Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Thuật ngụy biện của Nguyên Ngọc

Ngôn luận của Nguyên Ngọc trong những năm gần đây bộc lộ chất ngụy biện đến mức như Gơben: Cứ nói dối mãi rồi sẽ thành thật. Xin nêu một số trường hợp
LỢI DỤNG – TÂNG BỐC, XUYÊN TẠC CÁC CỤ PHAN: MƯỢN GIẢI THƯỞNG PHAN CHÂU TRINH VỚI Ý ĐỒ XẤU
Tự dựng lên Ngôi đền Danh nhân Văn hóa Việt Nam tôn vinh các cụ Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu lên hàng Danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại. Nhưng đồng thời đưa cả Trương Vĩnh Ký vào đấy với sự tuyên dương công trạng rất ma mị, rằng Trương Vĩnh Ký là một nhà bác học, một thiên tài ngôn ngữ, thông thạo hàng chục ngoại ngữ mà sau đó là các nền văn hóa (sic!), lại được một nhà bác học là Toàn quyền Đông Dương Paul Bert mời về Triều sung vào Nội các với mục đích giúp cho người Pháp hiểu Việt Nam và Việt Nam hiểu Pháp, xem đấy là tâm nguyện của Trương Vĩnh Ký.
Đó là một xảo thuật ma lanh láu cá, mượn các cụ Phan để trộn Trương Vĩnh Ký vào. Hành trạng của Trương Vĩnh Ký ra sao, có phải tâm nguyện của ông ta là giúp cho sự hiểu biết Pháp – Nam hay không, xin dành cho các nhà sử học. Nhưng sự này thì rõ: Họ Trương là một con chiên ngoan đạo hăng hái theo các vị Thừa sai đi mở rộng Nước Chúa. Đã giúp cho hai bên được và mất từ Nam kỳ Lục tỉnh cho đến cả nước Việt Nam. Chỉ một việc Toàn quyền Paul Bert ưu ái thưởng công đưa họ Trương ra Huế sung vào Nội các cũng quá rõ. Tiếc cho họ Trương là Paul Bert được Chúa gọi về quá sớm. Nếu không, biết đâu Trương sẽ thành Thượng thư bộ Lại, thượng Thư đầu triều, rồi các Hoàng đế bù nhìn sẽ phải than thở chua chát: Người Pháp đặt Trương bên cạnh tôi là họ được bảo đảm rồi.
* Giải Văn hóa Phan Châu Trinh và danh hiệu Vì sự nghiệp văn hóa giáo dục (trao cho Phạm Toàn)…
Giải thưởng Phan Châu Trinh hay Giải Phan Châu Trinh (gọi tắt) thì được. Nhưng Giải văn hóa Phan Châu Trinh là không đúng. Sự nghiệp của cụ Phan đáng kính trọng nhưng không phải là một nền văn hóa. Có thể nói nhà văn hóa, tác gia văn hóa Phan Châu Trinh nhưng không thể nói văn hóa Phan Châu Trinh. Nếu không phải là cố ý ngụy biện thì nên xem lại các khái niệm, thuật ngữ văn hóa, nền văn hóa, thời kỳ thời đại văn hóa, nhà văn hóa, nhà nghiên cứu văn hóa… Đừng à uôm. Tâng bốc cụ Phan quá đáng là có hại cho Cụ đấy.
Vì sự nghiệp văn hóa – giáo dục là Danh hiệu mang tính chất ý nghĩa nhà nước, quốc gia, cộng đồng. Một giải thưởng địa phương, một giải thưởng mang danh nghĩa cá nhân không có chức năng đó. Nếu nhà giáo Phạm Toàn là người tự trọng thì phải hổ ngươi lắm.
Giải văn hóa Phan Châu Trinh kiểu này sẽ là một tiền lệ xấu, nguy hiểm, làm rối loạn đời sống văn hóa của cả nước. Rồi địa phương nào cũng có văn hóa riêng sự nghiệp riêng danh nhân văn hóa riêng… Nguyên Ngọc thừa biết câu “đục nước béo cò” mà…

Image1015367

XUYÊN TẠC CÁC CỤ PHAN
Với cụ Phan Châu Trinh:
Lòng yêu nước, tinh thần yêu nước là cốt lõi, nền tảng, tinh hoa của văn hóa Việt Nam từ khi dựng nước đến nay. Các học giả Đào Duy Anh, Phan Ngọc đã làm rõ điều này trên cơ sở khoa học và lịch sử. (Xem Việt Nam văn hóa sử cương – Đào Duy Anh; Nền văn hóa mới của Việt Nam – Phan Ngọc)
Vì vậy, cá nhân nào, hành động nào, tư tưởng nào thực sự là yêu nước, góp phần vào công cuộc cứu nước, giữ nước đều được ghi nhớ, tôn vinh. Cá nhân nào, hành động hành vi nào, tư tưởng nào phương hại đến độc lập dân tộc, đến sự nghiệp cứu nước… đều được nhìn nhận nghiêm túc, không kể đến nhân thân của cá nhân đó.
