Tản văn

Thương hạt nếp cái hoa vàng làng tôi

“Bao giờ cho tới tháng Mười
Thổi nồi cơm nếp vừa cười vừa ăn”
(Ca dao)

 

Khởi thủy, ngôi làng nơi tôi sinh ra có tên chữ Cương thôn thuộc tổng Ninh Cù, huyện Thụy Anh – nay là Thái Thụy – phủ Thái Bình. Ngôi làng cổ có tuổi đời gần 500 năm ấy được trời đất hào phóng ban tặng cho hai thứ vô giá làm “của để dành” cho muôn đời con cháu. Ấy là tiếng hát chèo. Và giống lúa “Nếp cái hoa vàng”.

Người xưa gọi nếp cái hoa vàng là “Nếp Hoàng Hoa” – thứ gạo trứ danh mà nhà bác học Lê Quý Đôn trong tác phẩm “Vân Đài loại ngữ” của mình đã trân trọng xếp vào hạng của quý nhất, nhì trong tất thảy 29 loại lúa nếp có mặt trên dải đất hình chữ S với những ưu điểm đặc biệt như sau: “Nếp Hoàng Hoa (Nếp Hoa vàng), lại gọi là nếp ả, cây to, hột nhiều, bông cao; hột lúa dẹp mà to vàng, hột gạo trắng, xôi mềm và thơm…”.

Cũng là đồng đất vùng châu thổ ấy, cũng là hưởng chung nguồn phù sa mầu mỡ của con sông Hóa ấy, nhưng kỳ lạ, khắp cả một vùng rộng lớn của huyện Thái Thụy (và các địa phương lân cận), chỉ riêng có mỗi làng Gang của tôi mới cấy được thứ nếp cái hoa vàng đạt chất lượng chuẩn chỉ bậc nhất. Và càng diệu kỳ hơn khi làng Gang tôi có tới cả chục cánh đồng mênh mông thẳng cánh cò bay, vậy nhưng chỉ riêng duy nhất khu cánh đồng có cái tên gọi không thể thô mộc, bình dị hơn: đồng sau! Đồng sau với diện tích hơn 3 héc-ta nằm liền khoảnh với đất làng, tiếp giáp với đồng cửa đình và đồng thần, là nơi cây nếp cái hoa vàng tươi tốt nhất.

Từ cổ chí kim, người làng Gang chưa từng làm cái việc kiểm tra độ pH trong đất của cánh đồng sau phì nhiêu ở cấp độ nào. Nhưng họ lại hiểu cánh đồng của mình như chính lòng bàn tay mình rằng, lớp trên cùng mặt ruộng là tầng đất phù sa trầm tích. Bên dưới nó tồn tại thứ đất thịt màu vàng như mỡ gà, pha cát ít nhiều. Tầng cuối cùng là cát trước khi gặp thứ tạp chất của tự nhiên. Kết cấu thổ nhưỡng đặc biệt đó chỉ dành riêng cho loại nếp cái hoa vàng tồn tại, phát triển mà thôi. Người làng Gang tự hào và tự tin quả quyết như thế.

Một thời, toàn bộ khu vực cánh đồng sau của làng thuộc diện đất 5% của các hộ gia đình được chia để canh tác riêng lẻ, mỗi nhà một thửa, diện tích nhiều ít căn cứ vào số lao động chính, phụ được hưởng. Sau khi thu hoạch xong vụ chiêm, bà con làng tôi háo hức bắt tay vào vụ mùa với việc gieo cấy “anh” nếp cái hoa vàng với tâm thế đầy xúc cảm thiêng liêng.

Là giống lúa sinh ra hạt gạo dẻo thơm đặc biệt để dâng vào cung tiến vua cho nên người làng Gang dành cho nếp cái hoa vàng của mình một tình cảm đặc biệt ngay từ lúc gieo trồng. Theo đó, dẫu không hề có bất cứ một sự mặc định thành văn nào hết, nhưng cứ theo di lệ kế thừa, người làng tôi chỉ dùng thứ phân chuồng, phân bắc sau khi đã được ủ hoai mục và phân xanh bón lót, bón thúc cho lúa nếp cái hoa vàng.

Đầu tháng 10 ta, lúc trời rót cái nắng vàng nhàn nhạt và lùa những làn gió hanh hao khô giá từ phương Bắc về giữa tiếng chim gáy thi nhau râm ran gọi bầy là cả một biển lúa nếp cái hoa vàng rực rỡ trên cánh đồng sau của làng Gang rũ bông trĩu nặng những hạt nếp lấp lánh ánh vàng căng tròn thây lẩy như trong cổ tích, báo hiệu một mùa Tết cơm mới nếp cái hoa vàng đầy thiêng liêng nữa lại về.

