Giới thiệu sách

Thức với miền xưa cùng Nguyễn Bính Hồng Cầu

Chị dẫn mọi người cùng trở về kỷ niệm của mình bằng những bài thơ. Bài thơ của một phụ nữ chính chắn, từng trải không vội vàng cũng không hấp tấp, đầy sự từ tốn và bình thản. Dĩ nhiên đứng trước cảnh cũ người xưa, hoặc chỉ là những hình ảnh gợi nhớ, ai cũng sẽ vỡ òa cảm xúc, nhất là đối với những người đàn bà làm thơ, nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu cũng đã tự cho mình không được phép ngoại lệ.

Như một con đò nhỏ, “Thức với miền xưa” chở 38 bài thơ của chị ngược hiện tại trở về ngày cũ, thời thiếu nữ. Tôi nghĩ, những bài thơ chỉ là cái cớ, để chị vịn vào đó, đi đến một nơi mà chị khó có thể trở lại trên thực tế.

Thuc-voi-mien-xua

Để có một ngày, những cảm nhận chông chênh, mệt mỏi, nhớ và quên, cùng nỗi sợ hãi, nuối tiếc, hóa thơ:

Chiều nghiêng xuống
chạm mùa đang cuối
người đàn bà gắng giữ chút ngày
phập phù rút mái thời gian nhóm lửa
thả lên trời những vòng mộng tưởng

ngày rượt đuổi
ánh hào quang mệt lử

Giọt nước mắt
loay hoay không bến đỗ
ngày cạn
(Ngày cạn/tr.6)

Tập thơ không xuyên suốt dành cho một đề tài riêng, mà rất tản mạn. Đó là tình yêu dành cho quá khứ của người đàn bà đã đi qua thanh xuân (Tôi gặp mùa xuân/trong mắt ai/sáu mươi năm lẻ/xanh còn nụ/nâng chén xuân đời/ta vẫn say).

Là sự chiêm nghiệm của một người sau nhiều lần vấp đá (góc phố ta về/nhăn nhúm mùa đi vắng/gánh heo may rao bán chợ chiều/đêm buông thả giấc mơ chết đứng/chút tàn tro lạnh cong bờ nhật nguyệt/quá khứ lập lòe đánh lận cơn mê…).

Và nỗi trăn trở của một người đàn bà biết mình không còn trẻ (Ta nhớ về ta/bốn mươi năm trước/cũng hoa cười/sóng sánh trăng rằm/ta bây giờ…/ngày mai/tờ lịch rơi/đầu thêm sợi trắng/đêm bao la/nỗi nhớ không màu).

Trong thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu, rất nhiều lần chị lặp lại cụm từ “miền xưa” ở nhiều bài thơ, rồi có hẳn một bài thơ mang tên “Miền xưa”, như một chứng minh hùng hồn, xác định tác giả có nhiều điều nhớ dành cho quá khứ, là một tiếc nuối khôn nguôi (ta gieo hạt ngày xưa/mùa không tới/ khúc ru hời bời bời lốc xoáy/kiếp nhân sinh mấy bận ưu phiền/vòng tục lụy sắp bày cuộc thế/trói thân vào nước mắt tội tình/giọt nước mắt tha nhân/mang hình ngọn giáo/chọc thủng kiếp người/…).

Có một góc nhớ chị dành cho đất nước, quê hương (Hơn ba ngàn hòn đảo/giữa trùng khơi to nhỏ nổi chìm/như ba ngàn mảnh thịt da/chung hình hài Tổ quốc/như ba ngàn huyết mạch/nối liền trái tim/…). Có những câu thơ chị dành cho phận người (Bên kia đường/người mẹ già còng lưng/kéo theo hình hài cuộc chiến/di chứng nền văn minh hiện đại/chất độ ngụy trang sắc màu rực rỡ…). Có bài thơ dành cho đồng đội (Đồng đội tôi/có người còn trẻ lắm/những cô gái măng tơ/tuổi trăng tròn khuyết/má lúm đồng tiền/tóc đen huyền hẹn ước/đêm chiến trường xao xuyến giấc mơ bay/ước một lần được cầm tay/người con trai ấy…/nhưng ước mơ chỉ mộng mị mà thôi/ bởi chiến tranh là điều có thực…).

Và xen kẽ giữa thương nhớ của hôm nay và hôm qua, chị lại qua thơ bày tỏ suy nghĩ của mình về thế sự với một giọng điệu chua chát, ngán ngẩm, chán chường (cây tham vọng/che lấp ánh mặt trời/dựng đêm địa ngục/tua tủa những mầm nụ/lọc lừa dối trá/nuôi lớn cây quyền năng/bằng máu xương kẻ khác/ta cố nhặt/chút niềm tin rơi rụng/hy vọng màu sau – tr.41). Hay “kiếp luân hồi nhân sinh cuộc thế/được bao ngày mà đố kị ganh đau/thắng thua rồi cũng về với đất/trắng bàn tay vào cõi hư không – tr.13).

Có điều gì đó làm nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu ngần ngại, kín kẽ khi biểu đạt về tình yêu trai gái. Tôi nghĩ vậy. Bởi trong 38 bài thơ, đọc đi, đọc lại, cái tình yêu này rất mờ nhạt, rất ẩn dụ, có bài thơ đọc lướt qua tưởng là nỗi đau của trái tim, nhưng suy đi xét lại, đó lại là nỗi đau đời. Nếu không tinh tường, sẽ dễ lầm lẫn (Ta ngồi vá víu niềm tin/xe dây buộc trái tim mình rách bươm/biển khơi nông nổi lạch luồng/trời cao nông nổi cánh chuồn mỏng tang/niềm tin trót đã phũ phàng/bàn chân nông nổi gió cuồng mưa sa – tr.17). Tôi không tìm thấy cơn bão tình của chị. Tôi cũng không nhìn thấy sự dâng hiến hoang dại của một trái tim bốc lửa vì yêu của một người đàn bà. Chẳng lẽ, cái tình yêu kia là “hộp đen” của đời chị?

P.N.Thường Đoan
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 380