Đó là một nguyên tắc hiển nhiên trong lịch sử Việt Nam.
Lòng yêu nước, hành động xả thân cứu nước của các cụ Phan sáng tỏ vằng vặc, không chút tì vết, là tấm gương, là tài sản quí giá của dân tộc. Cho đến nay và mãi mãi về sau, các cụ được tôn vinh như thế.
Song đường lối cứu nước của các Cụ không phù hợp với thực tiễn đời sống. Và thực tiễn đã chứng tỏ như thế.
Cụ Phan Châu Trinh đưa ra đường lối cải lương không tưởng. Điều này cố giáo sư Trần Văn Giàu đã vạch rõ.
Suy nghĩ, khao khát của Cụ Phan rất đáng quí đáng kính nhưng nó không đúng lúc.
Khai dân trí chấn dân khí hậu dân sinh là người dân phải được học tập, xã hội có cơ sở như trường học, báo chí, xuất bản, thư viện, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật… Nó phải có những điều tối thiểu sau đây:
- Người dân có quyền đi học.
- Có điều kiện đi học (đủ ăn mặc, có thời gian và tài chính).
- Nhà nước, xã hội tổ chức, định hướng nội dung học tập…
Tất cả những điều kiện tối thiểu đó, làm sao có được đối với một dân tộc bị nô lệ, một đất nước không còn chủ quyền, tên nước cũng không còn trên bản đồ thế giới, một nhân dân nghèo nàn đói rách vì bị bóc lột…
Không cần phải lý luận học thuật cao xa gì cũng thấy trước hết phải có độc lập dân tộc, phải giành lại độc lập dân tộc. Muốn dựng tòa nhà phải xây nền đắp móng. Muốn vào nhà phải qua cửa.
Đông Kinh Nghĩa thục mới ra đời được mấy tháng đã bị đàn áp dữ dội..
Hệ thống trường Pháp-Việt trong toàn cõi Việt Nam trước 1945 có phải khai dân trí không? Ai khai và khai theo hướng nào?
Ai khai tâm mở trí cho Trương Vĩnh Ký, cho Phạm Quỳnh…?
Nguyên Ngọc xem cụ Phan Châu Trinh là một đầu óc chói sáng đã sớm nhìn ra thế giới đã khác, đã là “toàn cầu hóa” như cách nói bây giờ. Cụ kêu gọi khai dân trí, chấn dân khí… là kêu gọi vượt thoát ý thức hệ…
Ý thức hệ của cụ Phan Châu Trinh là như thế nào? Cụ đã nhận ra ý thức hệ nào cần đi tới… Nguyên Ngọc hãy đưa ra sở cứ xem nào.
Đây không phải là nhiệt tình tôn vinh ca ngợi quá lời mà là ý đồ đưa Cụ Phan lên cao, rất cao, đến độ chói sáng, để hạ thấp, làm lu mờ, quên lãng Hồ Chí Minh và thành quả của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức lãnh đạo. Một thâm ý được bộc lộ trắng phớ ra như thế.
Khát vọng, tư tưởng, đường lối “cách mạng tân văn hóa” của cụ Phan chỉ được thực hiện sau ngày Cách mạng thành công. Nhân dân được tự do. Có điều kiện học tập. Nhà nước chủ động tổ chức việc học tập cho nhân dân. Đó là thực tiễn. Còn về lý luận, hãy xem cương lĩnh đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1930, hãy xem đường lối và chính sách cụ thể về văn hóa – giáo dục của Nhà nước từ ngay sau Cách mạng tháng Tám đến nay. Hệ thống giáo dục từ Trường mầm non đến Đại học và Cao học… là do đâu mà ra?