Lúa vàng theo chân người từ đồng sau về nhà, việc đầu tiên người làng Gang phải làm là tiến hành chọn giống dành cho vụ mùa năm sau. Việc này thường được giao cho người có kinh nghiệm chọn giống giỏi nhất gia đình. Trang trọng và đầy tỷ mẩn, công phu, người ta lựa từ trong cả đống lúa tươi khổng lồ còn vương mùi đồng đất ra những bông đạt tiêu chuẩn giá trị nhất để làm giống cho mùa sau.

Chọn được lượng thóc giống cần thiết, ưng ý nhất, người ta lột sạch lớp vỏ áo bên ngoài của từng bông lúa, sau đó đem buộc chúng lại thành từng chùm và đem phơi sương, phơi nắng tới khi những hạt thóc giống khô đanh lại. Tiếp đến, những chùm lúa giống “của để dành” được treo trên gác bếp để tiếp tục hong khô, vừa chống được mối mọt mà… chờ tới cuối tháng 5 ta năm sau hạ xuống đem ủ giống, gieo mạ.

Đã thành một lối ứng xử văn hóa mang tính truyền thống, người làng Gang dành cho hạt lúa nếp cái hoa vàng sự nâng niu, trân trọng hiếm thấy. Người làng tôi không bao giờ dùng những hòn đá tròn, dài nặng tới vài chục kí-lô để trục hoặc sử dụng những kẹp tre néo từng gồi lúa lại sau đó vung cao đập thật mạnh xuống những chiếc cối đá, cũng như bất cứ hành vi mang tính thô bạo nào với chùm nếp cái hoa vàng nhằm tách hạt của chúng ra khỏi bông.

Có vẻ như không bao giờ muốn “làm đau” những hạt thóc vàng quý hiếm trời cho riêng mình, người làng Gang cẩn thận dùng đôi đũa ăn cơm kẹp vào từng bông lúa rồi nhẹ nhàng tuốt nhẹ một cái để những hạt thóc rời khỏi bông. Hoặc cách khác, người ta gom những bông lúa thành từng túm nhỏ như nắm tóc đuôi gà của cô thiếu nữ tuổi hoa hàm tiếu rồi thận trọng dùng chiếc bát ăn cơm cào nhẹ vào phần hạt thóc làm cho chúng rời ra.

So-616--Ngay-mua---Nuyen-Vu-Lam
Ngày mùa – khắc gỗ phá bản – Nguyễn Vũ Lâm.

Những đêm trăng suông tháng 10, sương giá giăng màn mờ ảo như cổ tích, trời đất se lạnh thì cữ thu hoạch lúa nếp cái hoa vàng năm ấy dẫu được mùa hay thất vẫn cứ là dịp vui tưng bừng nhất trong năm của người làng Gang, đặc biệt là với đám trẻ con mới lớn. Người lớn đôn đáo hăm hở tay năm tay mười với việc tuốt những hạt nếp cái hoa vàng, những cô cậu tuổi lên chín, mười trong lúc hồi hộp háo hức ngóng chờ mẻ cốm thơm giòn béo ngậy đầu tiên của năm thì chầu hẫu bên cạnh người lớn tự nguyện biến mình thành kẻ sai vặt.

Mùa thu hoạch nếp cái hoa vàng cũng là mùa Tết cơm mới của người làng Gang. Nói là mùa bởi người làng Gang không có truyền thống tổ chức Tết cơm mới vào ngày 10 tháng 10 âm lịch hằng năm như thiên hạ. Thường thì người làng Gang tổ chức lễ đón Tết cơm mới theo điều kiện, hoàn cảnh của riêng mỗi gia đình, và cũng chỉ gói gọn trong cữ từ mồng 10 tới rằm tháng 10 âm lịch mà thôi. Nói thế là vì, nhà nào phơi khô quạt sạch được “anh” nếp cái hoa vàng sớm thì thực hiện nghi lễ đón Tết cơm mới trước.

Để có được đĩa (mâm) xôi nếp cái hoa vàng bày tỏ tấm lòng tình nghĩa sắt son tri ân trời đất, tiên tổ đạt phẩm chất giá trị tinh túy nhất, người làng Gang có truyền thống ngâm gạo trong cữ thời gian từ 8 – 12 giờ đồng hồ liên tục. Gạo no nước, bà con đổ ra rá để cho thật ráo nước, sau đó rắc muối hạt vừa đủ vào và xóc lên cho thật đều tay.

