Thầy thuốc Văn nghệ

Tiêm chủng

Tuần lễ từ 24 đến 30-4 năm nay là tuần lễ tiêm chủng toàn thế giới nên chúng ta cần ôn lại kiến thức về tiêm chủng. Lịch sử tiêm chủng bắt đầu vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên khi vua Mithridate VI mỗi ngày uống một lượng nhỏ độc chất cho cơ thể quen dần nhằm đề phòng nguy cơ ám sát. Khi vua thất trận và tự sát, liều thuốc độc ông ta uống vào chẳng có tác dụng gì. Ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ X, các thầy lang bí mật dùng một kỹ thuật phòng bệnh đậu mùa bằng cách lấy vẩy sẹo của người bệnh cho vào chiếc hộp kín trong một thời gian để giảm độc tính, sau đó nghiền nhỏ thổi vào mũi của người khỏe để ngừa bệnh. Edward Jenner là người đầu tiên năm 1796 dùng tiêm chủng để ngừa bệnh đậu mùa cho con người ngay từ khi còn chưa biết bản chất của tác nhân gây bệnh là gì. Từ đó, lần đầu tiên trong lịch sử, y học đã chiến thắng được một căn bệnh hiểm nghèo. Năm 1977, Ali Maow Maalin người Somalia được xem là bệnh nhân cuối cùng mắc bệnh đậu mùa. Louis Pasteur nghiên cứu bệnh dịch tả. Ông cấy vi khuẩn tả trong phòng thí nghiệm rồi đi nghỉ mát. Khi trở về, ông lấy dung dịch đó tiêm cho gà thì bầy gà chỉ bệnh nhẹ rồi khỏe lại. Đó là do khi ông đi vắng, vi khuẩn đã bị suy yếu đi trở thành một loại tiêm chủng. Điều này đã mở đường cho ngành miễn dịch học hiện đại.

Từ đó, tiêm chủng đã đẩy lùi nhiều bệnh như triệt tiêu bệnh đậu mùa trên toàn cầu, thanh toán gần như hoàn toàn bệnh bại liệt, giảm đáng kể các bệnh sởi, bạch hầu, ho gà, bệnh ban đào, thủy đậu, quai bị, thương hàn và uốn ván.

Tuy nhiên, nhiều bệnh vẫn còn đang thách thức con người, chưa có tiêm chủng nào đủ hiệu quả để ngăn ngừa bệnh do ký sinh trùng (sốt rét, giun, sán), bệnh do siêu vi (sốt xuất huyết, HIV/AIDS). Lý do là vì các tác nhân gây bệnh biến đổi thường xuyên khiến cho tiêm chủng không còn hữu hiệu.

Cơ chế hoạt động của tiêm chủng là hệ miễn dịch nhận diện thuốc chủng như vật lạ nên hủy diệt chúng và “ghi nhớ” chúng. Về sau, khi tác nhân gây bệnh thực thụ xâm nhập cơ thể, hệ miễn dịch sẵn sàng tấn công tác nhân gây bệnh nhanh chóng và hữu hiệu.

Người ta phân biệt 3 loại tiêm chủng:

Loại tiêm chủng bất hoạt là các vi sinh vật độc hại bị giết bằng hóa chất hay bằng nhiệt như tiêm chủng chống cúm, dịch tả, dịch hạch và viêm gan siêu vi A. Các thuốc này chỉ gây đáp ứng miễn dịch không hoàn toàn và ngắn hạn, nên cần phải tiêm nhắc nhiều lần.

Loại tiêm chủng sống làm giảm độc lực là các vi sinh vật nuôi cấy trong điều kiện đặc biệt nhằm làm giảm tính chất độc hại. Loại này gây đáp ứng miễn dịch dài hạn và rất được ưa chuộng. Thuốc chủng ngừa bệnh sốt vàng, sởi và quai bị thuộc loại này.

Loại biến độc tố là các chất độc bị bất hoạt trích từ các vi sinh vật như thuốc chủng ngừa uốn ván và ngừa bạch hầu.

Chương trình tiêm chủng mở rộng ở Việt Nam triển khai từ năm 1985 với 6 mũi vaccin cơ bản cho tất cả trẻ em dưới 1 tuổi. Đến năm 2010 đã có 11 loại vaccin được tiêm chủng là lao, bại liệt, bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi, viêm gan B, HIB, viêm não Nhật Bản, tả và thương hàn. Chương trình tiêm chủng mở rộng đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Chúng ta đã thanh toán bệnh đậu mùa từ cuối những năm 70, thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000, thanh toán bệnh uốn ván sơ sinh vào năm 2005, tiến tới loại trừ bệnh sởi và viêm gan siêu vi B.

Bs Đào Ty Tách
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 497

Ý Kiến bạn đọc