Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Thuật luyện đan của thầy Hữu Tá (*)

Tuy không được thụ giáo với thầy Trần Hữu Tá nhưng Thầy là bậc cao niên, tôi xin làm kẻ học trò mong Thầy mở lượng.

Thưa thầy: Bảo vệ độc lập dân tộc là quy luật lịch sử của người Việt Nam từ khi dựng nước đến nay. Đấy là giá trị văn hóa cao nhất, nhân văn nhất: Không có gì quý hơn độc lập – tự do. Vì vậy những người, những việc có công có tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc phải được ghi nhận, trân trọng. Những người, những việc làm lợi cho kẻ thù xâm lược, phương hại đến lợi ích dân tộc, dù bất cứ lí do gì đều phải xem xét nghiêm minh, có thái độ rõ ràng. Không thể vàng thau lẫn lộn, công tội ù xòe.

Các đạo sĩ ngày xưa có bí quyết bùa chú nào đó mà biến đất đá thành vàng ngọc, gọi là thuật luyện đan.

Thầy Hữu Tá ngày nay không biết có thuật luyện đan đến đâu nhưng có tài trộn lẫn. Với tiêu chí người Thầy – nhà văn, Thầy đã châu tuần được các bậc chí sĩ yêu nước, các nhà giáo tên tuổi lẫn những người vô liêm sỉ, thiếu tư cách, non kém về học thuật… vào chung một chiếu. Những thế hệ bạn đọc sau này ít có điều kiện nghiên cứu lịch sử sẽ bị ngộ nhận. Thầy đã phán, trò đâu dám không nghe. Vì vậy Năm Châu Đốc không ngại điều tiếng xin được thẳng thắn tỏ bày.

Trong Chân dung 25 năm người thầy – Từ bục giảng đến văn đàn, gồm các vị đã được lịch sử công nhận, khẳng định như Dương Quảng Hàm, Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Giản Chi, Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng… thì có những “người thầy” không xứng đáng như các vị Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Đăng Mạnh, Phong Lê. Xin lần lượt.

* Trương Vĩnh Ký (1837-1898) là người bẩm sinh cực kỳ thông minh, ham học và tự học, đã đạt đến tư tưởng ngữ học tiên tiến ở thời đại ông. Chúng tôi rất tán thành sự đánh giá của nhà Bác ngữ học Cao Xuân Hạo. Tư tưởng ngữ học của Trương Vĩnh Ký đã đi trước Phecdinăng de Sausuya 50 năm, và ngày nay vẫn còn có ý nghĩa trong nghiên cứu và giảng dạy Tiếng Việt. Ông cũng có công trong việc truyền bá chữ quốc ngữ, có công sưu tầm văn học cổ truyền của dân tộc như các tác phẩm văn học dân gian. Đặc biệt là đã chuyển ngữ bản Kiều Nôm sang chữ quốc ngữ, đến nay vẫn là tài liệu khảo cứu cần thiết. Đó là công lao, là đóng góp của Trương Vĩnh Ký. Nhưng tội của ông đối với công cuộc chống thực dân giải phóng dân tộc cũng không nhỏ. Về mặt này tư liệu, sở cứ lịch sử đã có quá nhiều, quá rõ. Nếu thầy Hữu Tá cái quan mà chỉ định luận có một phía, một nửa… thì làm sao gọi là có học thuật. Năm Châu Đốc xin thưa rằng những lí lẽ Thầy tôn vinh, bênh vực cho Trương Vĩnh Ký đều rất mong manh, non nớt:

1/ Trương Vĩnh Ký chưa bao giờ tham gia vào ngạch quan lại hành chánh do Pháp bổ nhiệm. Ông làm thông dịch, đặc biệt là dịch trong những đợt nghị hòa rất quan trọng… (Sđd, tr.12). Thế là Thầy chưa thạo môn cờ tướng bằng người Pháp. Với bậc kỳ thủ thì một con tốt cũng cao giá huống gì con xe. Hoài của mà giao cho một nhà bác học cái chức chánh hội đồng hay tỉnh trưởng. Vả lúc đó ít người Nam biết tiếng Pháp. Một viên thông dịch như Trương với người Pháp đáng giá hơn 10 viên đại tướng. Trương học giả và người Pháp cùng chung mục đích “Mở rộng nước Chúa”. Trong sự thất bại của phái đoàn Phan Thanh Giản không thể thiếu vai trò của Trương thông dịch, chỗ này các nhà sử học nên tìm hiểu. Khi ra Bắc kỳ (1876), Trương Vĩnh Ký khuyên sĩ phu Bắc Hà nên đầu hàng người Pháp vì họ mạnh lắm.

Thầy lại tự mâu thuẫn nữa. Họ Trương không nhận chức việc nào trong ngạch hành chánh của Pháp nhưng lại nhận chức Đại thần, sung Cơ mật viện, Hàn lâm viện thị giảng học sĩ… do Toàn quyền Paul Bert sắp đặt. Không vận com-lê cà-vạt nhưng vận triều phục đội khăn xếp, đeo thẻ ngà… thì có gì khác đâu. Chỉ là thay áo cho vai diễn như phường tuồng ý mà.

Thầy lại bảo “… nên có cái nhìn thỏa đáng về việc Paul Bert toàn quyền Đông Dương đặc biệt tín nhiệm Trương Vĩnh Ký cử ông phụ giúp vua Đồng Khánh, tham dự vào viện cơ mật, cơ quan trọng yếu của triều đình Huế. Không phải vì ông quá tận tụy, mẫn cán mà được Paul Bert tin dùng… mà vì Trương Vĩnh Ký đã quen thân với Paul Bert từ 23 năm trước!

Thầy ơi! Người Tây có câu: Hãy xem anh ta chơi thân với ai thì biết anh ta là người như thế nào! Paul Bert dù là giáo sư Đại học, Viện sĩ hàn lâm Pháp, nhưng khi sang làm Toàn quyền Đông Dương là để bảo vệ quyền lợi của nước Pháp. Tìm được bạn thân là người bản xứ giúp sức cho nước Pháp thì chẳng là nhất cử lưỡng tiện hay sao.

Về phía Trương học giả cũng có điều lắm. Kẻ sĩ tu thân trị quốc cho thiên hạ được an bình, coi việc nước làm trọng, dẫu gan óc lầy đất cũng không dám từ. Phải vì dân vì nước mà lo việc triều đình chứ sao lại vì tình bạn mà làm thân gái góa.

Ba là – như Thầy viết – tuy kề cận bên vua Đồng Khánh nhưng Trương Vĩnh Ký đã tập trung vào việc khai sáng tư tưởng, trí tuệ cho ông vua này. Không biết Trương học sĩ khai sáng thế nào nhưng Đồng Khánh là tên vua bù nhìn thân Pháp, theo Pháp đã bị phế bỏ. Còn ba việc Trương học sĩ kê cho Đồng Khánh cần làm gấp thì một việc là vô nghĩa, hai việc còn lại là có hại cho quốc dân trong tình hình bấy giờ. Nước đã mất, triều đình chỉ là bù nhìn thì năm mười điều khoán nói cho rõ quan hệ “nước mình với nước Pháp bảo hộ” chỉ là trò bịp trẻ con thôi.

Còn tổ chức “đào cho đông, làm cho mau” kinh Mang Cá ở Huế và làm đường cho mau ở Quảng Nam “cho tiện đường ra vô chuyên chở trong mùa khô này” thì lợi hay hại cho quốc dân. Xin Thầy xem lại đi. Bởi vì về sau này, người Pháp còn hòa hoãn với Hoàng Hoa Thám để làm xong đường sắt đi Vân Nam, đường xong rồi thì quay lại bao vây tiêu diệt Hoàng Hoa Thám.