Gạo ngấm muối được cho vào chõ đất đồ thành xôi theo phương pháp cách thủy. Cũng lại là những ngày tháng 10 đầy thương nhớ ấy, mỗi khi nhà đầu làng nổi lửa đồ xôi thực hiện nghi lễ tâm linh là y như rằng, nhà cuối làng cách đó vài trăm mét phải “điếc mũi” vì hương thơm quyến rũ, đặc trưng có một không hai của xôi nếp cái hoa vàng. Làng Gang mùa Tết cơm mới khác nào thế giới cổ tích hư hư thực thực bởi hương vị mê hoặc của xôi nếp cái hoa vàng hòa trộn với khói hương trầm thuần khiết bảng lảng trong thinh không.

Bởi được canh tác bằng phương pháp hữu cơ nên năng suất lúa nếp cái hoa vàng của người làng Gang không cao như những giống nếp thông thường. Gặp năm thiên thời địa lợi, “anh” nếp cái hoa vàng cũng chỉ cho người làng Gang khoảng 140 – 150 kg thóc tươi / sào đã là… “trúng” lắm rồi. Thế nên, sau khi phơi khô quạt sạch thóc nếp cho vào bồ nào không còn bao nhiêu đâu, cho nên người làng Gang chỉ dùng nếp cái hoa vàng vào việc giỗ chạp hay cưới hỏi của gia đình, họ tộc, chứ không ai tơ tưởng giấc mơ hạt gạo quý của làng thành hàng hóa nông sản. Chỉ những khi “cực chẳng đã” nhà nọ nhà kia trong làng mới buộc phải “cắn răng”, “bấm bụng” mang một ít thóc (gạo) nếp cái hoa vàng ra chợ bán để có “đồng ra đồng vào” cho việc cấp bách của gia đình.

Là tay “thợ cày nhà quê” trên cánh đồng chữ nghĩa bằng nghề viết văn, làm báo lại đèo bòng công việc biên kịch các thể loại phim, đầu năm 2007, tôi xây dựng bộ kịch bản phim Tài liệu – Nghệ thuật mang tên “Gánh chèo làng” vì muốn tri ân những đóng góp không hề nhỏ của gánh chèo truyền thống làng Gang qua mấy cuộc kháng chiến ái quốc của dân tộc. Quá trình kể chuyện gánh chèo làng, tôi không quên giới thiệu trân trọng một di sản văn hóa vật thể vô giá của nơi sinh ra mình: nếp cái hoa vàng!

“Gánh chèo làng” phát trên sóng VTV1, sau đó là VTV4 – kênh truyền hình đối ngoại quốc gia của VTV, thật bất ngờ, chỉ tới lúc đó thiên hạ mới giật mình sửng sốt khi vỡ lẽ: làng Gang có giống lúa nếp cái hoa vàng quý hơn tất thảy các loại nếp! Ít lâu sau, một điều kinh ngạc đã xảy ra với người làng Gang: mùa thu hoạch nếp cái hoa vàng năm đó, rất nhiều nhân vật chuyên kinh doanh lúa gạo thuộc dạng “có số, có má” đổ xô tới đặt mua thứ nếp vàng mà nhà Bác học Lê Quý Đôn đã dành cho nó những lời mô tả trân trọng nhất.

Có những doanh nhân tận trong Sài Gòn cũng lặn lội tìm đến mua bằng được món gạo nếp cái hoa vàng với mục đích chế biến ra thứ “quốc lủi” đại diện cho tinh thần “quốc hồn, quốc túy” của xứ sở để xuất bán sang một số nước trong khu vực. Sau khi nhà nào nhà nấy vét bằng sạch số thóc nếp cái hoa vàng ít ỏi mà mình có được từ khoảnh ruộng diện tích hạn chế 5% bán cho người thiên hạ, lúc đó người làng Gang mới thật sự ngỡ ngàng trước một sự thật cứ như trong mơ: hóa ra hạt nếp cái hoa vàng của làng đã trở thành hàng hóa thật rồi!

