Truyện ngắn

Tiếng chuông phía bình minh

Cuộc đời An gắn liền với những chuyến đi và những ngôi mộ. Mỗi năm An về quê chỉ đôi lần vào những dịp Tết nhứt hay giỗ chạp. Thời gian còn lại, An rong ruổi khắp nơi, đeo đuổi đam mê lạ lùng mà chính An cũng không thể giải thích được, đó là tìm kiếm và “trò chuyện” với những ngôi mộ cổ. Thời thơ ấu của An trải qua trong không gian u tịch của chùa chiền, mồ mả và không khí lạnh lẽo ám mùi nhang khói của ngôi nhà thờ họ. Ở đó, An chung sống với những con người thầm lặng, ít nói, lúc nào cũng mang nét mặt trầm tư. Đó là ông nội, cha mẹ và cả những người hàng xóm. Hình như mọi người giao tiếp với nhau bằng thứ ngôn ngữ lạ lùng, ngôn ngữ của cử chỉ, ánh mắt và cả sự câm lặng… An thui thủi chơi trong khoảng sân rộng trước căn từ đường bề thế, uy nghi, trông có vẻ xa cách với những căn nhà lá đơn sơ giữa một vùng quê nghèo. Một mình, An trò chuyện với những gốc cây kiểng già nua, xù xì… tưởng như chúng có linh hồn và lúc nào cũng khóc than, kể lể khi An đến gần. Nhà vắng, phảng phất quanh năm mùi trầm hương âm khí. Trước nhà, cách con đường rải sỏi là khuôn viên rộng lớn của một ngôi chùa mà ông nội của An là người bỏ tiền ra xây dựng và cũng là sư trụ trì. Chưa bao giờ An được gọi ông mình bằng hai tiếng “ông nội” như bao đứa trẻ khác. Mỗi lần gặp ông, An phải khoanh tay trước ngực, cúi đầu thật thấp và lễ phép nói khẽ hai tiếng “Thưa thầy”. Ông đáp lại lời chào của cháu bằng một câu lạnh lùng và xa lạ: “Mô Phật”, rồi thủng thẳng bước chậm qua mặt đứa cháu trai đích tôn đang ngơ ngác nhìn theo tấm áo nâu khổ hạnh. Ngày còn nhỏ, mỗi sáng theo mẹ lên chùa dâng trà cho ông, An thường rụt rè đứng nép sau lưng mẹ nhìn ông tay gõ mõ, miệng lâm râm kinh kệ. Trong không gian tĩnh lặng, bóng ông nội hắt lên tường chập chờn trong ánh nến lung linh như dáng vẻ vị Bồ tát từ Tây phương hiện về, không còn là con người bằng xương bằng thịt có liên hệ máu mủ ruột rà với gia đình mình.

Mẹ An là người phụ nữ đẹp và có học thức. Ở thời những người thuộc dòng dõi danh gia, vọng tộc mới được phép lấy nhau, mẹ An được chọn để tiếp quản gia sản đồ sộ hàng chục ngàn công đất của họ nội nhà An. Mẹ An nói năng từ tốn, đi đứng đoan trang, cư xử đúng mực với dòng họ nhà chồng. Từ nhỏ, An đã quen với không khí gia đình lúc nào cũng mang vẻ trầm mặc, lạnh lẽo, thiếu đi sự gần gũi, ấm cúng mà An vẫn thấy ở những gia đình khác. Với gia sản và địa vị xã hội đứng đầu làng xã, An nghĩ nhà mình phải là ngôi nhà hạnh phúc nhất. Nhưng không, nhiều lần An chứng kiến mẹ mình đứng khóc âm thầm sau vườn nhà. Nhiều lần cha đáp lại câu chào hỏi của mẹ bằng cái nhìn lạnh nhạt của một người khách lạ. Cha mẹ An ngủ riêng. Họ ít khi trò chuyện với nhau khi không có mặt An. Ngược lại, trong bữa cơm gia đình, người này vẫn âu yếm gắp thức ăn cho người kia khi An cùng ngồi ăn. Có điều gì đó không bình thường mà An chưa thể hiểu được ở tuổi lên 10. Trong đầu óc non nớt của cậu bé dần hiện lên những câu hỏi về thái độ cư xử của cha mẹ dành cho nhau, những câu hỏi mà mãi sau này An mới trả lời được…