Bốn là – Thầy viết – tuy làm việc cho Pháp nhưng Trương Vĩnh Ký đã được những đại thần, đồng thời là những người có nhân cách cao như Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ tin cậy, quý mến. Cái lý này nó hơi đuối Thầy ạ! Phan với Trương cũng là đồng thanh đồng khí thôi. Vả đã dâng thành cho giặc mà đầu hàng thì sao gọi là nhân cách cao được. Thế thì nhân cách của Phan Đình Phùng, Hoàng Diệu, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực… phải gọi như thế nào cho xứng. Còn với cụ Phạm Phú Thứ, Thầy nên cho tư liệu. Tin thì có thể vì cụ Phạm tuy làm Phó sứ nhưng không biết tiếng Pháp. Cả Phan chánh sứ cũng thế. Nếu không tin thông dịch thì tin vào ai! Về nhân cách cụ Phạm Phú Thứ, xin Thầy xem bài “Thừa Thiên phủ quân xá đại kế thuật hoài” có mấy câu này:

Giữ chức vụ mà không có kế sách gì hay thật rất hổ thẹn
Hỏi lòng mình thấy không dối trá được quả là khó
Chữa bệnh ngu may có sách vở làm thuốc
Giữa cảnh mưa gió trước đèn mở sách ra đọc.

(Cảm xúc tự thuật khi bị giam ở trại quân Thừa Thiên), Tạ Ngọc Liễn dịch. Xem 77 Chân dung văn hóa trong lịch sử Việt Nam (NXB Thanh niên, Hà Nội 2012, tr.349).

Thầy xem Cơ mật viên đại thần, Hàn lâm viện thị giảng học sĩ có được chút nhân cách nào để cụ Phạm Phú Thứ quý mến?

Thầy lại tỏ ra bị cầm tù, vọng ngoại về chữ quốc ngữ khi cho rằng: Chúng ta ngày càng cảm nhận sâu sắc đó là quà tặng vô giá “trời cho”, mà dân tộc ta đã nhận được một cách tình cờ… Trương Vĩnh Ký với tư cách giáo sư, sau đó là hiệu trưởng trường Thông ngôn và Sư phạm Sài Gòn, đã đưa chữ quốc ngữ thoát khỏi bốn bức tường kín của tu viện và đặt nó giữa lòng cuộc sống, trước hết là trong trường học. Đến với trường học có nghĩa là đến với tuổi trẻ, chủ nhân tương lai của đất nước (Sđd, tr.20).

Thầy vẫn dùng thuật luyện đan hay chưa nghiên cứu thấu đáo về lịch sử chữ quốc ngữ. Một đồng nghiệp, đồng sự của thầy, nhà Bác ngữ học hàng đầu thế giới, PGS Cao Xuân Hạo đã đánh giá đúng tài năng của Trương Vĩnh Ký đồng thời cho rằng chữ quốc ngữ do bị người Tây áp đặt – là một thảm họa không thể hoán cải. Thầy đã viết một bài dài, rất đằm thắm tôn vinh Giáo sư Trần Văn Giàu (Sđd, tr.101). Viết một bài như thế không thể đọc qua loa về GS Trần Văn Giàu và Thầy đã rất khôn khéo: chỗ nào có lợi cho việc tôn vinh Trương Vĩnh Ký thì thầy trưng ra. Như cái thư GS Trần Văn Giàu gửi GS Hoàng Như Mai về việc năm 1945, ông không cho đập phá tượng Trương Vĩnh Ký. Còn những chỗ GS Trần Văn Giàu vạch trần âm mưu của thực dân Pháp dùng chữ quốc ngữ để xâm lược, thống trị Việt Nam, bức tử chữ Hán Nôm, cắt đứt truyền thống văn hóa dân tộc mà lúc đó, chủ yếu là tinh thần đấu tranh chống xâm lược Pháp. Vào thời kỳ đó, giúp người Pháp phổ biến chữ quốc ngữ La-tinh là một tội lỗi đối với dân tộc. Vì mục đích truyền bá quốc ngữ từ Trương Vĩnh Ký cho đến Phạm Quỳnh là nhằm cột chặt nước Việt Nam vào nước mẹ Đại Pháp bằng cái dây thừng văn hóa. Mà trước hết là đào tạo ra tầng lớp trí thức trung thành với nước Pháp, tận tụy phục vụ cho chính quyền thực dân. Nếu thầy Tá không đọc bài “Chữ quốc ngữ La-tinh, từ vũ khí xâm lược thực dân, trở thành vũ khí đấu tranh giải phóng dân tộc” của GS Trần Văn Giàu (In trong quyển Luận về quốc học – Trung tâm nghiên cứu quốc học và NXB Đà Nẵng năm 1999, tr.178-201) thì không thể chấp nhận được. Có đọc mà lờ đi càng không chấp nhận được. Xin trích vài đoạn:

“Ở Nam kỳ, nghị định 22 tháng 2 năm 1869 của chính quyền đô đốc buộc Hương chức xã, công chức tỉnh chỉ được dùng chữ quốc ngữ để viết công văn đơn từ. Kể từ 1882, công chức phải biết chữ quốc ngữ mới được tăng lương. Kể từ 1886, phải biết chữ quốc ngữ mới được tuyển dụng”.

“Chúng ta sẽ được lợi cả về mặt thực tế nếu chúng ta dần dần tiêu diệt được cái chữ Nho mà việc sử dụng chỉ có thể đem lại một ảnh hưởng tai hại đối với công trình đồng hóa đang được chính phủ dồn sức thực hiện” (Thông tư 10-4-1878).

“Với những ai suy tôn Trương Vĩnh Ký như người “tiên phong” của văn hóa Việt Nam bằng chữ quốc ngữ thì ta trích dẫn vài đoạn sau đây của Bouchot. Nhằm tán dương công lao của Pe’trus Ký, Bouchot viết:

“Tất cả những gì ông đã dịch từ chữ Hán ra quốc ngữ đều không có mục đích nào khác hơn là làm cho người Nam chấp nhận mẫu tự La-tinh và giảm bớt dùng chữ Hán”… Việc đó của ông Trương Vĩnh Ký đáp ứng đúng với những yêu cầu mà các đô đốc, thống đốc đã từng bày tỏ ngay từ lúc Pháp mới chinh phục Nam kỳ…”.

Và GS Trần Văn Giàu đã khẳng định ở đoạn tiếp theo: “Chắc chắn là nhà bác học họ Trương có đẩy mạnh sự tiến bộ của chữ quốc ngữ, mà càng chắc là ông đã phục vụ đắc lực cho sự bình định của Pháp bằng việc dịch thuật và sáng tác với chữ quốc ngữ. Ảnh hưởng về sau của chữ quốc ngữ đối với phong trào dân tộc là một việc hoàn toàn ngoài ý của những kẻ sử dụng và truyền bá quốc ngữ La-tinh khi Pháp mới xâm lược và “bình định” (Sđd, tr.191).

Cho nên rất dễ hiểu, những người tuyên truyền quảng bá chữ quốc ngữ có lợi cho công cuộc xâm lược, bình định thì được Nhà nước Bảo hộ tài trợ, bảo đảm như tài chánh cho in ấn sách của Trương Vĩnh Ký, hay cho Đông Dương tạp chí (1913) và Nam Phong tạp chí (từ 1917-1934). Còn dùng chữ quốc ngữ để vận động tuyên truyền chống thực dân xâm lược thì bị đàn áp như Đông Kinh Nghĩa Thục. Hoặc như cụ Trần Quý Cáp, bị Pháp xử chém ngang lưng. Đây là một bài thơ của cụ Trần khuyến khích đồng bào học chữ quốc ngữ do GS Trần Văn Giàu dẫn lại:

Đấng làm trai đứng trong trời đất
Phải làm sao mở mặt non sông
Kìa kìa những bậc anh hùng
Cũng vì tuổi nhỏ học không sai đường
Cuộc hoàn hải liệt cường tranh cạnh
Mở trí khôn giàu mạnh dường bao
Người ta học vấn thế nào
Chẳng lo bỏ dại lẽ nào được khôn
Quốc ngữ là hồn trong nước
Phải đem ra tính trước dân ta
Sách Âu, Mỹ, sách China
Chữ kia nghĩa nọ dịch ra tỏ tường…

