sau khi phân tích đặc tính hình thức nghệ thuật rồi mới đến xác định nội dung tư tưởng, chủ đề, chủ điểm:

“Tôi đã khen thơ Tố Hữu nhiều lắm. Nhưng chưa hết đâu! Trên kia mới chỉ đứng về phương diện nghệ thuật thuần túy. Mà nghệ thuật của Tố Hữu không chỉ là cái nghệ thuật hẹp hòi, không phải là cái nghệ thuật thuần túy luẩn quẩn trong phạm vi chữ, màu sắc, âm thanh. Không, Tố Hữu là một chàng thanh niên của tương lai. Chàng thanh niên ấy ham sống và sống một cách dồi dào. Chàng đuổi theo một lý tưởng. Thơ chàng là cả một nguồn sinh lực đem phụng sự cho lý tưởng. Chàng có phải cái tội là quá ham sống và nhất là quá tin ở sức mạnh thanh niên:

… Kiêu hãnh chút bạn đời ơi! Tuổi trẻ,
Say tương lai là tuổi của anh hùng!
Ai mai kia sẽ tạo lập đời chung?
Ai hiện tại đủ tài năng lay đổ.
Cả chế độ hung tàn gây thống khổ,
Và tị hiềm và gian ác tham lam?
Chỉ ta thôi, là tuổi trẻ siêu phàm,
Với sức mạnh nặng nề thay thế giới!

Chàng thanh niên, trong khi hăng hái chỉ biết có thanh niên là lực lượng chính trong công cuộc «nặng nề thay thế giới» mà quên những lực lượng khác. Nhưng không sao! Mối kiêu hãnh có thể hoàn toàn hiểu được và tha thứ được trong tâm hồn nhà thi sĩ đang bồng bột. Lòng bồng bột kia chỉ có cái đức tính làm cho thanh niên khác hăng hái theo mình.

Bao nhiêu những cái có thể làm cho người ta chán nản lại là những cớ để cho chàng thanh niên của tôi hăng hái sống:

… Nuôi đi em cho đến lớn đến già,
Mầm hận ấy trong lồng xương ống máu.
Để thêm nóng, mai kia hồn chiến đấu,
Mà hôm nay anh đã nhóm trong lòng!

Trong xã hội, Tố Hữu đã có một lập trường rồi, chàng đã cáu giận loài “buôn máu xương” và đã hô hào những bà mẹ, những bà vợ Nhật, Đức, Ý:

Các bà không bom đạn
Diệt loài buôn máu xương
Thì sao không ngăn cản
Binh lính với tình thương?
Sao không bảo chồng con:
“Về thôi! Quay mũi súng
Bắn chết cho kinh hồn
Cả một phường lợi dụng?”

Mối uất hận ghê gớm đã làm cho Tố Hữu ta nắm tay lại, hung hăng:

Một đứa trẻ ngang tàng nuôi mộng lớn
Mơ sương say và chuộng những màu tươi
Giữa vườn hoa kiêu hãnh nhếch môi cười
Với cổ thụ, vung diều con táo tợn:
“Mày phải chết…”.

Nhà thơ chiến sĩ đã biết rõ trong cuộc đấu tranh, tranh đấu là động cơ của sự thắng lợi:

Nhưng người sống bởi trời xuân tạnh ráo:
Lấy kết đoàn xóa hẳn cảnh bi ai.
Lấy tiếng reo của muôn người phấn đấu,
Phá bất bình mưu sống cho ngày mai!”…

Như vậy là hai cây bút phê bình đã đi tới xác định chất thơ Tố Hữu gắn với nguồn sáng của tương lai, “tính lý tưởng”, “sinh lực đem phụng sự cho lý tưởng”, đức hy sinh và tinh thần tranh đấu cho ngày mai. Không chỉ có ca ngợi một chiều, hai cây bút phê bình tiếp tục soát xét, chỉ ra hạn chế của thơ Tố Hữu từ tầm nhìn và yêu cầu của đoàn thể cách mạng:

“Tuy vậy, sự tin tưởng ở cuộc tranh đấu, ở tình đoàn kết vẫn chưa cực kỳ lộ rõ trong tác phẩm của Tố Hữu. Tố Hữu còn nhìn tới cá nhân nhiều quá. Hình như Tố Hữu cứ nghĩ rằng cá nhân là trung tâm điểm của vũ trụ:

Đời lạt mùi và đau đớn không công
Là để việc cho thời xuân chẳng tẻ!

Tố Hữu lại luôn nói:

Cho tôi hưởng tinh thần hăng hiến đấu,
Cho da tôi dày dạn với ngày mai.
Cho tôi hiến đến cuối cùng suối máu,
Để nhuộm hồng bao cảnh xám bi ai.