Trang-rung---Uyen-Huy
Trăng rừng – Sơn dầu – Hs Uyên Huy

Những lúc mẹ bận rộn chuyện bếp núc, giặt giũ, An thường ra chơi một mình trong khuôn viên ngôi mộ cổ nằm trong khoảng sân rất rộng trước sân chùa. An bám lấy những bậc thang phủ đầy rêu mốc làm bằng đá ong lởm chởm hang lỗ để leo lên, leo lên mãi… cho tới khi chạm được tay vào cái hoa sen nằm trên chóp cột, áp má vào lớp vôi vữa nham nháp, nhìn vị ni sư già chăm sóc vườn rau cải phía sau chùa. Đó cũng là nơi An có thể nhìn thấy bóng dáng con người để lòng bớt cô quạnh giữa chốn làng quê vắng vẻ. Thỉnh thoảng vào những buổi chiều, An nhìn thấy ông nội mình từ thật xa, tay lần tràng hạt, mắt nhìn về hướng mặt trời đang khuất dần phía đồng xa. An không dám chạy đến ôm ông như bao đứa trẻ khác. Khoảng cách đạo và đời lạnh lùng chắn ngang hai con người vốn có cùng huyết thống.

Có lần mải mê trèo lên những gò đá ong hình tròn xây ở bốn góc ngôi mộ cổ, An bắt gặp cái nhìn giận dữ của ông nội hướng về mình. An khựng lại, trèo xuống, cúi đầu chào ông rồi rụt rè rời khỏi vòng rào khu mộ cổ. Ông nội An không trách mắng, chỉ đứng lặng lẽ nhìn theo đứa cháu nội. An đem chuyện này hỏi mẹ, bà không trả lời mà chỉ dặn rằng đó là nơi linh thiêng của dòng họ, An không được phép đến chơi đùa làm mất đi sự tôn nghiêm.

Những câu hỏi ngây thơ cứ đeo đẳng theo An suốt quãng đời thơ ấu mà không có câu trả lời thỏa đáng. Bốn mô đá tròn nằm cạnh bốn chiếc cột có hình bông sen trong khu mộ cổ là gì? Nếu là mộ thì mộ của ai? Ai chết trẻ mà chôn trong những ngôi mộ nhỏ nhắn như thế? An chỉ biết một điều duy nhất, ngôi mộ to hình con rùa ngẩng cao đầu uy nghi chính là mộ ông cố của An – một con người giàu có, đầy quyền lực, từng nắm trong tay hàng chục ngàn công đất ruộng để phát canh thu tô, từng hét ra lửa giữa đình làng trước mặt những hương chức, hội tề…

Năm An 12 tuổi, cha mang về nhà một đứa con gái lớn hơn An 1 tuổi, nhận làm con nuôi. Mẹ không ưng nhưng phải cắn răng chịu đựng. Con bé tên Bình, cái tên được cha đặt cho vần với tên An, ý mong cầu những điều tốt lành đến với gia đình. Bình lớn tuổi hơn nhưng ốm yếu, xanh xao, thân hình khô đét nên mẹ bắt gọi An là anh. Không muốn có thêm người lạ trong nhà nhưng rồi chẳng bao lâu sau, An dần thấy thích thú vì có thêm Bình, bởi ít ra cũng có người cùng chạy chơi trốn tìm quanh khu mộ cổ, có người cùng chịu quở mắng khi leo trèo, nghịch phá. Cha An bớt nhậu nhẹt, đàn đúm để dành thời gian chăm sóc hai đứa con. Mẹ An thì ngược lại, ngày một lún sâu trong trầm tư, u uất… Tuổi còn quá nhỏ nên An không thể nhận ra trong ánh mắt mẹ nhìn Bình ẩn giấu sự khó chịu, đôi khi lóe lên cả sự căm hờn. Mong muốn “bình an” chỉ có trong suy nghĩ của cha, còn lòng mẹ thì dậy lên muôn trùng sóng gió.

Bình dậy thì, lớn nhanh như thổi. Nước da đen mốc ngày nào đã chuyển sang màu bánh mật mặn mà của một thiếu nữ. Đôi mắt đen long lanh cuốn hút khiến những đứa con trai cùng tuổi dại đi trong cái liếc nhìn… Bình không giống những thôn nữ trong vùng bởi nét đẹp rất riêng pha trộn giữa hai dòng máu Việt – Khmer. Mười bốn tuổi, Bình đứng cao ngang đầu An nhưng khôn khéo và biết chuyện hơn rất nhiều.