(1906)

Người Pháp có thể bốc Trương học sĩ lên hàng Đại bác học, vì có lợi cho họ. Nhưng họ nói thế thôi, chứ có cho Trương học sĩ léo hánh đến Viện hàn lâm Pháp đâu. Trong khi Phạm Thượng Chi còn được chiếu cố 15 phút đít-cua ở Ban Luân lý và chánh trị của Viện, với lý do đơn giản là “Ông đây nói được tiếng Pháp” và do một người bạn Pháp mối lái (Thượng chi văn tập – Thuật chuyện du lịch ở Paris. NXB Văn Học, H.2006, tr.1125).

Và tài giỏi đến đâu mà làm hại cho đất nước thì không thể bỏ qua được. Người tài thì đáng trọng, cần cù làm việc càng đáng trọng. Nghiên cứu sâu về Tiếng Việt và có tư tưởng ngữ học tiên tiến đi trước thời đại càng đáng trọng. Vì niềm tin tôn giáo mà trọng “Nước Chúa” hơn đất nước quê hương cũng đáng được thông cảm. Nhưng chơi thân với tên thực dân cáo già, đầu sỏ, cộng tác đắc lực với y ta thì không bỏ qua được. Khai sáng tư tưởng trí tuệ cho một ông vua là tay sai của Pháp thì đáng khen chỗ nào?

Việc cố GS Trần Văn Giàu không cho đập tượng Trương là thể hiện tinh thần nhân văn cách mạng. Tượng các nhân vật thực dân thì cho gửi Bà Thủy, còn tượng họ Trương thì để lại. Dù sao đó cũng là một đồng bào, là nhà giáo học có tài, và nó đã có rồi, nhiều người đã biết. Nếu lại đập bỏ thì cạn tàu ráo máng quá, giới trí thức sẽ lo ngại. Mà cách mạng thì đang mở rộng vòng tay đoàn kết. Việc làm của cố GS Trần Văn Giàu có ý tứ sâu xa. Vào thời điểm đó cố GS Trần Văn Giàu đang ở rất xa Cụ Hồ, nhưng tư tưởng và hành động rất gần gũi. Cụ Hồ mời được vua Bảo Đại, các thượng thư như Bùi Bằng Đoàn, khâm sai đại thần như Phan Kế Toại, vị tổng đốc khét tiếng Vi Văn Định… đi với kháng chiến thì sao lại kỳ thị với một nhà bác học đã quá cố, chỉ còn bức tượng biểu tượng. Tinh thần đổi mới, khoa học cách mạng là khép lại quá khứ, đoàn kết hướng tới tương lai chứ không phải là bới móc quá khứ, cắt xén xuyên tạc lịch sử, gieo mối nghi ngờ thù hận. Với Trương Vĩnh Ký hay Phạm Quỳnh, chúng ta nên theo tinh thần đó, Thầy ạ! Thế mà Thầy khen GS Phong Lê có công chiêu tuyết cho Trương Vĩnh Ký. Tuyết gì vậy Thầy? Tuyết tuyết hồng hồng hay Hồng hồng tuyết tuyết! (Sđd., mục Phong Lê, tr.305).

* Có sự phân tích dài về Trương Vĩnh Ký, vì đây là nhân vật tiêu biểu. Cũng tiêu biểu cho phương pháp tư duy và quan niệm học thuật của Thầy Hữu Tá. Vì thế, các trường hợp khác chỉ cần lướt qua, nhắc lại đôi chút, Quý Thầy và bạn đọc cũng sẽ thông chuyện.