Lô gích của Nguyên Ngọc rất giống chàng ruồi La-phông-ten khác ở chỗ là Nguyên Ngọc cũng tham gia tích cực vào đấy, đã từng “Bắn Pháp chảy máu”…
Nhưng xong việc rồi, sự nghiệp xong rồi, lại bảo phải theo đường lối khác, đường lối của Cụ Phan, bất đề kháng, khai dân trí… mới đúng, mới không tổn hao lãng phí xương máu nhân dân… Mị dân quá thể. Nguyên Ngọc hay dông dài về lịch sử lại tỏ ra không hiểu gì. Lịch sử không có chữ nếu. Xưa nay ai học được chữ ngờ. Có cái dại nào như cái dại nào đâu (Dân gian thường nói thế đấy. Chấp nhận cái hiện thực cụ thể cái xã hội đang là như thế, nghiên cứu nó, tìm ra qui luật, kinh nghiệm để chủ động hành động – Hành động trong hiện tại. Đương nhiên là thế. Làm sao quay ngược thời gian dựng lại quá khứ để mà hành động theo chữ “nếu”… Nghiên cứu quá khứ để có kinh nghiệm cho hiện tại chứ không phải để “nếu như”.
Không còn gì phải nghi ngờ là Nguyên Ngọc cố tình xuyên tạc Cụ Phan, gán cho Cụ những sự vĩ đại chói sáng mà cụ không có, với một ý đồ làm lu mờ, phủ nhận giá trị và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản trong công cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc. Cần phải vạch ra như thế.
Với cụ Phan Bội Châu.
Nguyên Ngọc tôn vinh Cụ với lời lẽ hùng hồn lâm li thống thiết rằng “mỗi từ mỗi chữ trong những trước tác thống thiết của ông dường như không chỉ được viết bằng nước mắt mà thật sự bằng máu…” (Thế giới tiếp thị, số 13/26-3-2015).
Có khen cũng phải biết đường mà khen. Cứ như là chuyện con rồng vuông ấy. Con rồng ấy vĩ đại lắm. Dài phải đến hai mét mà to dễ đến hai mét… Nếu thật sự thế thì bản thảo của Cụ đã mất tiêu từ lúc Cụ mới viết xong, lũ kiến gián chuột bọ mà đánh hơi được mùi máu thì chúng đâu có để yên.
Nhưng Nguyên Ngọc làm thế là có ý đấy. Để viết rằng “Lịch sử hiện thực đã đi theo con đường của Phan Bội Châu. Chiến tranh anh hùng và khốc liệt đã đem lại độc lập…” (Báo đã dẫn, tr.19).

Lịch sử hiện thực đã diễn ra là: Con đường của Phan Bội Châu đã chấm dứt vào năm 1926 với bản án tử hình nhưng do nhân dân ta đấu tranh quyết liệt – thực dân Pháp phải giảm án, an trí cụ ở Huế, một hình thức giam lỏng. Cụ Phan qua đời năm 1944. Cụ tự nhận suốt đời thất bại. Cuối đời Cụ tin tưởng, kỳ vọng vào Nguyễn Ái Quốc.
Lịch sử hiện thực nó như thế.
Nhưng Nguyên Ngọc rất gian. Nếu đặt đường lối của Cụ Phan Châu Trinh bên cạnh đường lối của cụ Phan Bội Châu thì đúng như Nguyên Ngọc viết. Nhưng từ 1926, lịch sử hiện thực đi theo con đường nào? Lờ đi. Rồi lại hùng hồn lâm li rất gian lận: “Chiến tranh anh hùng và khốc liệt đã đem lại độc lập” (!). Dễ chừng chiến tranh nó tự nhiên nổ ra như đám cháy rừng do khô hanh, do nóng quá… Chiến tranh theo con đường nào do lực lượng nào thực hiện? Cố lờ đi. Thủ thuật ngụy biện này dễ mê hoặc những người còn hạn chế về nhận thức lịch sử, dễ lôi cuốn họ vào khuynh hướng cực đoan phản khoa học.

CHIÊU TUYẾT CHO TỰ ĐỨC VÀ TRIỀU NGUYỄN
Tự Đức… anh hùng!
