Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Thưa thầy “cơm lại chấm cơm”

Nói đến tình trạng thừa tiến sĩ, thiếu kẻ sĩ, chúng tôi không có ý cào bằng tất cả. Vẫn có nhiều vị có thực tài, có năng lực xứng đáng với học hàm học vị của mình. Họ miệt mài hăng say nghiên cứu khoa học. Coi học vị chỉ là một bước trong cuộc đời nghiên cứu khoa học. Đài truyền hình gần đây đưa phóng sự về Giáo sư Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ – Phạm Thị Ngọc Phượng, người đã đem lại niềm vui cho rất nhiều gia đình. Tập thể do giáo sư lãnh đạo chắc chắn có nhiều tiến sĩ tài năng. Người hàng xóm tôi mới quen biết ở Gia Lai vừa khoe con gái, vừa trân trọng ghi nhớ công ơn của Giáo sư Phú – Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế, cách đây mấy năm đã mổ tim cho con gái anh thành công. Ông và kíp mổ của bệnh viện là kíp mổ đầu tiên toàn người Việt, đã ghép tim thành công. Một kíp mổ như thế phải có nhiều phụ tá giỏi trong đó có những tiến sĩ, thạc sĩ. Gia đình của Giáo sư – Bác sĩ Tôn Thất Tùng và con là Tôn Thất Bách; gia đình Nhà văn Vũ Ngọc Phan – Hằng Phương và các con là Giáo sư – Họa sĩ Vũ Giáng Hương, Giáo sư – Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng, cố Giáo sư Lê Cao Đài, con rể, chồng họa sĩ Vũ Giáng Hương, vị sáng lập và là chủ tịch đầu tiên của Hội Bảo trợ nạn nhân chất độc da cam; rất nhiều vị khác ở tất cả các ngành, các lĩnh vực xã hội khác… có thể tôn vinh là những kẻ sĩ Việt Nam hiện đại.

Ở các thế hệ sau, tôi biết nhiều vị sau khi bảo vệ luận án Tiến sĩ, đã thực sự đi vào con đường khoa học, có tác phẩm, công trình được dư luận chú ý như Tiến sĩ Trần Huyền Sâm đã dịch Văn chương lâm nguy của Tôđôrốp, các Tiến sĩ Hồ Thế Hà (Đại học Huế); Trần Hoài Anh, Phạm Ngọc Hiền (Thành phố Hồ Chí Minh)… đã trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam… và còn biết bao nhiêu vị khả kính khác.

Chúng tôi muốn lưu ý luận điểm của nhà văn Chu Văn Sơn là một ngộ nhận rất lớn. Bây giờ để trở thành nhà văn cũng không phải khó khăn lắm. Vì các tổ chức, các đoàn thể văn học từ trung ương đến địa phương có biết bao nhiêu là hội viên. Đâu cứ phải hội viên Hội Nhà văn Việt Nam – Hội Trung ương – mới là nhà văn. Ấy là chưa kể tự phong hoặc phong tặng cho nhau. Có nhiều tác giả đã xuất bản nhiều tập văn, tập thơ nhưng vẫn khẳng khái không nhận danh hiệu nhà thơ, nhà văn… Nhưng nhà văn kẻ sĩ là một đẳng cấp khác. Phải là kẻ sĩ rồi mới mong là nhà văn kẻ sĩ. Mà kẻ sĩ là một danh hiệu cao quý, một nhân cách lớn, dẫu là trước tác đẳng thân cũng chưa hẳn đã đến được.

Nhà văn – dịch giả Ông Văn Tùng, năm nay tròn 80 tuổi, Giải thưởng Nhà nước về văn học – nghệ thuật, viết: “Phẩm chất của kẻ sĩ cao hơn cái chữ lắm thay” (Nhàn đàm, sđd.  trang 79).

