Tản văn

Thương lắm miền Trung ơi!

Sáng nay, khi cầm trên tay những trang báo, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là ánh nhìn buồn bã, vô vọng của những đứa trẻ trước dòng nước mênh mông. Cây cầu bắc qua dòng sông Gianh đã bị lũ cuốn. Làm sao để đến trường?

Làm thế nào để đến trường? Câu hỏi đó làm lòng tôi quặn thắt. Hình ảnh căn nhà trống, đồ đạc (những thứ không còn có thể trôi) vương vãi khắp mọi nơi, chiếc giường gỗ rệu rạo đặt ngay góc vườn trở thành nơi phơi sách vở và đồ dùng học tập. Sợi dây nối giữa cột nhà và thân cây ổi trở thành dây phơi sách. Những cuốn tập phất phơ trong nắng làm mắt chúng tôi nhòa đi. Đó là những gì chúng tôi thấy được trong đợt đi cứu trợ tại xã Quảng Thủy, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình vào cuối tháng 10 vừa qua.

Tac-gia-Phuong-Huyen-va-nguoi-dan-vung-lu
Tác giả Phương Huyền và người dân vùng lũ.

Cứ tưởng rằng những hình ảnh ấy rồi sẽ xa, sách sẽ khô, quần áo sẽ được may vá lại, các em lại được đến trường… Vậy mà sáng nay, tràn ngập trên các báo là mưa, là ngập, là những tiếng lòng đến xót xa.

Đoàn chúng tôi về Quảng Bình khi lũ đã tan. Mới 6 giờ sáng, nắng đã như muốn nuốt chửng người qua lại. Miền Trung là thế, mưa thì thối đất thối cát lũ lụt tứ bề; nắng lại bỏng rát, chát chúa. Đường từ thị xã Ba Đồn, qua cầu Quảng Hải về vùng Nam Quảng Trạch nắng bủa vây. Thế nhưng, cái nắng 33 độ C rát bỏng vẫn không làm chùn bước chân mọi người. Khi chúng tôi đến nơi tập kết, bà con đã ngồi chờ đông đủ. Trên những gương mặt hốc hác, già nua, vẫn ánh lên nét nhìn hồ hởi, tươi vui khi đón đoàn. Lần đầu tiên đi cứu trợ, cả đoàn lóng ngóng không biết phải làm thế nào cho trọn vẹn. Những lời nói hoa mỹ bỗng trở nên vô nghĩa; bao nhiêu sự chuẩn bị cũng nghẹn lời, chỉ còn đó cái nhìn ấm áp, cái nắm tay thân tình chúng tôi trao gởi hết cho bà con vùng lũ. Lần đầu tiên tôi cảm nhận được những món quà nhỏ thôi, chỉ là hộp sữa, chai dầu gió lại quý đến thế. Người nhận nâng niu nói lời cảm ơn. Tại điểm phát quà đầu tiên, một cô đến nhận quà đã dúi vào tay một tình nguyện viên trong nhóm bài thơ cô viết, bài thơ về miền Trung mùa lũ.

Ai về đất mẹ miền Trung
Những ngày bão lũ vô cùng xót xa
Nước vào rồi lại nước ra
Mênh mông biển cả phù sa vô vàn
Sáu năm ba đợt lũ càn
Còn gì nhà cửa, xóm làng xác xơ…

Khi chúng tôi đến xã Quảng Sơn, thị xã Ba Đồn, lúc này nắng đã lên cao. Đập vào mắt chúng tôi không phải là sự vất vả sau cơn lũ, không phải là vẻ chờ đợi mệt mỏi… mà nơi đây là dấu chân của những người tật nguyền. Lúc người bạn gởi danh sách chị ấy khảo sát cho tôi, chị nhắc đi nhắc lại có những trường hợp đặc biệt em nhé. Em quan tâm gia đình này một chút, gia đình kia một chút. Nhà họ tạm bợ, vợ thì bị thần kinh, chồng lao động chính nuôi con; nhà này thì chồng không được bình thường lắm… Tôi đã tưởng mình biết, vậy mà vẫn không hình dung được cho đến khi tận mắt nhìn thấy. Họ cầm trên tay phong thư đoàn trao, nụ cười ngờ nghệch. Không phải một, mà hai, ba… rất nhiều những gương mặt như thế chúng tôi bắt gặp ở nơi này. Cũng đúng thôi, vùng đất quanh năm lũ quét, phù sa, nước bạc ngấm vào đất, ngấm vào nước, độc là thế hỏi sao không bệnh?!