* Về GS Nguyễn Đăng Mạnh, xem bài Về Hồi ký của Nguyễn Đăng Mạnh, in trên Hồn Việt số tháng 12-2008. In lại trong Luận chiến văn chương, Quyển II, NXB Văn học, H.2012. Cho đến nay hồi ký này vẫn lan tràn trên các trang mạng trong và ngoài nước, nhưng GS Nguyễn Đăng Mạnh không có nửa lời trách nhiệm. Lượm lặt tin vịt rồi hóng hớt vỉa hè bịa chuyện xuyên tạc để tầm thường hóa, khinh thường lãnh tụ, vị anh hùng dân tộc, bậc danh nhân văn hóa mà thế giới đã tôn vinh, trong khi vẫn nghiễm nhiên thụ hưởng bổng lộc, giải thưởng, danh vị… là một hành xử rất vô liêm sỉ, sao có thể tôn là Người Thầy trong thiên hạ được! Đã là Thầy phải mô phạm chứ! Chế độ này sẽ sụp đổ theo dự báo của Nguyên Ngọc mà GS Nguyễn Đăng Mạnh hay nhắc lại. Nhưng theo kịch bản nào? Có thể theo kịch bản là các thế hệ học trò yêu của GS Nguyễn Đăng Mạnh nắm được quyền lực chính trị và tinh thần ở đất nước này, cùng với sự tôn vinh, ủng hộ như cách dựng “chân dung” của Thầy Hữu Tá. Chúng tôi kính trọng tuổi tác của GS Nguyễn Đăng Mạnh. Năm nay giáo sư đã sang tuổi 87 – nhưng học thuật – sách vở – giấy trắng mực đen còn đó…

* Thầy quá yêu bạn mà tặng cho GS Nguyễn Đăng Mạnh danh hiệu chuyên gia xuất sắc về Văn học Việt Nam hiện đại. Phải nói GS Mạnh có công trong việc sưu tập biên soạn các Tuyển tập và sau đó là Toàn tập Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân và đồng sưu tầm biên soạn các tập 35A-35B trong bộ Tổng tập văn học Việt Nam từ khởi thủy đến Tuyên ngôn độc lập do GS Đình Gia Khánh làm tổng chủ biên. Người có công ta phải trân trọng. Như thầy giáo dạy ta hồi lớp đồng ấu. Cái công cũng đáng kể lắm. Còn cái chất, xuất sắc đến đâu, cũng phải chờ xem thời gian và dư luận. Nói dài dòng về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân rồi kết lại ở chữ NGÔNG thì lầm quá lắm. Ngông là một nét tính cách, đâu phải phong cách. GS Trần Hữu Tước, bạn tri âm của Nguyễn Tuân nhận xét: “Ông gì (Nguyễn Đăng Mạnh thì phải) chỉ nói lên được một vài khía cạnh ông Nguyễn, phải chăng do cá nhân ông ấy còn dè dặt, hay do ông Nguyễn còn sống” (Ngọc Trai. Trò chuyện với nhà văn Nguyễn Tuân. NXB Hội Nhà Văn. H.2010, tr.172). Đúng và rất đúng như thế. Sau khi Nguyễn Tuân qua đời, Nguyễn Đăng Mạnh viết Hồi ký, mượn miệng Nguyễn Tuân chửi bới thiên hạ cực kỳ thậm tệ với thứ ngôn ngữ mà sinh thời Nguyễn Tuân không bao giờ nói.

Còn Tư tưởng nghệ thuật của nhà văn, là diễn giải lại tư tưởng của Bielinxki (Nga). Cái hay cái quý nhưng khó phân tích đối với một nhà văn lớn là phong cách. Tư tưởng nhân văn từ Đỗ Phủ đến Nguyễn Du, đồng thời như Vũ Trọng Phụng với Nguyễn Tuân là thống nhất với nhau nhưng phong cách nghệ thuật của họ khác nhau lắm. Cái này, chuyên gia Nguyễn Đăng Mạnh chưa tới được (Lê Tuấn Anh. Cuộc đời và Trang viết. NXB Văn Học. H.2006).

