Góc nhỏ Sài Gòn

Thong dong mà sống!

 

Cách đây mười mấy năm, khi tôi khăn gói lên Sài Gòn học đại học, bà Bảy gần nhà bảo tôi ráng học, kiếm thiệt nhiều tiền để ba má tôi bớt khổ. Chàng thanh niên 18 tuổi, đen đúa, gầy gò là tôi lúc đó nung nấu trong mình biết bao hoài bão, dự định. Ở quê tôi, hai tiếng đại học xa xôi lắm, xa như ánh đèn trong câu hát “Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ” mà bà Bảy vẫn hát ru cháu. Bởi vậy, khi tôi có giấy trúng tuyển đại học, bà con chòm xóm ai cũng vui mừng, cũng nghĩ rằng đời tôi sau này hết nhọc nhằn, hết lội ruộng, chân hết đóng một lớp phèn như ba như má.

Thời sinh viên, những đêm hè nóng nực không chịu nổi, chúng tôi thường rủ nhau đi dạo một vòng rồi về ngủ. Chúng tôi thường nói với nhau về những dự định, những ấp ủ của mình khi rời ghế giảng đường. Đứa mong về quê khởi nghiệp, đứa thì bằng mọi cách phải bám trụ lại… Còn tôi, giấc mơ đổi đời lúc nào cũng cháy trong ngực. Nhìn những ngôi nhà cao tầng, nhìn cuộc sống sung túc của người Sài Gòn tôi luôn mong muốn bản thân mình sớm được như thế.

Thuở đó, tôi cũng có một mối tình đầy mơ mộng. Tôi hay chở bạn gái trên chiếc xe đạp cà tàng quẩn quanh thư viện, ghế đá… Chúng tôi hứa hẹn ra trường, cố gắng kiếm việc làm, ổn định rồi cưới nhau. Chẳng hiểu vì sao tụi sinh viên chúng tôi lúc đó luôn tin rằng, chỉ cần nhận bằng tốt nghiệp là cuộc sống chúng tôi sẽ khác. Nhưng rồi ra trường, trầy trật mãi chẳng xin được việc, bạn tôi thoái chí và quyết định về quê lấy chồng. Tấm bằng đại học cất lại, bạn an phận với việc trồng rau, nuôi gà cùng người chồng làm công việc bàn giấy ở xã. Còn tôi, bao nhiêu năm ở phố, cuộc sống cứ trầy trật, mệt nhoài. Sài Gòn cuốn tôi đi, kéo tôi vào vòng xoáy mưu sinh. Sài Gòn cũng làm tôi day dứt không nguôi vì lạc mất người mình yêu… Sài Gòn thay đổi từng ngày, từng giờ. Chỉ có giấc mơ của tôi vẫn dang dở. Tôi vẫn là kẻ độc thân, vẫn ở trọ, ngày đêm vẫn miệt mài bên giáo án. Thú thật nhiều lúc tôi thấy mình mệt nhoài và chán nản, thấy bất lực cho cảnh chật vật của mình.

Cho đến một hôm đi dạy thêm về muộn, đi ngang qua một gầm cầu tôi chợt thấy một người đàn bà vô gia cư cùng đứa con nhỏ. Đứa bé trai chừng 6 tuổi đang nằm yên trong lòng mẹ. Và mặc kệ đang nằm ngoài đường, tạm bợ dưới một gầm cầu, người đàn bà vẫn cất tiếng hát ru con. Đứa bé thiêm thiếp ngủ. Tôi xúc động mãnh liệt trước cảnh đó. Người ta vẫn bình yên, vẫn thong dong bất luận hoàn cảnh có tồi tàn, có cực khổ như thế nào…

Nhìn lại, ở Sài Gòn này có biết bao nhiêu mảnh đời cơ cực như thế. Bao nhiêu trẻ em cơ nhỡ, người vô gia cư, người tàn tật… Thế nhưng, họ vẫn miệt mài sống và không ngừng hy vọng. Mà có lẽ, nước mắt chỉ làm cho con người ta thêm xót xa chứ chẳng giúp ích được gì. Tôi chẳng giàu có gì nhưng ít ra tôi vẫn có một công việc tốt. Hàng ngày vẫn truyền đạt kiến thức của mình cho các em nhỏ. Dạy cho các em về tình yêu và lòng trắc ẩn… Thôi thì, dù chẳng biết Sài Gòn có cho mình đổi đời hay không nhưng hãy cứ thong dong mà sống. Như người mẹ vẫn bình yên hát ru con dù họ chẳng có lấy một mái nhà!

Thanh Nguyễn
(Cần Đước – Long An)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 574

Ý Kiến bạn đọc