Nguyên Ngọc xem Tự Đức là nhân vật đứng đầu trong những nhân vật anh hung và bi đát (!) (Nước Đại Nam… Tsuboi. NXB Tri thức. H.2014. Trang 415) và xem xét công trạng của nhân vật anh hùng và bi đát này một cách quái gở. Nguyên Ngọc viết:
Có lần, tôi đã có dịp tìm hiểu về thái độ của Triều đình Huế trước cuộc tấn công của quân Pháp vào Đà Nẵng hồi 1858. Tôi ngạc nhiên nhận ra rằng thái độ ấy, đặc biệt của Tự Đức, không hề là một thái độ bạc nhược, hèn yếu như trước đó – và cả cho đến nay – ta vẫn thường nghĩ. Trái lại, rất cương quyết. Mỗi trận thua, mỗi vị trí bị mất, mỗi tổn thất không đáng có, mỗi hành động trù trừ, dao động, cho đến đại tướng anh hùng như Lê Đình Dương, cả đến vị tướng tài năng nhất và sáng suốt nhất thời bấy giờ là Nguyễn Tri Phương, và tất cả các cấp tướng sĩ đều nhất loạt bị trừng trị nặng nề, thay thế, bổ sung kịp thời. Tiếp tế, hậu cần cùng tất cả các chính sách và các biện pháp hỗ trợ cho tiền tuyến đều hết sức năng nổ. Cuộc chiến đấu thật sự anh hùng và sự chỉ đạo, chỉ huy của Triều đình hết sức tích cực… vậy mà vẫn thất bại và thất bại tất yếu là ở trong cái mà Tsuboi gọi rất chính xác là “bản thể” của xã hội ấy…” (Sđd, tr.415).
Nếu sau trận đầu thất bại mà Tự Đức điều binh khiển tướng như thế, lấy lại thế lực, và cuối cùng là giữ được đất nước thì đúng là anh hùng rồi. Nhưng mà… kết cục như thế nào? Tự Đức liên tục đầu hàng lui bước trước quân Pháp để lo củng cố ngôi vị, giết cả anh và các cháu ruột thịt, rồi lo đối phó với hậu duệ nhà Lê ở Bắc kỳ, chấp nhận nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp…, rồi cuối cùng mất cả.
Nguyên Ngọc ơi! Quân thua chém tướng. Tướng thua chém ai? Có chỗ này, theo nhận định của Tsuboi, chứng tỏ Tự Đức rất hèn hạ, tự mình gây ra tội lỗi, lại trút tội lên đầu kẻ được cử ra thực thi công việc. Ấy là lệnh cho Phan Thanh Giản phải chấp nhận yêu sách của Pháp, ký hòa ước rất nhục nhã, chịu mất ba tỉnh miền Đông – để rảnh tay lo đối phó với ông anh Hồng Bảo và nội loạn ở Bắc kỳ. Chắc Phan Thanh Giản biết rõ, vào năm 1867, ở Vĩnh Long: chống lại quân Pháp cũng chết mà không chống lại cũng phải chết. Nhưng không vì thế mà biện hộ cho hành động tội lỗi của Phan Thanh Giản: tự dâng thành Vĩnh Long mà còn lệnh cho các thành khác trong ba tỉnh miền Tây hạ vũ khí qui hàng (Nước Đại Nam… Sđd, tr.241-248).

MẤT NƯỚC LÀ “ĐỊNH MỆNH”…
Nguyên Ngọc cho rằng khi các dân tộc phương Đông phải đối mặt với phương Tây, với chủ nghĩa tư bản đang lên, thì không chỉ là chủ nghĩa tư bản mà “còn là một nền văn minh, một nền văn hóa, thậm chí một thời đại hoàn toàn khác lạ…” (Sđd, tr.413).
Thế thì chẳng ai có lỗi cả. Từ kẻ đi xâm lược cho đến kẻ đầu hàng giặc, để mất nước… mà lỗi có khi là ở phía phải tự vệ, phía bị xâm lược, phía văn minh văn hóa kém, dám đề kháng bạo động chống lại… Nguyên Ngọc không có gì mới, chỉ lặp lại người nào năm 1944, cho rằng Hai Bà Trưng chống lại nhà Hán là sai qui luật. Bởi lúc ấy nhà Hán tiến bộ hơn, đại diện cho phương thức sản xuất cao hơn…
Cứ theo học thuyết này thì chống lại chủ nghĩa Tư bản đang lên là chống lại nền văn minh, văn hóa mới, là trái qui luật. Thì bất đề kháng bất bạo động mới là hợp qui luật. Thế thì hành động của anh Núp, dùng nỏ bắn Pháp chảy máu… là không đúng.