Nhưng Tố Hữu lại thường quên ngoại cuộc, quên bao nhiêu bạn cùng hàng ngũ với mình, quên rằng con người ta chỉ là một thành phần của xã hội, mà trong cuộc tranh đấu, không thể đứng riêng ra, mà phải đứng cùng với anh em, chỉ đứng với anh em, chỉ diễn tả được lực lượng và tinh thần chung thì mới càng mau cấu tạo cá nhân của mình, chỉ có thế nguồn thơ mới dồi dào, phong phú”…

Đến đoạn kết, hai cây bút phê bình khẳng định vị thế và nhấn mạnh ý nghĩa tính chiến đấu “khí giới mới”, sức mạnh vị nhân sinh, năng lực dẫn đường “hút lấy tư tưởng” của nhà thơ cách mạng trẻ tuổi Tố Hữu: “Với Tố Hữu, chúng ta đã có một nhà thơ cách mạng có tài. Lần đầu tiên trong lịch sử văn hóa ta đó. Nhà thi sĩ ấy còn trẻ lắm. Cuộc chiến đấu đã làm dày dạn tâm hồn anh, đã đem kinh nghiệm lại cho anh, sẽ hiến cho anh những khí giới mới để đem lại cho ta nhiều quân binh hiện giờ đang say vì âm điệu thơ Tố Hữu, nhưng chưa hút lấy tư tưởng của Tố Hữu, vì tư tưởng ấy chưa được hun đúc vững như đồng và sáng như chân lý”…

3. Ba năm sau, Lương Đức Thiệp trong Việt Nam thi ca luận đã định danh nguồn sáng chủ trương, xu hướng, trường phái và chứng dẫn thơ Tố Hữu: “Trái chiều với xu hướng lãng mạn, một chủ trương tả chân xã hội về thi ca cũng vùng dậy. Xu hướng này lôi kéo mấy thi sĩ cấp tiến theo kiểu Jean Cassou” (J. Cassou, 1897-1986: Văn sĩ, dịch giả Pháp. Từng bị Gestapo bắt. Nổi tiếng với tập thơ viết trong tù Trente-trois sonnets composés au secret (33 bài sonnet sáng tác trong bí mật,1944 – LNHS thêm).

Thơ Tố Hữu trước Cách mạng tạo nên giọng điệu mới, thể hiện sâu sắc tính chiến đấu, tính lý tưởng, tính lãng mạn và niềm tin chiến thắng:

“Tố Hữu đại diện cho phái này, định đưa thơ đi một con đường khác con đường xưa nay của thơ:

… Em sẽ cùng tôi đi bốn phương,
Lâng lâng cất giọng hát vang lừng.
Ngờ đâu giông tố dường như đã,
Giam hãm thân tôi giữa bốn tường…
… Đường đi đó, nhổ sào lên tôi lái,
Chiếc thuyền tôi vui lướt giữa muôn thuyền.
Nào cần chi biển rộng bình yên,
Hay ghê gớm nổi cồn cao sóng dữ;
Tôi cứ lái cho tới ngày mệt lử,
Một chiều kia, tôi cũng lại như anh,
Tôi về đây trong mạn ván tan tành,
Giữa lúc ấy những thuyền kia lướt tới.

Đấy mới là những ý nghĩ đem gửi vào câu văn, chứ chưa phải là mối xúc cảm thuần nhiên. Về mặt nghệ thuật, chủ trương này chưa đem lại cho chúng ta được một tác phẩm nào có giá trị vĩnh viễn” (Khuê Văn xuất bản cục, H.1942)…

4. Lời kết

Trên tất cả, so với phong trào Thơ mới 1932-1945 thì những sáng tác đương thời của Tố Hữu thuộc loại “bên lề” nhưng đã đứng về số đông những người lao động cùng khổ, bày tỏ sự phê phán bất công và lên tiếng tranh đấu cho một ngày mai tươi sáng. Thơ Tố Hữu thời kỳ trước Cách mạng đã nhận được sự đồng cảm của người đọc đương thời, trở thành nguồn cội của dòng thơ vị nhân sinh và cuộc đấu tranh xã hội, giải phóng dân tộc. Từ vị thế “bên lề”, thơ Tố Hữu đã chuyển thành trung tâm của nền thơ vô sản, “cánh chim đầu đàn của nền thơ Cách mạng”, lời hiệu triệu và tiếng nói chân thực cho mỗi giai đoạn lịch sử dân tộc, đất nước ở chặng đường nửa sau thế kỷ XX.

La Nguyễn Hữu Sơn
(Viện Văn học)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 619

Ý Kiến bạn đọc