Nha-vung-lu---Anh-1
Nhà vùng lũ. Ảnh: Phương Huyền

Phát quà tại điểm tập kết xong, đoàn tranh thủ đến nhà của một cô đã lớn tuổi bị bệnh. Căn nhà nhỏ xiêu vẹo trong nắng. Những thân cây phủ đầy bùn đất. Căn nhà không có gì ngoài bàn chồng lên ghế, ghế chồng lên giường, và trên đó là những bao lúa ngâm nước lụt vừa được phơi lại. Bếp lửa chập chờn thanh củi ẩm. Cả đoàn ái ngại nhìn nhau, nhìn cục bướu nặng vài kí lô cô đang mang trên cổ, nhìn căn nhà cô độc, tối tăm như chính cuộc sống của những con người này.

Một chị trong đoàn sau chuyến đi về viết: Mới nhìn cứ nghĩ mọi thứ không đến nỗi, cũng sáng sủa; mà nhìn kĩ, đúng là sáng sủa thật. Bởi vì cả căn nhà có còn lại đồ đạc gì đâu mà không sáng. Căn nhà trống trơn!

Căn nhà trống trơn! Căn nhà đầu tiên tại xã Quảng Tiên chúng tôi bước vào cách bờ sông Gianh khoảng gần 10 mét là vậy. Người phụ nữ, chủ căn nhà mới chỉ ngoài 20, gương mặt khắc khổ, thân mình khô khốc. Chị cắn răng để không bật khóc trước mặt mọi người. Đúng, có những người như thế, cố kìm những giọt nước mắt hay những lời kể lể dài dòng. Người phụ nữ ấy chỉ nói “nhà em trôi hết, chẳng còn gì”. Chẳng còn gì ngoài bức tường phía sau đổ nát và căn nhà trống. Tất cả đã trôi theo dòng nước lũ. Tất cả, chỉ còn lại những bức tường.

Quảng Tiên là xã nằm heo hút nhất của 9 xã vùng Nam Quảng Trạch. Bao nhiêu năm nay mỗi mùa lũ về, Quảng Tiên luôn bị chia cắt, cô lập. Quảng Tiên cũng là nơi tôi đã lớn lên, đã sống cùng lũ biết bao mùa. Cho đến hôm nay, hơn 20 năm qua đi, tôi vẫn nhớ như in trận lũ lịch sử đã cuốn phăng căn nhà của gia đình tôi. Đó là năm 1993. Đó là năm làng tôi chìm trong biển nước mênh mông, mưa sa bão táp, ầm ầm sóng cuộn. Anh em tôi được gửi sang nhà hàng xóm. Bố mẹ tôi cũng như bao người dân miền Trung khác không trốn lụt mà chống chọi với lụt. Họ quyết tâm ở lại cùng căn nhà. Và rồi, một cơn lốc xoáy cuốn họ trôi theo cùng căn nhà giữa đêm mưa gió bão bùng. Nhưng may mắn thay, thiên nhiên vẫn thương chúng tôi. Ngọn núi đá giữa làng (quê tôi gọi là Lèn) đã cưu mang bố mẹ tôi cùng bao nhiêu người khác. Tôi không mất gia đình nhưng căn nhà thì chỉ còn lại nền đất nhẵn thín và những tảng đá giữ cột.

Phoi-sach-vung-lu
Phơi sách vùng lũ…

Quảng Tiên ngày chúng tôi về, tiêu điều, xơ xác. Khi xe đến với xóm Đạo (ở đây vẫn gọi là xóm Cồn) gần như cả xóm tập trung bao vây quanh chiếc xe. Xóm này bao đời nay làm ngư nghiệp. Họ sống nhờ đánh bắt cá trên sông Gianh. Gia tài của mỗi hộ gia đình là chiếc xuồng (người dân nơi đây gọi là Nốc). Có những gia đình gần như chỉ sống ở trên xuồng. Dân xóm Cồn nhà đông thì chục đứa con, nhà ít cũng phải năm, bảy. Trẻ con xóm Cồn gần như chỉ đến trường cho có lệ, hoặc không biết đến lớp học là gì. Cho tới tận bây giờ vẫn không kiếm ra được một đứa trẻ xóm Cồn học đến nơi đến chốn. Chúng chỉ học hết cấp 1, cao lắm là qua cấp 2 rồi lần lượt bỏ học. Con trai theo cha mẹ đi bủa lưới, bắt cá; con gái ở nhà chằm nón lá rồi theo chồng, lặp lại thước phim cũ. Tuổi thơ của những đứa trẻ xóm Cồn quẩn quanh trên những khúc sông Gianh. Tuổi thơ cháy khét mùi nước mặn sông Giang, vàng hoe đầu tóc.