Anh-minh-hoa---Thu-thay-com-lai-cham-com

Ý kiến của nhà thơ Đỗ Trung Lai nêu lên vấn đề xã hội đang quan tâm, rất bức xúc. Nhiều cơ quan ngôn luận đã lên tiếng, như chúng tôi đã dẫn ra từ mấy năm trước. Xem VN TP.HCM, số 414 ngày 11/8/2016. Trên báo Pháp Luật Việt Nam cơ quan của Bộ Tư pháp, số 129 ra ngày 8/5/2016 đăng phóng sự Ngán ngẩm như tiến sĩ “cơm chấm cơm” của tác giả Nguyễn Mỹ, thì tình hình không còn là bi hài nữa mà là rất nghiêm trọng. Bài báo dẫn quan điểm của giáo sư Phạm Tất Dong, Phó chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam nguyên Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương như sau:

Thứ nhất: Không có kế hoạch dài hạn về đào tạo. Ví dụ: Không có thống kê đến năm 2020 mỗi ngành cần bao nhiêu tiến sĩ, thạc sĩ. Cho nên đào tạo có thể thừa có thể thiếu… Hiện tại, học viên tốt nghiệp đại học trình độ kém, không có việc làm, học viên thường làm luôn thạc sĩ, làm thạc sĩ xong lại lên tiến sĩ. Tất nhiên một số người làm thạc sĩ có việc làm nhưng muốn lên cương vị nào đó thì tiếp tục làm lên tiến sĩ… Vấn đề này đã trở thành một thị trường lớn, trong khi đó chỉ tiêu các trường cử tuyển.

Thứ hai: Chính là từ ông thầy kém… Bộ nắm con số tổng chỉ tiêu đào tạo tiến sĩ nhưng không nắm được những ai là người đào tạo ra số này. Chính vì vậy, có những người trong vòng mấy năm đào tạo, hướng dẫn mấy chục thạc sĩ, tiến sĩ.

Thứ 3: Bộ Giáo dục – Đào tạo không nắm chắc được các hội đồng vì thực tế nhiều nơi đào tạo nhưng không đủ người đúng chuyên môn để chấm luận án…

Theo giáo sư Dong là do nước ta không đủ sức làm việc này, nên có khi trong một hội đồng có tới 3, 4 chuyên môn khác nhau.

Thứ tư: Chính sách đối với người hướng dẫn, người chấm luận án còn quá rẻ mạt. Do đó nhiều người được giao cũng chỉ làm cho xong.

Có lẽ do nguyên nhân này mà tác giả bài báo cho biết:  Theo chia sẻ của nhiều giáo sư, sự thật là làm luận án tiến sĩ rất tốn, tốn những khoản ngoài luận văn. Tôi có hỏi một học trò của mình, cô ấy  cho biết,  ra hội đồng cơ sở thôi cũng phải chuẩn bị 50 triệu. Tôi không biết thực hư thế nào, nhưng thực tế tôi thấy tốn ở chỗ này. Nhà nước lẽ ra phải trả tiền cho những người làm phản biện. Nhưng nhà nước trả nhỏ giọt không đáng bao nhiêu nên nghiên cứu sinh rất sợ điều này. Khi mang luận văn đến người chấm phải nhét phong bì vào thầy có trả lại có khi nghiên cứu sinh lại hoảng, lại nghĩ đưa ít quá, phải đưa nhiều hơn…

Theo Bộ Giáo dục – Đào tạo năm học 2014-2015,  tổng quy mô đào tạo tiến sĩ trên cả nước lên tới 10.352 nghiên cứu sinh…  như thế là quá tải.

Mặc dù Bộ Giáo dục – Đào tạo có quy chế đào tạo, từ 2009, lại đang có dự thảo quy chế mới để thay cho quy chế hiện hành…

Thế nhưng, theo nhận xét thẳng thắn của nhiều chuyên gia, chất lượng đào tạo tiến sĩ hiện nay rất thấp, bởi cách đào tạo không khác gì tại chức… Một phó giáo sư công tác tại trường đại học hàng đầu ở Hà Nội cho rằng: “Quy chế đào tạo tiến sĩ của Bộ Giáo dục – Đào tạo nhìn qua khá chặt chẽ, nhưng có lẽ học tiến sĩ bây giờ là dễ nhất trong các bậc học…”.

Bài báo cho biết, hiện nay Bộ Giáo dục – Đào tạo có quy định sẽ thẩm định xác suất 10% luận án.

Nhưng nếu không thay đổi quan điểm đào tạo tư tưởng học tập và đào tạo thì có thẩm định 100% cũng không giải quyết được vấn đề mà chúng tôi sẽ nói dưới đây.