Vậy là một ai đó vốn rất thức thời tức thì nghĩ tới chủ đề “làm ăn lớn” bằng việc phải đưa giống nếp cái hoa vàng vào chuyên canh trên toàn bộ diện tích cánh đồng sau, vừa nhằm quảng bá sản phẩm quý vừa để các hộ gia đình có thêm “đồng ra đồng vào”, sau mấy trăm năm nó (nếp cái hoa vàng) trong tình trạng “áo gấm đi đêm” do bị thiên hạ đánh đồng bằng một thứ danh từ lẫn lộn chung chung, mơ hồ: nếp hương!

Đề xuất đầy nhân văn ấy lập tức được bà con trong làng hân hoan nồng nhiệt đồng thuận tuyệt đối. Để biến ý tưởng đưa sản phẩm nếp cái hoa vàng làng mình thành hàng hóa hiện thực, có ai đó bất ngờ táo bạo đưa ra “sáng kiến vĩ đại”: muốn toàn bộ khu vực cánh đồng sau thoát khỏi tình trạng hao tốn nước triền miên qua đó giúp người lao động bớt đi khoản chi phí do phải tưới tiêu quá nhiều cho chân ruộng cao thì nhất định phải hạ bớt độ cao của nó đi để ngang bằng với đồng thần và đồng cửa đình.

Có vẻ như không quen hướng “tầm nhìn xa” của mình vượt ra khỏi lũy tre làng, người ta liền giơ cả hai tay ủng hộ việc hạ bớt độ cao của toàn bộ cánh đồng sau. Và thế là mọi việc sau đó diễn ra với khí thế hào hứng chưa từng thấy. Công đoạn đầu tiên diễn ra như sau: Trước tiên gạt toàn bộ phần đất màu mỡ bề mặt ruộng sang một bên, để lộ ra phần đất thịt màu mỡ gà bên dưới. Tiếp đến, đào toàn bộ tầng đất thịt quý giá đó (mà không hề biết rằng, chính nó là một phần cơ bản đặc biệt tạo nên sự khu biệt có một không hai để cánh đồng sau của làng Gang trở thành “vương quốc” riêng của giống lúa nếp cái hoa vàng!) đem bỏ đi không thương tiếc. Công đoạn cuối cùng, cho dàn lớp đất màu mỡ trước đó đã được gạt sang bên xuống nằm đè lên tầng cát, coi như hoàn thành công cuộc hạ thấp độ cao khoảnh ruộng nhà mình.

Có nhà giữ nguyên lớp đất bề mặt cũng như lớp đất thịt dưới nó nhưng lại tập trung khai thác cho bằng sạch tầng cát nằm cuối cùng nhằm biến chúng thành vật liệu xây dựng trước khi trả lại mặt ruộng bằng lớp đất thịt cùng với phần đất phù sa màu mỡ. Với tinh thần “một công đôi việc”, không ai bảo ai, nhà nhà lấy cát, người người khai thác cát để xây nhà mới, hoặc đem “quy cát thành thóc”, không những thế còn hạ được độ cao của ruộng.

Những ngày đó, cánh đồng sau của làng tôi nhanh chóng trở thành “đại công trường” múc cát đầy ngây thơ, hồn nhiên và tuỳ tiện, mọi người không mảy may biết rằng mình đã phá vỡ toàn bộ kết cấu trầm tích nguyên thủy của cánh đồng sau!

Cuối cùng điều gì đến sẽ phải đến. Hệ lụy đau lòng của việc người làng tôi “vô tư” cào hạ độ cao cánh đồng sau đã diễn ra ngay sau đó không lâu: chất lượng hạt gạo nếp cái hoa vàng không còn đạt giá trị thuần chủng nguyên thủy nữa. Xảy ra cái điều đau thắt lòng ấy tất nhiên một phần còn liên quan tới lý do: theo thời gian, trải qua biết bao kiếp người, do tác động bởi rất nhiều yếu tố khách quan cho nên, giống lúa nếp cái hoa vàng của người làng Gang ít nhiều đã bị biến đổi gen.

Việc người làng tôi can thiệp vô lối, trắng trợn vào cấu trúc thổ nhưỡng khiến cho “hương đồng gió nội” của hạt nếp cái hoa vàng “bay đi quá nhiều” khiến cho phần hồn, phần cốt đậm đà tinh túy làm nên giá trị có một không hai của nó bị thay đổi trầm trọng. Điều đó đồng nghĩa với việc không còn khách phương xa tìm về làng tôi đặt mua thứ gạo quý hiếm đó nữa.