Và người Pháp tàn sát dân Việt Nam bằng đại bác, máy bay (ném bom) là không sai. Rồi sau này, người Mỹ dùng máy bay rải chất độc màu da cam, rải bom bằng pháo đài bay B52 cũng là không sai. Đấy là văn minh văn hóa cao hơn… Nguyên Ngọc hay quá. Nhưng cưa sừng làm nghé vụng quá. Nguyên Ngọc sinh năm 1932, được học tiếng Pháp, biết tiếng Pháp ít nhiều làm gì không biết văn minh văn hóa của Tuyên ngôn độc lập (Hoa Kỳ 1777) đến Bình đẳng – Tự do – Bác ái và lá cờ Tam tài của Cách mạng Pháp (1789)… và sự hiện diện của nó ở Việt Nam… Là một đảng viên cộng sản, một nhà văn, Nguyên Ngọc làm gì không biết có Bản án chế độ thực dân Pháp (Nguyễn Ái Quốc – 1925). Nguyên Ngọc cho nguyên nhân mất nước là từ văn hóa. Là do ý thức hệ phong kiến, Nho giáo, “cầm tù xã hội, trói chặt hết mọi năng lực của nó, đánh gục nó không phương cứu chữa. Cái ý thức hệ đã khiến xã hội Việt Nam lạc hậu hơn đối thủ của mình cả một thời đại” và Phan Châu Trinh kêu gọi thống thiết khai dân trí, chấn dân khí, để rồi Hậu dân sinh… là kêu gọi một cuộc vượt thoát ý thức hệ, một cuộc chấn hưng dân tộc, một cuộc cách mạng văn hóa theo nghĩa sâu nhất và đúng nhất của nó” (Sđd, tr.416). Hay ho quá! Học thuật không phải chuyện đánh bốc. Nhưng thao tác khoa học nên vận dụng nghệ thuật đấm bốc. Phải có thế đứng vững chắc dù đánh hay đỡ, nếu không dễ bị nốc-ao.
Nguyên Ngọc cứ nghĩ mình là con voi sắt, voi đồng, voi đá… luôn ở thế thượng phong! Nguyên Ngọc đọc cho kỹ “Chân trần chí thép đi” (NXB Tổng hợp TP.HCM, 2011). Tác giả là con trai Đô đốc Hải quân Elmo Russell Zumwat, người đã hạ lệnh rải chất độc khai quang xuống miền Nam Việt Nam. Họ thừa nhận Mỹ thua ở Việt Nam là thua về văn hóa. MắcNamara cuối cùng thừa nhận: Nếu hiểu Việt Nam thì không tiến hành chiến tranh với Việt Nam. Văn minh văn hóa của người Pháp ở Điện Biên Phủ là thế nào và trước nữa, văn minh văn hóa của Việt Nam thời Lê Lợi – Nguyễn Trãi hơn hay kém Minh Thành Tổ?

Vòng vo mãi Nguyên Ngọc cũng đi đến kết luận sự mất nước dưới triều Nguyễn là một định mệnh. Có là định mệnh hay không xin để giáo sư Lê Thanh Khôi giảng giải cho Nguyên Ngọc: “Thực vậy, cuộc xâm lược của Pháp không phải là một định mệnh không thể tránh bởi vì, cũng vào thời ấy, Nhật Bản phong kiến và Xiêm, dù mới có được một tổ chức chính trị còn thô sơ, cũng đã có thể phản ứng thích hợp hơn trước làn sóng của châu Âu và giữ được nguyên tắc về sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của họ” (Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX. Lê Thành Khôi, NXB Thế giới, bản có bổ sung cho đến 1945. H. 2014. Đã là định mệnh thì đừng oán trách bên này bên kia mà phải thay đổi định mệnh bằng cách mạng văn hóa, bằng phục hưng dân tộc, chấn dân khí khai dân trí, Nguyên Ngọc lại dẫn cụ Phan: “Dân
trí đã mở, trình độ ngày một cao, tức là cái nền độc lập ngày sau đấy”.
Cho nên Phan Châu Trinh là chói sáng nhất. Rồi đến Phạm Quỳnh là… Rồi trước đó, Trương Vĩnh Ký là… Danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại.