* Về “Người Thầy” Phong Lê, chúng tôi đã có loạt bài viết trên Văn nghệ TP.Hồ Chí Minh các số 385 – 387 – 392 năm 2016. Tiếc là Thầy Trần Hữu Tá quá hạn chế về sự đọc. Nếu theo dõi hoạt động của ông chủ tịch Hội Kiều học, xem qua thôi các ấn phẩm Truyện Kiều và tạp chí Cõi người ta tập I, xuất bản cuối năm 2015 và đầu năm 2016 thì thấy rất rõ vị Giáo sư chánh hội Kiều này học thuật nông cạn, làm việc cẩu thả, xu thời… chỉ có chuyện tôn vinh câu nói của Phạm Quỳnh mà cứ nửa dơi nửa chuột. Hết mượn lời Thầy Chú (Cõi người ta. Hội Kiều học và NXB Hồng Đức ấn hành. Phong Lê chủ biên H.2016, tập I, tr.145); lại mượn lời NXB Trẻ, lúc thì gán cho các học giả hồi đầu thế kỷ, lúc thì mượn Lời nói đầu (Truyện Kiều. Hội Kiều học và NXB Trẻ 2016, bản in sau). Cuối cùng thì phạm cả vào tác quyền của cụ Phạm, lại biện hộ rằng do thời điểm… (Tạp chí THƠ tháng 11/2015). Học thuật là của chung thiên hạ, sao cứ phải quanh co lắt léo. Người thầy mà như thế thì học trò sẽ như thế nào!

Có thể nói GS Phong Lê chịu khó làm việc, ham công tiếc việc… chứ cần mẫn, nghiêm cẩn thì chưa. Người cần mẫn nên nhớ chữ mẫn chuyên cần nhưng không bừa ẩu, cẩu thả nôm tạm. Nghiêm cẩn thì còn cao hơn. Một lời một chữ cũng phải thận trọng, tôn trọng người đọc, tự trọng với mình. Không nói lấy được, viết lấy được, năng nhặt chặt bị… như chỗ 3.200 vạn chữ (Kiều) đến 3.254 câu với 22.778 chữ gần như tất cả cứ mới mẻ, cứ nguyên vẹn, cứ tinh khôi như thế mà có ở khắp cửa miệng mọi người dân Việt suốt hơn 200 năm qua… (Phong Lê. Tạp chí Thơ, số tháng 11-2015, tr.53). Đó là thứ văn tán tụng ngây ngô đâu phải văn nghiên cứu cần mẫn, nghiêm cẩn. Đọc Kiều mà thấy… tất cả cứ mới mẻ, cứ nguyên vẹn, cứ tinh khôi… là cái thứ đọc nịnh đầm, đọc vẹt, thuộc như cháo chảy mà không hiểu gì cả. Nên mới nói: “Cuộc đời Nguyễn Du đầy yếm thế…” Cố GS Nguyễn Tài Cẩn trở đi trở lại mấy năm trời để hiểu hai chữ song viết. Nhà bác ngữ học Cao Xuân Hạo đã có hẳn một bài khảo cứu công phu, uyên bác, đầy thuyết phục về hai chữ Trăm năm mở đầu Truyện Kiều. Nó không mang cái nghĩa trong khoảng thời gian một đời người như chú giải của Hội Kiều học đâu (Xem Cao Xuân Hạo. Tiếng Việt -Văn Việt – Người Việt. Bản in lần thứ 3. NXB Trẻ, TP.HCM năm 2003). Một người nghiêm cẩn không đi khoe viết bài khảo cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều chỉ từ chiều 29-9 đến sáng 30-9-2015. Kể cũng khéo. Chiều 29-9 có thể từ 13 giờ đến 17 giờ mà sáng 30-9 cũng có thể hiểu từ 5 giờ cho đến 11 giờ 59 phút 59 giây (tức là trước giờ Ngọ một tích tắc). Có thể lạm dụng bạn đọc đến 10 giờ (600 phút). Ấy là chưa kể đêm đó, chong đèn thức trắng hay có ngả lưng ít nhiều. Gần bát tuần (78 xuân xanh) mà thức được trắng đêm để nghĩ suy, để viết, rồi đọc đi đọc lại, sửa lỗi chính tả… thì quả là “cổ lai hi”, cường ký lắm! Thầy ạ! Sự khen mà quá lời cũng làm khổ ngươi lắm.