Trở lại ý kiến của nhà thơ Đỗ Trung Lai, đào tạo tiến sĩ một cách thật sự để tiến sĩ là tiến sĩ cho chính danh, xứng danh với học vị đã là nan giải, nói gì đến kẻ sĩ!

Song thực tế đã như thế thì nan giải đến đâu cũng phải tìm cách giải quyết. Dưới đây chỉ xin nêu mấy suy nghĩ.

1. Không nên đưa học vị khoa học – tiến sĩ hay thạc sĩ – vào tiêu chuẩn, quy phạm tuyển chọn nhân sự, đề bạt, bổ dụng, đãi ngộ (lương, thưởng)…

Việc tuyển chọn nhân lực thì có học lực đại học là cao lắm rồi. Qua phỏng vấn khi giao việc thử việc thử thách một thời gian sẽ bộc lộ rõ năng lực để sử dụng. Tiêu chuẩn bằng cấp học vị chỉ là hình thức không phản ánh đúng con người thực, khả năng thực.

2. Không nên đưa ra các chỉ tiêu, quy hoạch đào tạo các học vị khoa học. Chỉ trong quá trình lao động, hoạt động cụ thể người có khả năng nghiên cứu khoa học, phát minh sáng tạo… thường là có công trình, sản phẩm ban đầu, mới được đưa vào diện đào tạo, bổ túc, nếu đạt được học vị thạc sĩ là họ bắt đầu bước vào con đường khoa học.

Học vị tiến sĩ là khẳng định năng lực nghiên cứu khoa học ở bậc cao, có công trình cụ thể nhất định. Sau khi được đánh giá, khẳng định, họ tiếp tục con đường khoa học cho đến trọn đời. Khác với bằng đại học, do học đến ngưỡng đó, qua kiểm tra, thi cử mà đạt được. Học để làm tiến sĩ là trái với khoa học. Là hạ cái khả năng nghiên cứu phát hiện tri thức mới xuống hàng học để tiếp thu tri thức đã có. Nghiên cứu sinh khác với sinh viên, học sinh ở chỗ đó. Bảo vệ học vị khoa học trước tiên là bảo vệ công trình nghiên cứu khoa học cụ thể, trong quá trình đó, nghiên cứu sinh cần phải bổ túc phần nào và hướng dẫn bổ túc như thế nào là công việc của người hướng dẫn khoa học. Nghiên cứu sinh bắt buộc phải trải qua hoặc, kết hợp nghiên cứu khoa học với hoạt động thực tiễn trong phạm vi của mình mà hình thành đề tài nghiên cứu để đạt được học vị khoa học.

Việc đưa ra chỉ tiêu số lượng, quy hoạch đào tạo tiến sĩ thi tuyển nghiên cứu sinh là hoàn toàn hình thức. Đã là hình thức đơn thuần thì có nhiều cách để đạt được, đến được, không bắt buộc phải có thực học, thực tiễn hoạt động. Đó chính là thực trạng như giáo sư Phạm Tất Dong đã nói: Tốt nghiệp đại học đã rất kém, không có công ăn việc làm, lại làm luôn thạc sĩ, rồi làm luôn tiến sĩ… nghĩa là chỉ học mà thành nhà khoa học, không phải qua hoạt động thực, nghiên cứu.

Cái học đó, các cụ xưa gọi là học vẹt. Thứ tiến sĩ đó, cụ Yên Đổ đã có bài thơ vịnh “Tiến sĩ giấy”.

Cũng bằng, cũng mũ cũng xênh xang… (Chu Giang)

Do đó, số lượng đào tạo tiến sĩ phải được hình thành trên cơ sở thực tiễn hoạt động khoa học, cụ thể là trong  các ngành, các lĩnh vực xã hội, trong lao động sản xuất hay quản lý xã hội. Vì nghiên cứu khoa học là hành động tự nguyện và phải có năng lực thực sự. Không phải cứ đi học mà thành được nhà khoa học, dĩ nhiên, nhà khoa học trước hết phải làm một học trò giỏi, thông minh, có tư duy độc đáo. Số lượng tiến sĩ hiện nay đã nhiều, nhất trong các nước Đông Nam Á. Liệu còn quy hoạch thêm bao nhiêu nữa? Và để làm gì khi năng suất lao động lại kém vào hạng nhất khu vực.