Lời lẽ thì bi hùng ghê gớm nhưng cái lý thì… cùn quá. Muốn qua sông. Mà không chịu lụy đò. Cũng không chịu bơi lội sang. Cứ ngồi ở bờ bên này mà “tài bồi quốc văn”, “khai dân trí, chấn dân khí”. Nguyên Ngọc hãy trả lời cho bạn đọc xem, một người dân, một đất nước, một dân tộc bị nô lệ, đàn áp, bóc lột không có quyền làm người, đói cơm rách áo… thì khai dân trí như thế nào?
Nguyên Ngọc rất có ý thức lợi dụng tình cảm và uy tín của Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt khi cho rằng: Ông (V.V.K) là người khởi xướng và tổ chức, lặng lẽ, kiên định, hiệu quả việc khôi phục những khuôn mặt văn hóa lớn song lại có số phận éo le của Nam bộ, những Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Phan Thanh Giản. – Không chỉ có Nam bộ, ông cũng là người có tác động quan trọng trong việc tổ chức định giá lại công bằng vai trò và công lao của các chúa Nguyễn, các Triều vua Nguyễn… thiết tha trả lại sự công bằng lịch sử cho những trí thức lớn và những triều đại éo le của dân tộc… (Văn hiến, số 1-2/2015, tr.43).

Số phận, thân phận, hoàn cảnh, cảnh ngộ tình huống… éo le là mô-típ là một thủ pháp của nghệ thuật văn chương. Khoa học chính trị và lịch sử không căn cứ vào đó để “xem xét chiếu cố…”. Chúng tôi kính trọng ngưỡng mộ Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, chia sẻ những tình cảm xuất thần với quê hương, dòng họ của ông… Nhưng lịch sử là một khoa học. Không thể bằng tình cảm mà có được.
Trong suy tư, bao giờ cũng có tính cách cá nhân, lặng lẽ. Nhưng khi hành động, thì có quan hệ xã hội. Huống gì Thủ tướng Chính phủ có bộ máy giúp việc, có chương trình làm việc, và trong điều kiện ngày nay, là có lưu giữ mọi hoạt động bằng âm thanh hình ảnh, văn bản. Ông Nguyên Ngọc hãy đưa ra đầy đủ cứ liệu chứng minh cho những điều ông viết về Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

BẢN THỂ XÃ HỘI?
Nguyên Ngọc có vẻ rất đắc ý khi dùng khái niệm bản thể xã hội. Bản thể là một khái niệm triết học, chỉ cái nguồn gốc của vũ trụ. Nguyên Ngọc hiểu bản thể xã hội như là bản chất, tình trạng, thực trạng bên trong của xã hội như thế này: ông (Tsuboi) không nhìn Việt Nam “với tính chất một thực thể chính trị mà là một bản thể xã hội”. Nói một cách hình ảnh, ông cố tìm hiểu cái đất nước và xã hội này đến trong “nội tạng” sâu xa và cơ bản nhất của nó, ông tìm đến cái “tạng” của nó, từ bên trong, cái bên trong ấy với tất cả cấu tạo cơ bản và lịch sử lâu dài của nó, tất yếu phải phản ứng lại với các thách thức đến từ bên ngoài nhất thiết theo cách như thế, chứ nhất thiết không thể khác, và kết quả, hậu quả như đã diễn ra cũng nhất thiết đương nhiên là thế, như “định mệnh” (Nước Đại Nam…, tr.414). Thế là có một dãy khái niệm đồng đẳng: thực thể chính trị – bản thể xã hội – tạng – nội tạng – cái bên trong… Lảm nhảm quá. Xin gửi tặng các Viện Triết học, Viện Văn học, Viện Xã hội học… món quà giữa giờ của nhà văn nhà triết học nhà giải phẫu sinh lý Nguyên Ngọc! Cũng thư giãn được ít nhiều. Vì xác định được cái tạng của một đất nước một xã hội không còn là câu chuyện của sử học nữa rồi. Tạng, cái tạng và nội tạng thuộc hai phạm trù khác nhau đấy. Ta hình dung khi viết đoạn văn trên Nguyên Ngọc khoác áo blouse đội mũ hồng thập tự cần mẫn lắm. Cám ơn Nguyên Ngọc!
