Tản văn

Thơm đắng cà phê

Lần đầu tiên tôi đến Di Linh là đầu năm 1999 để chia buồn với gia đình người anh trưởng tộc vừa mới qua đời. Vợ chồng anh đưa 7 người con từ Thanh Hóa vào đây xây dựng kinh tế mới đã rất lâu rồi. Nói thật là lần đến đó, tôi chẳng có ấn tượng gì đặc biệt với cảnh quan nơi đây. Có lẽ nỗi buồn về người anh họ ra đi quá sớm làm tôi dửng dưng trước vẻ đẹp của bạt ngàn cà phê trên những sườn đồi.

Lần này thì khác. Tôi về đây họp họ đầu Xuân. Lòng cứ vui phơi phới như về thăm quê hương vậy. Con đường nhựa uốn khúc dẫn về xã Tân Châu băng qua những đồi cà phê xanh ngát. Bên đường, nhà ngói mọc lên nhiều vô kể. Đến đầu xã, tôi dừng lại trước ngôi nhà 3 tầng đẹp đẽ, khang trang. Đây là nhà của đứa cháu, con trai người anh trưởng tộc. Nhớ lại lần đầu đến đây, thấy các con anh vẫn còn sống trong những căn nhà cấp 4.Vậy mà…

Tôi bước vào phòng khách. Tưởng nhà hắn chất đầy cà phê. Nhưng không! Suốt ba gian nhà bày toàn đồ mỹ nghệ làm bằng những thứ gỗ quý hiếm, đắt tiền. Trước vẻ ngạc nhiên của tôi, hắn giải thích:

- Cháu chuyển sang kinh doanh mặt hàng này vài năm nay rồi. Trồng cà phê chỉ là nghề tay trái thôi, vất vả mà thu nhập thất thường lắm…

Hắn chỉ vào cặp lục bình bằng gõ đỏ bóng lộn, nổi những vân li ti uốn lượn, mới nhìn đã thấy mê:

- Cặp này trị giá khoảng 50 triệu đồng, nếu bán được, tiền lời tương đương vài tạ cà phê đấy chú ạ.

Hắn nở nụ cười thật tươi, trên khuôn mặt đã bắt đầu hiện lên những nếp nhăn của tuổi tác. Nước da hắn rám nâu bởi nắng gió Tây Nguyên. Bàn tay của ông chủ cửa hàng đồ mỹ nghệ rót trà mời khách vẫn còn đó vết chai sạn của một thời cuốc đất, làm rẫy, đốn củi, trồng sắn khoai. Mắt dõi ra phía vườn cà phê trước nhà, những kỷ niệm buồn vui lại tràn về với hắn…

Anh-minh-hoa---Thom-dang-ca-phe

Năm ấy, làng tôi có 12 gia đình vào đây xây dựng kinh tế mới. Cha hắn là trưởng tộc nên cả họ không ai muốn cho đi. Nhưng 12 gia đình đều quyết. Bán đất, bán nhà ở quê chỉ đủ tiền xe đi vào và thêm mấy tháng sinh hoạt ban đầu. Hồi đó vùng này trập trùng đồi tranh, chỉ lác đác vài ba bản người Cờ-ho, người Mạ sinh sống. Địa phương chia cho mỗi gia đình nửa quả đồi. Thế là chặt tre, cắt tranh làm nhà. Rồi trồng sắn, trồng khoai lấy cái ăn. Mấy anh em hắn một buổi đi học, một buổi đi mót lúa, mót khoai hoặc đốn củi đem bán lấy tiền mua gạo. Có đứa phải nghỉ học đi làm thuê kiếm chút tiền còm, phụ với bố mẹ. Một năm sau – năm 1983, mới bắt đầu trồng cà phê.