Hai anh em An được gởi đi học tại nhà một thầy giáo làng. Thầy không nhận tiền công nên An và Bình thường mang gà vịt, gạo muối, bánh trái đến biếu thầy vào những ngày cuối tháng. Từ ngày có Bình, ông nội An thỉnh thoảng rời chùa về thăm nhà, mang theo trái cây, xôi chè về cho hai đứa trẻ.

Một ngày, trên đường đi học về, lúc gần tới nhà, An và Bình mới biết cây cầu khỉ bắc qua sông đã bị gãy một nhịp. Chờ tới gần tối vẫn không có ghe xuồng qua lại để quá giang, An dứt khoát nói với Bình: “Xếp hết tập vở gói lại trong áo, lên ngồi trên cổ, anh cõng qua sông!”. Bình e thẹn, chần chừ. An giục: “Mau lên, gần tối rồi!”. Không đợi em đồng ý, An cởi áo lội xuống bờ sông, nghiêng vai đợi Bình. Trong lúc khó khăn, cần phải quyết định, An bỗng trở nên mạnh mẽ và cương quyết. Không kịp suy nghĩ, Bình leo lên ngồi trên vai anh, hai đùi kẹp chặt vào cổ, tay cầm sách vở giơ cao cho khỏi ướt, tay còn lại run rẩy níu lấy đầu An… Vừa sang tới bờ bên kia, khi cả hai còn đang loay hoay thì An bắt gặp cái cười thật đểu và bộ mặt đáng ghét của thằng Gõ chăn trâu: “Chà chà! Qua sông kiểu này sướng tê, hí!”. Vừa nói nó vừa đưa tay xoa xoa lên cổ An, cười nhăn nhở. An hét lớn: “Nó là em tao!”. Cùng lúc với tiếng hét đầy tức giận là một nắm đấm với tất cả sức mạnh dồn vào cánh tay của An bay thẳng vào đôi môi vẩu lên trêu chọc của thằng Gõ. Nó lảo đảo quay mấy vòng, khuỵu xuống, tay ôm miệng trợn mắt nhìn An. Thằng Gõ phun ra từ miệng một búng nước bọt lầy nhầy máu và mấy cái răng cửa vàng khè. An không hiểu sao lúc ấy mình lại hành động điên khùng và nông nổi như vậy.

*
Những biến cố dồn dập đổ xuống gia đình An. Sau ngày ông nội qua đời, cha An đột ngột quyết định xuống tóc quy y, bỏ nhà đến ở hẳn trong chùa. Mọi quan hệ giữa ông và gia đình gần như cắt đứt, dù chùa và nhà chỉ cách nhau một con đường. Cha An là trưởng tộc nên chuyện lớn chuyện nhỏ của dòng họ đều nằm trong tay quyết định của mẹ An. Và quyết định đột ngột nhất của bà là chuyển An lên Sài Gòn học năm cuối bậc trung học. Bình và An không biết lý do nên cả hai đâm ra oán trách mẹ. Hai đứa không hiểu được ánh mắt lo lắng của mẹ, không hiểu cảm giác bất an của mẹ khi thấy Bình âu yếm nắm tay An bước xuống chuyến xe lam cuối cùng từ thị xã về quê vào những chiều thứ bảy. Người đàn bà bấy lâu cam chịu bỗng vùng lên mạnh mẽ với chọn lựa khó khăn là tách rời đôi trẻ đang ngày một lún sâu vào tình yêu đầu đời.

Hôm ấy, trăng giữa tháng sáng vằng vặc trên những ngọn cau trong sân chùa. Mẹ An nói trong nước mắt:

- Mẹ biết con và Bình đang oán trách mẹ. Các con muốn biết vì sao mẹ lại có quyết định đột ngột này khi gia đình mình vừa trải qua những biến cố lớn lao? Tình yêu nâng con người đứng dậy nhưng tình yêu cũng đã vùi dập biết bao số phận. Mẹ là người đàn bà bất hạnh. Mẹ lấy cha con không do tình yêu mà bởi sự sắp xếp của gia đình đôi bên. Còn cha con, người đàn ông lẽ ra phải là người hạnh phúc khi trong tay có nhiều thứ mà những người khác không có, đó là học thức, tiền bạc, địa vị xã hội… Mẹ không phê phán ai nhưng mẹ muốn nói để con hiểu, muốn nói để tự nhắc mình rằng, những thua thiệt của mẹ chẳng là gì so với tấn bi kịch mà họ Nguyễn nhà con đã phải hứng chịu…