“Bản thể xã hội” như Nguyên Ngọc nói ở đây thuộc phương pháp luận khoa học. Cái khái niệm có tính phương pháp luận này là của Nguyên Ngọc hay của Tsuboi, hay Nguyên Ngọc gán cho Tsuboi, hay do không tiếp thu được ý của Tsuboi rồi cứ hùng hồn như con cháu Dương Chu…
Hóa ra Tsuboi viết thế này:
“Chúng tôi coi chính phủ Việt Nam và người Việt Nam như một thực thể tự tại có phần hành động, chứ không như những đối tượng cam chịu sự đánh phá của người Pháp và người Hoa, và chỉ đáng được nghiên cứu trong chừng mực ấy. Do đấy, chúng tôi tin rằng trước hết cần nghiên cứu tình hình chính trị, xã hội và kinh tế của đất nước bị thuộc địa này để có thể hiểu từ bên trong, cái quá trình lịch sử áp đặt một nền thực dân, và cũng để hiểu rõ hơn về nguồn gốc các phong trào chống thực dân của người Việt Nam như sẽ biểu lộ vào thế kỷ XX. Bởi vì nguồn gốc của cuộc kháng chiến cũng bám rễ sâu rộng từ giai đoạn trước thời thuộc địa (Sđd, tr.39-40).
Không cần bình luận mà chỉ nói gọn lại thế này: Đã không hiểu Nguyên Ngọc lại xuyên tạc nghiêm trọng, nặng nề đối với nhà sử học Nhật Bản này  Nghiên cứu, bình luận lịch sử như thế có lẽ độc nhất vô nhị chỉ có Nguyên Ngọc. Gần đây thấy Nguyên Ngọc xuất hiện rất nhiều, rất lắm lời. Mà toàn là những lời lẽ to tát, lâm ly, hùng hồn, thống thiết, như là “bản thể xã hội”, đầu óc chói sáng, anh hùng bi đát, lịch sử éo le, tính thời sự kỳ lạ và kỳ diệu của Phan Châu Trinh… Thoạt đầu thấy buồn cười, rồi thấy thương thương. Văn chương học thuật mênh mông, dân chủ tự do lắm, có ai cấm đâu mà. Vì thế mà chớ có tham, hùng hùng hổ hổ về cái điều chẳng hiểu nó thực ra là như thế nào. Mới nghe hơi nồi chõ mà cứ ầm cả lên. Tsuboi chắc hiểu biết tiếng Việt, cũng nên giảng giải cho Nguyên Ngọc về cái thực thể và bản thể… tạng và nội tạng… chứ thế này bạn đọc hiểu lầm cả hai, oan cho Tsuboi đấy!
Nhà sử học Tạ Ngọc Liễn thường nói với tôi: Sử học là một khoa học nghiêm túc, có phương pháp, có đối tượng nghiên cứu của nó, nhưng trước hết đấy là một khoa học gắn với đạo đức, quan điểm nghiên cứu có thể khác nhau nhưng phải giữ cái đạo lý, đạo đức có tính phổ quát nhân loại.
Trung Quốc có truyền thống sử học, nhưng cứ điểm danh thì số nhà sử học so với số nhà văn nhà thơ thì rất ít, ít lắm. Nghĩa là, không phải cứ là nhà văn thì đều làm được nhà sử học. Nguyên Ngọc cứ trở về với anh Núp, với các Thào Mị Seo Mị trên cao nguyên đá, với Rừng xà nu, với các Dũng sĩ Điện Ngọc hay Đường mòn trên biển Đông… có khi lại có ích cho bạn đọc hơn. Ấy là tình thật mà nói. Còn lý thuyết thì tóm gọn thế này. Cố tình biện hộ cho thuyết bất đề kháng, cho chấn hưng dân tộc (khai dân trí chấn dân khí… trong hoàn cảnh mất nước mất chủ quyền, nô lệ phụ thuộc, rằng độc lập chỉ là một bước có thể trước
có thể sau… là cố tình dối trá như Gơ-ben.