Trời phú cho vùng đất này thứ đất đỏ tuyệt vời. Cây gì cắm xuống mà có nước, nhất là nước mưa thì cứ lớn lên ào ào. Đặc biệt là cây cà phê rất hợp với đất đỏ bazan. Chỉ vài năm cây cà phê đã cao lớn ngang ngực, 3-4 năm thì cho trái. Nhìn từng chùm trái chín đỏ mọng trĩu cành, bà con biết sắp đổi đời rồi. Mà đổi đời thật. Những năm đầu đất mới, năng suất rất cao, lại được giá. Dân vốn đã siêng năng gặp đất rộng, người thưa tha hồ canh tác. Thu nhập kha khá. Thế là xây nhà, mua sắm… Cuộc sống sung túc hẳn lên. Bà con ngoài quê và dân các tỉnh khác thấy vậy tiếp tục kéo vào. Nhiều thôn mới hình thành. Con cái sinh sôi nẩy nở, đứa ra riêng, đứa lấy chồng, đứa nào cũng được chia một mảnh. Đất dần dần trở nên khan hiếm. Hết đất gần nhà, lại tiếp tục khai thác nơi xa. Họ phải đi gần chục cây số vào các thung lũng để khai phá lập nên những rẫy cà phê mới. Đầu những năm 90 là thời hoàng kim của người trồng cà phê nơi đây. Nhiều gia đình sở hữu 5-7 ha, giá cà phê nhân có khi lên tới 45.000-50.000đ/kg.

Nhưng làm nông nghiệp không phải lúc nào cũng phấn khởi. Giá cà phê lên xuống thất thường, đầu những năm 2000 tụt xuống chỉ còn chục ngàn đồng/kg. Tình hình cứ thế kéo dài cả năm, nhiều khi dân muốn đốn đi mà trồng cây khác. Nhưng biết trồng cây gì? Thôi đành phó mặc với đời vậy. Đất bazan dù tốt đến mấy, khai thác triệt để cũng bạc màu. Cây cà phê có khỏe đến đâu sau vài ba chục năm cũng cằn cỗi và năng suất thấp, phải phá đi trồng lứa mới. Vậy nên chi phí cho đầu tư khá nhiều. Từ làm cỏ, tưới nước, cắt tỉa cành đến thu hoạch phần lớn đều phải thuê. Rồi còn tiền mua phân bón các loại nữa. Cũng may mà mấy năm sau đó giá cà phê tăng dần và gần đây ổn định ở mức 34.000-35.000 đ/kg. Cứ như thế này thì dân sống được.

Kể đến đây, hắn thở dài:

- Bố mẹ cháu siêng năng và vất vả lắm chú ạ. Khi bọn cháu có nhà cửa khang trang, cuộc sống đầy đủ thì bố cháu lại đi theo ông bà tổ tiên.

Nhìn hắn mà thấy thương. Lúc tôi đi bộ đội, hắn chỉ là cậu bé chưa tròn chục tuổi. Bây giờ hắn đã lên chức ông ngoại, lốm đốm tóc bạc. Hắn không được học hành đến nơi đến chốn. Lớn lên làm ruộng ở quê, vào đây làm vườn làm rẫy. Nhưng cũng mừng cho anh em nhà hắn. Bây giờ đứa nào cũng có nhà to, đẹp với vài ba héc-ta cà phê đủ sống. Không những chỉ anh em nhà hắn mà tất cả bà con ngoài quê vào đây, kẻ trước người sau đều khá giả. Nhiều gia đình đã trở nên giàu có…

Chưa hết tuần trà thì Sỹ – đứa em họ đến. Sỹ vừa lên được chức chủ tịch huyện nhiệm kỳ này. Nghe chúng tôi đang bàn chuyện cà phê, hắn hồ hởi hẳn lên:

- Nhiều xã trong huyện em đã trồng cà phê giống mới như: TS1, TS2, TR4, TR6 cho năng suất cao gấp đôi, thậm chí gấp ba so với giống cũ, thu nhập có thể lên tới 250 triệu đồng/ha.

Tôi hỏi:

- Diện tích cà phê toàn huyện bao nhiêu?

- Khoảng trên 40.000 ha, chiếm 90% diện tích đất nông nghiệp.

Tôi tìm hiểu:

- Cà phê vùng này có từ bao giờ nhỉ?

Sỹ nói một mạch:

- Có từ thời Pháp thuộc. Người Pháp nghiên cứu thổ nhưỡng vùng này thấy rất hợp với cây cà phê, đặc biệt là giống cà phê vối. Họ lập ra các đồn điền, mỗi đồn điền chừng 100 ha. Dân mình hồi đó chủ yếu đi làm thuê cho họ. Trước giải phóng, Di Linh là huyện có nhiều cà phê nhất tỉnh nhưng cũng chỉ khoảng 750 ha thôi. 

Không nhìn sổ sách mà Sỹ nói lưu loát quá. Tôi nghĩ: chủ tịch huyện có khác!