Cuối cùng xin thưa với Thầy Tá thế này: Thầy xếp Trương Vĩnh Ký tiếp theo Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Đình Chiểu, Võ Trường Toản… là một trong những người thầy tiêu biểu của nền giáo dục Việt Nam… (Sđd, tr.21). Không hiểu Thầy viết đoạn văn trên trong trạng thái tâm thần thế nào. Cứ giấy trắng mực đen thì thật là làm ô uế cho tất cả các cụ. Thầy ở trong Nam đã lâu ngày, có đến thăm mộ cụ Võ Trường Toản chưa? Có tìm hiểu sự tích về cụ chưa? Hồi Phan Thanh Giản và triều đình để mất 3 tỉnh miền Đông, các học trò không nỡ để Thầy nằm ở mảnh đất với bọn cướp nước, nên đã rước hài cốt Thầy chạy về miền Tây. Cụ Nguyễn Đình Chiểu dẫu mù lòa khó khăn, không thèm nhận trợ cấp của quân giặc. Nguyễn Bỉnh Khiêm không tự trói mình theo Mạc Đăng Dung sang cầu viện thiên triều. Cụ Chu Văn An dâng “Thất trảm sớ” nhà vua không nghe theo, cụ lui về dạy học… còn Trương Vĩnh Ký đã làm gì, thưa Thầy!

Thầy cũng như thầy Mạnh, thầy Phong Lê, có đông học trò qua nhiều thế hệ. Có phải vì thế mà phương pháp luận khoa học của các Thầy không hẹn mà gặp, rất giống với cụ Phạm Thượng Chi: Nói rút lại, muôn sự ở đời đều lấy sức mạnh mà giải quyết hết, công lý công nghĩa chẳng qua là những tiếng khẩu đầu… bên nào nhiều người theo là bên ấy được. Nhiều người há chẳng phải là sức mạnh dư? (Thuật chuyện du lịch ở Paris, Thượng chi Văn tập, NXB Văn Học, H.2006, tr.1107-1108).

Kể cũng ghê gớm, nhưng thưa Thầy, đương thời các cụ Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Đình Chiểu, Võ Trường Toản… có mạnh đâu, có đông đâu. Cho nên hiện thời dù các Thầy có đông học trò, cũng mong nghĩ đến công lý, công nghĩa!

Năm Châu Đốc cung kính tha thiết được Thầy chỉ giáo.

Phố núi Gia Lai, tháng 3 Tây lịch 2016
Nhằm ngày Rằm tháng 2 Bính Thân

Năm Châu Đốc
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 396

T.B: Thầy Trần Hữu Tá có bài rất dài rất tình nghĩa với GS Nguyễn Khắc Phi. Quả là con người siêu vĩ đại. Vì Tổng biên tập NXB Giáo dục, với Khối lượng sách xuất bản hàng năm nhiều và Khó như thế, nếu không biết cách tổ chức công việc, sẽ bị kiệt sức hoặc rối tung rối mù. Thế mà GS lo trọn vẹn, lại trước tác được rất nhiều. Quả là điều kì diệu. Năm Châu Đốc giải mã được điều kì diệu này khi đọc “Ngữ văn 9 chưa chín” của Chu Giang trong Luận chiến văn chương quyển Ba. NXB Văn học, 2015. Nếu tất cả đều như thế là một thảm họa cho nền giáo dục. Cầu mong không phải như thế. Bởi GS Nguyễn Khắc Phi là Tổng chủ biên Ngữ văn 9. Tái bản lần thứ 9. Lưu chiểu tháng 1/2014.

———————–

(*) Từ bục giảng đến văn đàn – Chân dung 25 Người Thầy – Trần Hữu Tá, NXB Trẻ. Quý I-2016.

Ý Kiến bạn đọc