Còn thành tâm thực lòng, là thiển cận, phản khoa học, cũng là một thứ A.Q mới. Bất chấp lịch sử hiện thực đã diễn ra như thế, cứ nhất định phải, nên như thế như thế. Rất A.Q ở chỗ cứ lấy mình làm trung tâm. Sao không biện luận với người Pháp người Mỹ rằng nếu các ngài không xâm lược áp bức thì chúng tôi không phải đề kháng và cả hai bên được lợi ích đến như thế nào. Nếu các ngài không dùng vũ lực, thực lòng đàm phán hòa bình thì làm gì có Điện Biên dưới đất Điện Biên trên trời. Còn mượn Thánh Gandhi làm khuôn vàng thước ngọc thì hãy xem xét tình hình nội bộ Ấn Độ và thế giới từ 1945 đến 1949. Vào năm 1948 chắc chắn người Anh không mù tịt về tình hình ở Đông Dương và Trung Hoa lục địa. Chỗ này họ tỉnh hơn người Pháp. Và cần xem xét đến cả hôm nay: Cộng hòa Ấn Độ hôm nay cũng là một cường quốc quân sự. Họ phóng được vệ tinh lên vũ trụ – nghĩa là trình độ năng lực cao hơn tên lửa tầm xa mang đầu đạn các loại… Họ có hạm đội mạnh, tàu ngầm và không quân… Sao họ lại đi ngược lại lời răn của vị thánh, Người Cha của dân tộc họ, ngài Gandhi đáng kính.
Cuối cùng, mong nhà văn – nhà triết học – nhà sử học – nhà giải phẫu sinh lý bác sĩ Nguyên Ngọc không nên vận dụng chủ nghĩa đà điểu trong khoa học.

Hà Nội, những ngày tháng Tư 2015

Những câu “bất hủ”của Nguyên Ngọc 

“Trước đây, khi được giao trọng trách làm Bí thư Đảng Đoàn Hội Nhà văn VN, Nguyên Ngọc soạn cương lĩnh văn chương, bản“Đề dẫn” dâng lên“Đảng kính yêu” như sau:
“… Nói về phương hướng nội dung của Văn học trong thời kỳ mới hiện nay, chúng ta muốn trước hết tập trung vào con người. Con người mới ấy, như Đảng đã chỉ rõ, sẽ là kết quả tổng hợp cả 3 cuộc Cách mạng: Cách mạng quan hệ sản xuất, Cách mạng Khoa học Kỹ thuật, Cách mạng tư tưởng và văn hóa. Đảng cũng đã sớm chỉ ra cho chúng ta đó là con người lao động Việt Nam làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa… chủ nghĩa xã hội…”. Rồi gần đây, khi chủ trò tuyên bố lý do thành lập “Văn đoàn độc lập Việt Nam”, Nguyên Ngọc đã viết như sau:
“Sau năm 1975, kết thúc một thời kỳ lịch sử kéo dài hơn trăm năm, đất nước cần một cuộc phục hưng dân tộc căn bản, mà nền tảng là phục hưng văn hóa. Tiếc thay công cuộc cần thiết và nghiêm trang ấy đã không diễn ra như mong đợi. Trái lại văn hóa Việt Nam ngày càng suy thoái nghiêm trọng,
lộ rõ nguy cơ đánh mất những giá trị nhân bản căn cốt nhất, uy hiếp đến cả sự tồn vong của dân tộc…”
Và theo Nguyên Ngọc cái lý do chính yếu dẫn đến tình trạng đó vì:
“… Một xã hội như chúng ta đang có, trong đó cái quyền tự do cơ bản của con người thực tế bị vi phạm trầm trọng, đương nhiên đè nặng lên tâm lý sáng tạo của người cầm bút, làm mờ nhạt và tắt lụi các tài năng…”.
Và bây giờ, trong không khí cả nước sắp kỷ niệm 40 năm ngày 30-4 (30-4-1975 – 30-4-2015) – ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam – thống nhất đất nước, chúng tôi xin giới thiệu mấy câu của Nguyên Ngọc trong bài viết về Phạm Xuân Ẩn trên Vietnam.net cách nay không lâu, để bạn đọc càng hiểu thêm tâm địa của nhà văn“cấp tiến” này:
“Việc dạy sử không nên đặt ra mục đích đắp bồi chủ nghĩa yêu nước”… khi nói đến chủ nghĩa thì tức đã có ý đẩy tình cảm ấy đến thành cực đoan, thành chật hẹp, duy nhất, có màu sắc kỳ thị với những gì không phải là đối tượng yêu đó của mình. Không nên “sử dụng”…
“… Chúng ta tôn vinh các bà mẹ Việt Nam anh hùng từng có nhiều con hy sinh trong chiến tranh, là đúng thôi. Nhưng có lẽ cũng đừng làm quá. Còn có hàng triệu bà mẹ khác có con đi lính cho chính quyền miền Nam và ngã xuống. Mình làm quá các bà mẹ ấy sẽ tủi thân”.

Chu Giang