Sỹ lại “khoe”:

- Sản lượng cà phê của huyện em cao nhất tỉnh Lâm Đồng và là trung tâm lớn thứ hai của cả nước chỉ sau Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk). Huyện có 4-5 thương hiệu cà phê được sản xuất, chế biến tại thị trấn và đã đến được với nhiều tỉnh, thành rồi.

Thấy hắn nói vậy, tôi hưởng ứng thêm:

- Không những chỉ ở trong nước đâu, mà nó đã sang tận châu Âu và mang tầm quốc tế rồi ấy chứ.

Hắn ngạc nhiên, tưởng tôi bịa! Tôi kể cho Sỹ nghe chuyện tôi đi thăm con gái đang học bên nước Anh vào cuối năm 2012. Để làm quà, tôi đã tặng cho ông giáo sư trường Đại học Southampton 1kg cà phê hiệu Nguyên Cát “Made in Di Linh, Viet Nam” và một bộ phin pha. Ông ấy thấy lạ và rất thích thú bởi bên đó họ chỉ uống cà phê hòa tan hoặc pha bằng máy chứ không pha bằng phin như bên mình. Không những khen ngon sau khi uống thử, mà ông còn hứa sẽ đi du lịch sang Việt Nam để thưởng thức thứ cà phê ngay nơi trồng ra nó.

Sỹ bắt tay tôi thật chặt. Hắn làm như tôi vừa lập được chiến công to lớn mang về cho huyện hắn vậy.

Chúng tôi đưa nhau ra nghĩa trang đầu thôn thắp hương viếng những người thân. Nơi đầu tiên tôi đến là mộ ông chú họ – bố của Sỹ. Chính ông là người thầy dạy tôi nét chữ đầu tiên khi đi học vỡ lòng. Được hai tháng thì ông nhập ngũ. Ông trở thành sỹ quan, nhà báo, nhà thơ của Bộ đội biên phòng. Về hưu, ông là một trong những người đưa gia đình vào đây đợt đầu. Sáng dậy, ông lên rẫy trồng cà phê, tối về uống rượu, làm thơ. Nhưng thơ ông lúc ấy không còn gửi đăng báo nữa mà chỉ để ngâm nga bên ly rượu nhạt nhằm vơi đi nỗi cực nhọc thường ngày. Chỉ tiếc là khi các con ông trưởng thành thì ông đã ra đi. Bất giác tâm trí tôi hiện về bài thơ “Cảm xúc Di Linh” tôi viết gần hai chục năm trước, khi đứng trước mộ ông:

Thương người thuở ấy vào mở đất
Mồ hôi lã chã thấm đồi tranh
Người ơi người sớm về cõi khuất
Để lại cà phê bát ngát xanh.
Trời Tây Nguyên lồng lộng.

Đồi cà phê trập trùng. Những con đường đất đỏ len lỏi trên sườn đồi dẫn đến từng ngôi nhà còn tươi màu ngói mới. Nhà đẹp mọc lên ngày một nhiều. Nghĩa trang đầu thôn hàng năm lại thêm một vài ngôi mộ nữa. Những người cùng quê với tôi mấy chục năm qua đã đổ quá nhiều mồ hôi, công sức khai phá vùng đất này. Khi một miền quê trù phú với đặc sản cà phê nổi tiếng được gây dựng nên thì hồn, xác của nhiều người trong số họ đã tan vào lòng đất. Thương nhớ và tự hào về họ biết nhường nào!

Lâu nay khi uống cà phê, tôi rất khoái hương thơm độc đáo, kỳ diệu của nó mà không một thức uống nào có thể thay thế được. Nay giữa vùng đất Tây Nguyên, nơi thấm đẫm mồ hôi công sức người thân, tôi bỗng nhận ra vị đắng của cà phê còn độc đáo, kỳ diệu hơn nhiều. Phải chăng vị mặn đắng của mồ hôi nước mắt người nông dân đã hòa vào ngọn gió, tia nắng, giọt mưa rồi tan trong lòng đất để thấm vào hồn những hạt cà phê tuyệt vời kia? Và chắc chắn rằng: nếu thiếu đi vị đắng ngăn ngắt độc đáo, kỳ diệu ấy thì chẳng còn gì là cà phê nữa!

Làn gió nhẹ đầu Xuân. Đồi xanh xôn xao, lay động. Ánh nắng chiều cao nguyên như dát vàng nhảy múa trên những cành cà phê đã bắt đầu đơm hoa kết trái, hứa hẹn một mùa bội thu.

Di Linh, 2017

Trần Thanh Chương
(Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 449