Mẹ An im lặng, những ngón tay run run xoa lên lớp vôi vữa thô ráp phủ đầy rêu xanh trên ngôi mộ cổ. Giọng bà lại trầm trầm vang lên:

- Đây là mộ ông cố, còn kia là mộ ông nội con. Những con người này từng nắm trong tay quyền lực, từng là chủ của những cánh đồng cò bay mỏi cánh. Giờ họ nằm yên nơi đây, không nhiều, chỉ cần vài thước đất. Mẹ và con rồi cũng vậy. Khi còn sống người ta muốn vơ lấy cả thế gian này làm của riêng mình, nhưng tới khi xuôi tay nhắm mắt, ai cũng chỉ cần chừng này thôi…

Có những câu hỏi ngày còn nhỏ con đã hỏi mẹ, giờ mẹ mới trả lời. Con, người đàn ông trẻ nhất của dòng họ đã bước sang tuổi 18, cần phải biết những gì thuộc về mình, phải đủ sáng suốt và dũng cảm bước qua vết xe đổ của lớp người đi trước.

Con đã từng hỏi cha và ông nội: “Bốn ngôi mộ nhỏ nằm xung quanh ngôi mộ lớn này là của ai?”. Không là của ai cả, con ạ! Trong lịch sử nước nhà, mẹ chưa từng được biết có phong tục chôn người sống theo hầu người chết. Khi về làm dâu nhà này, mẹ cũng từng được nghe kể về những câu chuyện khó tin và ly kỳ như vậy, và mẹ cũng đã từng nghĩ, dưới bốn ngôi mộ nhỏ kia hẳn đã chôn theo điều gì đó…

- Vậy là những lời đồn đãi, những câu chuyện tưởng hoang đường là có thật hả mẹ?

- Không hẳn vậy. Mẹ biết là trên vùng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long này còn sót lại dấu vết nhiều ngôi mộ cổ như ngôi mộ nhà mình. Những ngôi mộ có hình dáng và đặc điểm chung rất giống nhau, vật liệu chính là đá ong, vôi, cát và nhựa cây ô dước… Ở mỗi nơi, tùy phong tục, tín ngưỡng… mà cấu trúc tường rào, mộ chí và những thành phần khác được người sống giải thích theo nhiều cách khác nhau. Có nơi bảo, bốn mô đá nhỏ xây chung quanh ngôi mộ chính chỉ là một pháp khí, là vật mang tính bùa yểm, trấn khí, trừ tà… nhằm cầu mong người chết mau siêu sinh, người ở lại được bình yên, tài lộc hanh thông…

Riêng ngôi mộ của ông bà mình lại là một câu chuyện khác. Họ Nguyễn Phúc, theo gia phả mẹ đọc được, là dòng dõi gần xa của các triều vua phong kiến cuối cùng nước ta. Có một thời, họ nội nhà con là một trong vài dòng họ đi tiên phong trong việc khai khẩn dải đất mênh mông lau sậy trải dọc hai bờ sông Cửu Long. Họ giàu có, nhiều quyền lực nên của cải của họ, ngoài ruộng đất, nhà cửa, vàng bạc… còn sở hữu cả con người nữa. Giữa những người giàu có với nhau, cái họ tự hào khi so sánh là số người hầu hạ, số người giúp việc trong nhà. Ông bà mình tin rằng, chết chỉ là đi qua một thế giới khác, bởi vậy trong đồ tùy táng chôn theo, ngoài quần áo, trang sức, gạo muối… còn có cả con người nữa! Con đừng ngạc nhiên, không phải chôn sống một người mà chỉ là chôn một phần thân thể họ theo những nghi thức tượng trưng, ví dụ chôn một lọn tóc chẳng hạn…

