Thầy thuốc Văn nghệ

Thoát vị cơ hoành

Thoát vị cơ hoành hay còn gọi thoát vị hoành xảy ra khi gân cơ thành bụng suy yếu khiến cho dạ dày trồi lên qua cơ hoành. Nguyên nhân thường do áp lực trên bụng tăng và cơ thành bụng yếu vì tuổi tác cao.

Thay-thuoc-van-nghe---Copy  Thay-thuoc-van-nghe

Cơ hoành là một cơ bắp hình vòm lớn ngăn cách lồng ngực và ổ bụng, có vai trò giúp đỡ phổi trong công việc hít vào và thở ra. Thông thường, thực quản đi xuống và nối với dạ dày thông qua một khe hở trong cơ hoành gọi là lỗ khuyết cơ hoành. Thoát vị cơ hoành xảy ra khi cơ bắp xung quanh lỗ khuyết cơ hoành trở nên yếu và phần trên của dạ dày trồi lên qua cơ hoành vào lồng ngực. Hầu hết thoát vị cơ hoành thường nhẹ và không gây ra triệu chứng gì. Tuy nhiên, khi thoát vị nặng hơn, người bệnh có các dấu hiệu như xót ruột, ợ hơi, nuốt khó, đau ngực hay đau bụng trên, đầy bụng sau khi ăn, nôn ói ra máu hay đi cầu phân đen vì xuất huyết tiêu hóa.

Nguyên nhân gây thoát vị cơ hoành có thể là do bẩm sinh cơ hoành có lỗ khuyết quá lớn hay áp lực tăng quá cao trên cơ hoành vì người bệnh mắc bệnh ho gà, nôn mửa, táo bón hay nâng một vật quá nặng. Khi đó, dạ dày có thể trồi lên thông qua lỗ khuyết cơ hoành và gây thoát vị cơ hoành.

Trong hầu hết các trường hợp thoát vị nhẹ, người bệnh thường không bao giờ để ý, trừ khi thầy thuốc tình cờ phát hiện. Nhưng khi bị thoát vị nặng, thức ăn và acid trào ngược lên thực quản dẫn đến chứng ợ chua, đau ngực hay đau bụng trên. Thầy thuốc khi nghi ngờ thoát vị cơ hoành thường cho xét nghiệm máu để kiểm tra xem người bệnh có bị thiếu máu do mất máu không. Thầy thuốc cũng cho chụp hình thực quản có chất cản quang. Trong thủ thuật này, người bệnh uống chất cản quang barium bao phủ đường tiêu hóa cho hình ảnh rõ ràng của thực quản, dạ dày và phần trên ruột non trên phim chụp. Thầy thuốc cũng nội soi thực quản và dạ dày qua một ống mỏng trang bị camera đưa xuống cổ họng vào thực quản và dạ dày để kiểm tra tình trạng viêm. Đôi khi thầy thuốc đo áp lực thực quản bằng một ống nhạy cảm với áp lực cao đưa qua mũi, xuống thực quản vào dạ dày để đo áp lực và các chuyển động bên trong thực quản.

Hầu hết người bệnh thoát vị cơ hoành không có triệu chứng khó chịu gì và không cần điều trị, tuy nhiên nếu ợ chua thường xuyên và trào ngược acid, thầy thuốc cần cho toa thuốc hay chỉ định phẫu thuật.

Thuốc dùng cho chứng ợ chua bao gồm chất trung hòa acid trong dạ dày như Gelusil và Maalox, chất giảm sản sinh acid hay còn gọi là thuốc chẹn H-2 như famotidin và ranitidine. Ngoài ra, còn có thuốc ức chế bơm proton ngăn chặn việc sản sinh acid và dành thời gian cho các mô thực quản mau lành như lansoprazol và omeprazol. Trong một số ít trường hợp, thoát vị cơ hoành cần đến phẫu thuật như trong các tình huống khẩn cấp và với người bệnh đã từng uống thuốc giảm ợ chua hay trào ngược acid dạ dày thực quản mà không đỡ. Trong thủ thuật này, thầy thuốc kéo dạ dày xuống ổ bụng trở lại và khâu cho lỗ khuyết cơ hoành nhỏ hơn, đồng thời làm mạnh cơ vòng thực quản hay loại bỏ túi thoát vị. Nếu dùng phương pháp mổ hở, thầy thuốc rạch một vết mổ lớn ở thành ngực hay thành bụng. Nếu dùng phương pháp mổ nội soi, thầy thuốc chèn một camera tí hon và các dụng cụ vi phẫu vào ổ bụng thông qua 3 vết rạch nhỏ, sau đó thầy thuốc tiến hành phẫu thuật trong khi theo dõi dạ dày và thực quản trên màn hình.

Bs. Đào Ty Tách
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 389

Ý Kiến bạn đọc