3. Đội ngũ hướng dẫn nghiên cứu khoa học. Hội đồng chấm luận án

Đây chính là phần then chốt quyết định chất lượng đào tạo các học vị khoa học. Báo Pháp Luật số đã dẫn gọi là tình trạng “cơm chấm cơm”. Theo giáo sư Phạm Tất Dong là do nước ta không đủ sức làm việc này nên có khi trong một Hội đồng có tới ba, bốn chuyên môn khác nhau” (Báo đã dẫn, trang 3, cột 2).

Vấn đề rất quan trọng này liên quan đến quy chế, tiêu chuẩn phong học hàm giáo sư và phó giáo sư. Nó cũng liên quan trực tiếp đến quy chế hướng dẫn khoa học và hội đồng chấm luận án. Một tiến sĩ sau khi bảo vệ xong học vị, phải trải qua thời gian hoạt động khoa học như thế nào, có công trình tiếp theo như thế nào thì được giao hướng dẫn khoa học cho nghiên cứu sinh? Hội đồng chấm luận án phải như thế nào? Cuộc bảo vệ luận văn nên để trong diện hẹp và đơn giản hay nên mở rộng cả thời gian và không gian, cho giới khoa học có quan tâm đến đề tài tham dự và phản biện, hay chất vấn, hay nêu ý kiến? Chỉ nên trong một buổi sáng mà bao gồm được tất cả, từ khai mạc cho đến tặng hoa chúc mừng, chụp ảnh, quay phim, bình luận hành lang nâng lên đặt xuống? Trong thời hạn bảo vệ thạc sĩ (3 năm), tiến sĩ (5 năm), một phó giáo sư và giáo sư đương tại chức nên hướng dẫn bao nhiêu nghiên cứu sinh thì vừa sức. Cũng hàm ngạch đó, nhưng đã về hưu, thời gian rỗi rãi nhưng sức làm việc không còn như trước thì hướng dẫn bao nhiêu học trò là vừa sức, để bảo đảm chất lượng. Nếu để tiếp tục tình trạng như hiện nay, Viện nọ trong hai năm đào tạo tới 700 tiến sĩ; hay như một vị, trong vòng mấy năm hướng dẫn đến mấy chục thạc sĩ, tiến sĩ… thì nhắm mắt lại cũng nhìn thấy chân dốc!

Đào tạo khoa học, nghiên cứu khoa học rất ít gắn với thực tiễn đời sống, với nền sản xuất, nền kinh tế của đất nước. Một xứ sở nhiệt đới, nông sản phong phú quanh năm bốn mùa nhưng công nghiệp chế biến như thế nào? Đất nước nông nghiệp nông dân mà cứ được mùa rớt giá, được giá mất mùa, phụ thuộc vào thị trường nước ngoài. Nghe nói ở Hoa Kỳ, ngô được chế biến ra đến hơn chục thứ thực phẩm. Còn mình chỉ có một ít luộc, một ít nướng, còn một ít rang bơ, đồ xôi… còn chủ yếu là cho heo. Từ vang nho Đà Lạt có thể mở rộng ra cho vải thiều, cam, chanh, mơ, mận, xoài, thơm, ít ra là đủ dùng cho nội địa. Cứ phải uống rượu ngoại mới thành bản sắc Việt Nam chăng? Những hàng tiêu dùng thông thường nhất, đơn giản nhất cũng phải nhập ngoại… trở thành thị trường tiêu thụ, thành công xưởng gia công cho nước ngoài, thành bãi rác công nghiệp cho các nhà đầu tư nước ngoài, với tâm lý vọng ngoại thì bao giờ có được nền kinh tế tự chủ?