Họ nội nhà con là dòng dõi phú quý. Trong đại gia đình kiểu tứ đại đồng đường, việc nuôi trong nhà hàng chục người hầu không phải là chuyện lạ. Ông cố của con có một người hầu gái mua từ một gia đình nghèo khó sống trong vùng. Đó là một cô bé người Khmer hiền hậu, chăm ngoan, dễ dạy. Những đức tính đó đã gây được nhiều tình cảm tốt đẹp với người trong gia đình. Ngày ông cố qua đời, theo tập tục cổ hủ thời ấy, người hầu phải quỳ trước linh cữu của ông lúc hạ huyệt, trong hương khói và tiếng tụng niệm, một thầy cúng trịnh trọng dùng kéo cắt lấy mái tóc của người hầu gái, chia làm bốn phần rồi chôn ở bốn góc của khu mộ vừa mới xây. Nghi thức ấy được hiểu là cô hầu gái đã bị chôn theo chủ, tiếp tục công việc hầu hạ ở thế giới khác. Tất nhiên, sau đó cô gái vẫn được nhà chủ giữ lại, xem như một thành viên trong gia đình, dựng vợ, gả chồng và được chia một số ruộng đất, tài sản làm kế sinh nhai sau khi rời khỏi gia đình.

Thực hư của câu chuyện này thế nào, mẹ không rõ, bởi nhiều năm sau nữa mẹ mới bước chân vào trong nhà này. Đúng là viễn cảnh tươi sáng dành cho một kiếp người lầm than, phải không con? Họ nội con lúc ấy có người con trai tuổi mới đôi mươi. Trai gái tuổi thanh xuân sống chung một mái nhà nên nảy sinh tình cảm. Hậu quả của tình yêu vụng trộm giữa chàng trai và cô hầu gái ấy là một cái thai… Chuyện đến tai người lớn. Ông nội con với cái roi da, trong cơn thịnh nộ ngút trời đã cho đôi trai gái tội lỗi ấy một trận đòn thừa sống thiếu chết. Vài ngày sau, cô hầu gái bị ép gả cho một thanh niên nghèo làng bên, anh con trai bị buộc lên Sài Gòn cưới vợ rồi sau đó sang Pháp, nói là đi du học…

Người thanh niên mẹ vừa nhắc tới là cha của con, còn cô hầu gái chính là mẹ ruột của em Bình…

*
An đã thức trắng đêm. Hành lý chuẩn bị sẵn, chờ trời sáng là An lại lên đường, bắt đầu những chuyến đi xa. Công trình khai quật Hoàng thành phía Bắc, tượng nhà mồ Tây Nguyên đang lên tiếng réo gọi. Từ trong sân chùa, ngồi trên thềm ngôi cổ của dòng họ, An nghe tiếng nhạc và tiếng người lao xao vọng sang từ sân nhà mình, nơi diễn ra lễ cưới của Bình. Đêm qua, trong lễ xuất giá, cầm bàn tay ấm áp của em gái, An nói vui: “Từ bây giờ, đổi lại gọi là chị Bình, được chưa?”. Bình e thẹn trách móc: “Cứ giữ những cái đã có giữa anh em mình. Nó đẹp mà!”. Chỉ có An mới hiểu hết ý nghĩa câu nói của Bình. Tình yêu, dẫu vô tình bắt đầu trong tội lỗi nhưng lý trí đã kịp thời ngăn lại, giúp Bình đứng vững giữa sóng gió cuộc đời trong bao nhiêu năm qua. Sau khi hiểu ra mọi chuyện, Bình quyết định chuyển về quê ở với mẹ, lấy chồng và bắt đầu một cuộc đời mới…

An quay về nhà lấy hành lý và tạt qua phòng từ biệt mẹ trước khi lên đường. Lúc đi ngang qua cổng chùa, An bỗng nhớ tới Bình, nhớ ngày xưa mỗi sáng em gái vẫn chạy sang phòng lôi anh dậy trước khi ông nội thỉnh tuần chuông sáng. Cả hai cùng nấu nước, pha trà, nắm tay nhau lần mò từng bước trong ánh sáng lờ mờ bưng lên chùa mời ông. Trong không khí se lạnh về sáng, An ngửi được mùi hoa cau, hoa bưởi và mùi tóc em gái quyện lấy nhau thơm thoang thoảng…

An đi dọc bờ đê nhỏ ra tới đường cái. Làng quê tĩnh mịch vẫn chìm trong giấc ngủ bình yên. Tiếng chuông chùa ngân nga trong sương sớm, từng tiếng thong thả như nối nhau trôi dập dềnh trên ngọn lúa. Tiếng chuông tinh khôi đầu ngày quấn quýt đuổi nhau chạy mãi về phía bình minh…

Ở phía tiếng chuông ấy có người đàn bà hạnh phúc nhất, đó là mẹ An.

Nguyễn Lệ Ba
(Châu Thành, Đồng Tháp)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 458

Ý Kiến bạn đọc