Chợt một lúc nọ thấy mình phải có bổn phận làm gì đó có ích để may ra phần nào trả nghĩa được với hạt nếp quý của làng, sau rất nhiều trăn trở, một ngày của năm 2012, tôi toàn tâm toàn ý bắt tay xây dựng bộ kịch bản văn học phim truyền hình dài tập “Cầu vồng tháng ba” – sau đổi tên thành “Qua ngày giông bão”.

Truyện phim xoay quanh nhân vật chính Lê Vũ, chàng kỹ sư nông nghiệp trẻ tuổi có tài, có tâm sinh ra tại làng Gang, công tác tại Phòng Nông nghiệp huyện. Trước tình trạng giống lúa nếp cái hoa vàng của làng Gang bị biến đổi gen, Lê Vũ đã tự mình xây dựng đề án khoa học nhằm bảo tồn cho được nguồn gen quý hiếm đó.

Trải qua biết bao giông gió cuộc đời xô đẩy, cuối cùng kỹ sư Lê Vũ đã biến ước vọng nhân văn nói trên của mình thành hiện thực để hạt nếp cái hoa vàng trở lại với giá trị thuần chủng nguyên bản của nó. Không những vậy, hạt gạo nếp cái hoa vàng của làng Gang còn chính thức trở thành món hàng hóa đặc biệt, không chỉ ở thị trường trong nước.

Thể hiện điều căn bản đó trong quá trình xây dựng kịch bản văn học, tôi thầm ao ước, thông qua câu chuyện phim hiện thực và lãng mạn, thi vị ấy, người làng Gang của mình sẽ có những bước đi khẩn trương, căn cơ để bảo tồn bằng được thứ gen quý hiếm của giống lúa nếp cái hoa vàng trong tương lai.

Series phim “Qua ngày giông bão” do Trung tâm sản xuất phim Truyền hình (VFC) Việt Nam sản xuất đã được công chúng (trong đó có những người bà con làng Gang của tôi) đón nhận với sự trân trọng đặc biệt trong quá trình phát sóng trên khung giờ vàng của VTV1 ngay từ khi trình chiếu tập đầu tiên.

Thời gian phim phát sóng và sau đó, tôi luôn sống trong trạng thái hồi hộp thắc thỏm, rằng, câu chuyện của chàng kỹ sư Lê Vũ sẽ ít nhiều tác động tới tâm hồn người làng Gang khiến họ để tâm tới việc giống lúa nếp cái hoa vàng trong đời thật (chứ không phải trên phim nữa) của mình đã – đang bị biến đổi gen nghiêm trọng. Nhưng, chẳng biết có phải vì quá hân hoan, kiêu hãnh rằng làng mình có giống nếp quý hiếm được thể hiện trên sóng truyền hình quốc gia hay không mà nhiều người làng tôi thản nhiên “lờ tịt” đi câu chuyện hạt nếp cái hoa vàng đang càng mất đi giá trị truyền thống do tình trạng biến đổi gen di truyền?!

Trước tình cảnh người ta dửng dưng, thờ ơ lạnh nhạt với giống nếp cái hoa vàng đang mất dần đi phẩm cấp tinh túy có một không hai của nó, nói rằng nó đang mai một cũng được, ai đó bỗng ngán ngẩm chua chát: “Tiếc cho dân Gang! Trời ban cho vàng mà không biết giữ, lại để tuột khỏi tay. Thật là!”.

Tôi là “con dân” của làng Gang, tôi tự nhủ lòng, gì thì gì, vẫn không ngừng tiếp tục tự tin nuôi dưỡng giấc mơ dài: vào ngày đẹp trời sẽ có một người rất trẻ nào đó sinh ra từ Gang thôn vì không muốn đắc tội với trời đất, với các thế hệ tiền nhân bởi đã khiến cho hạt nếp cái trở nên “hữu danh vô thực” do bị biến đổi gen mà sẽ tự nguyện làm cái việc của chàng kỹ sư trẻ Lê Vũ trong phim “Qua ngày giông bão”.

Nếu điều thần kỳ đó xảy ra thì câu hát khát vọng “Bao giờ cho tới tháng Mười. Thổi nồi cơm nếp vừa cười vừa ăn” sẽ là hiện thực nhãn tiền chứ không phải là một sự hoài niệm đầy nuối tiếc trong đắng cay muôn phần nữa. Không những thế, hạt nếp cái hoa vàng của làng tôi sẽ có cơ may trở thành loại sản phẩm quý, tạo tiền đề cho người làng Gang “ăn nên làm ra”. Mong lắm thay!

9. 2020

Lê Công Vũ
(TP. Hà Nội)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 616

Ý Kiến bạn đọc