Những vấn đề nêu trên chỉ là biểu hiện ra bên ngoài. Là các hiện tượng. Gốc rễ của vấn đề là ở quan điểm đào tạo, triết lý  đào tạo, tư tưởng đào tạo, vấn đề phải giải quyết ngay hiện nay là thương mại hóa giáo dục. Nếu để quy luật thị trường chi phối giáo dục – đào tạo thì tương lai đất nước dân tộc sẽ như thế nào? Từ năm  2011, trong tác phẩm Phê bình và tiểu luận văn học, giáo sư Mai Quốc Liên đã cảnh báo: “Không thể thương mại hóa giáo dục. Mất giáo dục là mất tất cả. Vừa rồi, nhà văn – dịch giả Ông Văn Tùng cũng cho rằng: Giáo dục mà hỏng là hỏng cả (Nhàn đàm, sđd, trang 372). Rất dễ hiểu giáo dục và đào tạo con người là trồng người (kế trăm năm không gì bằng trồng người – Quản Tử).

Cùng với 77 trường đại học tư thục, cách thức đào tạo khoa học như giáo sư Phạm Tất Dong và tác giả bài báo đã nêu, thì đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, đào tạo cao học, trên đại học… đã bị thương mại hóa, tuy chưa phải là tất cả. Nếu qua quan hệ thương mại mà có bằng cấp thì là trở lại thời kỳ Lê mạt, thời Nguyễn mạt, thời của tiến sĩ giấy.

Thời đại toàn cầu hóa, hòa nhập quốc tế (thực ra là phải hòa nhập vào thị trường quốc tế. Không muốn nhập vào cũng bị cuốn vào). Nhưng vận dụng, xử lý như thế nào là vấn đề cấp thiết đang đặt ra.

Bảo rằng các nước phát triển giàu có, họ có điều kiện đầu tư, chất lượng đào tạo cao. Cũng đúng. Vậy thì còn nghèo, cần phải chắt chiu, vượt khó vươn lên. Cái khó phải ló cái khôn. Không để cái khó bó vào yếu kém, ngu dại…

Nếu đã thị trường thì phải ngang giá. Nhưng thực tế là không ngang giá. Tiền mất tật mang. Kinh nghiệm không thiếu. Các nước ngoài đã theo cách Lã Bất Vi, mua trí khôn, mua chất xám của người Việt Nam qua hình thức học bổng du học ngay từ cấp tiểu học…

Giải quyết thực trạng “thị trường hóa, cơm chấm cơm” chủ yếu lại không phải ở cơ sở vật chất, ở đồng tiền, nguồn vốn, mà là ở con người, ở phẩm chất kẻ sĩ của cả thầy và trò. Khổng Tử bậc vạn thế sư biểu, nếu chờ thu đủ học phí, chắc ông không còn thời giờ để dạy học trò. Hàng nghìn học trò chứ đâu có ít. Ở trong nước, gần đây nhất Đông Kinh Nghĩa Thục là một tấm gương lớn, một bài học quý. Với tôn chỉ mục đích dạy làm người, học làm người để cứu dân cứu nước. Không những không thu học phí mà còn cấp học bổng, giấy bút cho học sinh. Tiếp đến là Hội truyền bá quốc ngữ do cụ Nguyễn Văn Tố, nguyên Phó chủ tịch Quốc hội, đã hi sinh trong kháng chiến chống Pháp làm hội trưởng. Tìm người mà dạy. Giáo viên tự nguyện không có lương. Đến phong trào Bình dân học vụ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945… và giáo dục trong thời chiến tranh cứu nước. Đương nhiên là nội dung giáo dục ở các thời kỳ đó khác bây giờ. Song tinh thần, phẩm chất của những phong trào đó vẫn là tấm gương sáng ngời, quý báu cho giáo dục – đào tạo hôm nay. Thiết tưởng đó là con đường, là phương hướng để càng nhiều tiến sĩ càng nhiều kẻ sĩ; con đường trở thành nhà văn kẻ sĩ. Nhưng vấn đề này vượt quá khả năng người viết. Là lĩnh vực của Viện Khoa học giáo dục, của Viện nghiên cứu Hán – Nôm của Khoa Di sản văn hóa dân tộc và nhân loại.

Chút tâm sự ngây thơ của hạng cổ lai hy, mong được các bậc cao minh lượng tình chỉ bảo thì đội ơn vô cùng.

Gia Lai mùa mưa
Tiết Vu Lan năm Bính Thân 2016

Chu Giang
(Xem từ các số báo Văn nghệ 413, 414 và 415)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 417

Ý Kiến bạn đọc