Trước khi đi, đoàn chúng tôi đã chuẩn bị khá nhiều bánh kẹo để phát cho bọn trẻ. Vậy mà, vẫn không thể kìm lòng khi nhìn lũ trẻ giành nhau từng viên kẹo. Vừa cầm trên tay cái bánh, cái kẹo, chúng vội vã bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến. Nhìn những hình ảnh ấy, chúng tôi có cảm giác như chúng sợ, chúng sợ rằng chỉ cần cầm vài giây thôi sẽ bị người khác giành mất, hay cái kẹo sẽ biến mất ngay.

Trước khi đi, chúng tôi phân vân nhiều lắm. Thông tin đủ thứ trên mạng xã hội không biết lọc cái nào, bỏ cái nào. Nhiều người bảo đừng mang mì tôm về nữa, đừng mang gạo về nữa, bà con bội thực rồi, cần những thứ khác hơn. Vậy mà, khi đến “rốn lũ” mới hiểu rằng, đói ăn, thiếu mặc vẫn như con ác quỷ bủa vây cả làng. Tôi chưa từng thấy ngôi làng nào đáng thương hơn thế, ngay cả trước đây khi chứng kiến cảnh nhà mình và nhà hàng xóm trôi. Xóm Cồn nhìn toản cảnh như một đống đổ nát sau trận bom. Và, khi nhìn cận cảnh lại càng muốn đứt từng đoạn ruột. Cả xóm gần như không có căn nhà nào nguyên vẹn. Mỗi căn nhà là những mảng chắp vá lộn xộn. Tôi đứng lặng đi trong căn nhà đã mất những mảng mái. Căn buồng nhỏ với hai chiếc giường tre, một bên chất quần áo ướt, một bên mùng màn chăn chiếu vo viên. Lũ đã rút mấy ngày rồi. Vậy thì với cảnh này, những ngày qua họ ăn ở đâu, ngủ ở đâu???

Mieng-khi-doi
Miếng khi đói…

Căn nhà nhỏ hướng ra cánh đồng. Mùa này đồng chỉ còn lại những gốc rạ quyện trong bùn nước bạc. Tưởng rằng thu hoạch xong có thể êm ấm. Vậy mà… Tất cả lúa gạo gần như đã không còn gì sau 5 ngày ngâm nước. Thóc không mọc mầm thì cũng rệu rã nát vụn. Chúng tôi đứng trong khoảng sân nhỏ, lặng đi. Căn nhà này sau lũ không thể bi thương hơn. Căn nhà nhuốm màu tang tóc. Người đàn ông, người chồng, người cha, người trụ cột của gia đình ấy đã ra đi. Anh đã ra đi ngay trên lưng chị, lúc chị đưa anh đến trạm xá, sau lũ. Nhóm chúng tôi, không ai có thể thốt lên lời nào ngoài cái siết tay như cũng để tự trấn an lòng mình. Cắn môi thật chặt, nuốt vào ngực thật sâu, vậy mà mắt vẫn nhòa đi khi nhìn những vòng khăn trắng thắt chặt trên đầu mẹ anh, vợ anh và ba đứa con anh.

Đoàn rời đi, mang theo bao nỗi khắc khoải. Người mẹ ấy, người vợ ấy sẽ làm thế nào để một mình nuôi 3 đứa con nhỏ, một mình chống chọi lại bão lũ, một mình giữa những đêm mưa…

… Tôi trở về từ đợt cứu trợ, đã hơn một tuần. Hơn một tuần đầu tôi ngổn ngang những hình ảnh không thể nào sắp xếp theo thứ tự. Tôi ngồi trước máy tính, viết rồi lại xóa. Thương miền Trung, thương những con người nơi ấy đến thắt lòng. Miền Trung cả một đời cơ cực, hết gió Lào lại lũ lụt triền miên. Vậy mà, những người con của miền Trung vẫn một lòng một dạ bám đất bám làng, chống chọi cùng mưa lũ.

Khi tôi ngồi viết những dòng này, miền Trung lại đang hứng chịu một đợt lũ khác. Ánh mắt những đứa trẻ khắc khoải trước đồng nước mênh mông xoáy vào tim tôi; hình ảnh căn nhà tuềnh toàng bùn đất; hình ảnh chòi treo trên cây tránh lũ vẫn nhức buốt lòng tôi.

Thương lắm, miền Trung ơi!

Phương Huyền
(Đài Tiếng nói Nhân dân TP. Hồ Chí Minh)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 427

Ý Kiến bạn đọc