Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

“Thơ” trong loại thơ “chân quê”

Có những người nhân danh lý luận “Thơ hiện đại” coi những bài thơ “chân quê”, kiểu Nguyễn Bính, không phải là thơ. Nhà thơ trào phúng Thợ Rèn thì phản ứng trước nhận định “Thơ Nguyễn Bính chỉ hợp với một tầng lớp nào đó, ý giả đó chẳng có tư tưởng lẽ sống gì đáng chú ý” (1). Thợ Rèn dẫn ra vài câu không “chân quê” của Nguyễn Bính:

Chẳng than: Sinh bất phùng thời
Vuốt xuôi mái tóc cả cười mà đi

Lẳng lơ đi võng đi tàn cả
Gái chính chuyên kia đứng vệ đường
Sông lạnh hỏi ai người gọi gió?
Trăng tà tìm mãi kẻ mài gươm.

Kể ra nói “thơ Nguyễn Bính chỉ hợp với tầng lớp nào đó” thì cũng chẳng có gì phải bực mình. Nhiều loại thơ có lẽ cũng thế cả thôi. Đến cái “ngôi đền đơn độc và kỳ bí” như bài “Buồn xưa” đánh dấu một sự hiện đại hóa tầm cỡ như người ta ca ngợi của ông Nguyễn Xuân Sanh mà cũng chỉ hợp với một tầng lớp ít ỏi người đọc “siêu” như các ông Đinh Gia Trinh, Đỗ Lai Thúy kia mà!

Nhưng trước những luồng ý kiến ấy, ta buộc phải băn khoăn. Thế thì loại thơ “chân quê” đó có là “thơ” không? Và “thơ” ở trong loại đó phải tìm thế nào?

Đúng là theo một cách đọc thơ được coi là cao cấp thì ngôn ngữ thơ của những bài chân quê của Nguyễn Bính quá dễ hiểu. Ai cũng có thể hiểu những câu mộc mạc, chẳng có một thứ điển tích, một kết hợp lạ nào đáng phải dừng lại mà tìm hiểu. Và suy ý người ta như Thợ Rèn thì dường như cũng “chẳng có tư tưởng lẽ sống gì đáng chú ý” cả. Ấy thế mà cái “tầng lớp” hợp với thơ chân quê của Nguyễn Bính lại không chỉ là mấy bà con nông dân sống ở nơi quê mùa, những chị hàng rong trẻ kiếm sống nơi vỉa hè miền đô thị xưa mà cả những nhà văn nhà thơ có danh có tiếng nữa. Rất nên tìm hiểu.

Trước hết phải nói đến cái môi trường văn hóa và trình độ, vốn sống và cả cái thị hiếu thẩm mỹ ở người đọc thơ. Tiếp nhận và đồng cảm được với nhà thơ và bài thơ đòi hỏi nhiều điều kiện, không chỉ là tri thức văn hóa, trình độ lý luận văn học… Ông Nguyễn Tuân có thể ngợi ca cái vị giác đặc biệt tinh tế đến mức “siêu nghệ thuật” của ông già thấy được cái vị một cái vỏ trấu trong ấm trà người ta mời ông. Nhưng ông Ăng-đéc-xen lại chế giễu cô tiểu thư khuê các có cái cảm nhận tinh tế đến mức đau mình mẩy suốt đêm không ngủ được chỉ vì dưới đệm của cô có một hạt đỗ đen! Trong thưởng thức thơ cũng vậy. Xưa có những ông cứ phải tìm thấy trong thơ những điển tích, những chữ dùng của các bậc tiền bối mới cho đó là thơ. Nay thì cũng có những ông chỉ coi là thơ khi đọc nó ta phải tìm ra những kết hợp từ ngữ lạ và cả những câu hũ nút. Vì có như thế người đọc mới tỏ được cái tài giải mã cái lớp lá bánh là lớp ngôn ngữ trong thơ. Với họ, thơ là thứ ngôn từ có đặc điểm là “Phương thức biểu hiện nói chung không phải là ngôn ngữ mô phỏng theo lối quy chiếu với sự vật” (Hoàng Trinh). Nhưng với người khác thì quan niệm đó không chấp nhận được. Nếu đằng sau những câu chữ cầu kỳ, kỳ bí – dù khi giải ra có thể thấy cái nghĩa rất rõ ràng, thú vị – mà không có được cái ý cái tứ đặc sắc, không biểu hiện được những cảm xúc tinh tế, không thể hiện được “những điều ôm ấp trong lòng” có ý nghĩa nhân sinh thì đó không thể coi là thơ hay. Ngay như cái câu “Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi”, ông Đỗ Lai Thúy tìm ra nhiều nghĩa kia (2), người ta cũng thấy cái “thơ” trong nội dung của nó cũng chẳng ghê gớm gì! Một niềm vui “buốc-gioa” (trưởng giả) của người ngắm hoa quỳnh, vậy thôi!

Thế còn “thơ” trong những bài thơ chân quê của Nguyễn Bính? Hãy lấy bài “Chân quê” nhiều người thuộc. Ngôn từ của nó đúng là chẳng có gì khó hiểu, chẳng có lấy một cái điển tích để tra cứu, cũng chẳng có những từ lạ, chuyển nghĩa cầu kỳ… Đến những chi tiết, thi liệu cũng quá là tầm thường. Nó chỉ đưa ra hai cách ăn mặc khác nhau chút ít phản ánh “mốt” ăn mặc là “mốt” cổ truyền và “mốt mới” hơi cách tân kiểu đô thị thời đó. Tuy vậy, nhìn từ một phía khác thì thấy không hoàn toàn như vậy. Phải là người có vốn sống phong phú ở làng quê mới có thể có được những ngôn từ “quê mùa” với những từ ngữ đặc biệt chỉ trang phục cô gái quê thời đó với “yếm lụa sồi”, “dây lưng đũi”, “áo tứ thân”, “khăn mỏ quạ”. Và cả cái giọng van lơn thuyết phục của anh người yêu với cô gái nữa!

Nhưng đọc thơ không thể chỉ dừng ở lớp ngôn từ (chữ viết và ngôn ngữ âm thanh) với lớp “nghĩa” bề mặt của chúng. Như thế thì cũng chưa phải là đọc thơ. Nếu chưa đi vào lớp hình tượng, “bức tranh cuộc sống” với nhân vật trữ tình và cảm xúc của người đó thì cũng chưa thể coi là “đọc thơ”. Đọc bài “Chân quê” ta sẽ thấy được cái tình cảm đáng thông cảm của anh con trai đang đứng trước những thay đổi của người yêu. Cái biểu hiện bên ngoài anh thấy được là sau khi đi tỉnh về, cô người yêu không còn giữ được vẻ đẹp của y phục cổ truyền làng anh. Cô bắt đầu chịu ảnh hưởng của cách ăn mặc đô thị. Anh cảm thấy rõ đó là bắt đầu một “lối sống” không phù hợp với làng quê. Anh dự cảm một mối đe dọa với tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của anh! Điều đó đã là một thứ “thơ” đáng trân trọng. Vì nó đã cho thấy một khía cạnh tâm tình trong cuộc sống làng quê thời kỳ đất nước đang có những thay đổi. Cảm được cái tâm tình ấy của nhân vật sống quanh mình và ghi lại một cách dung dị mà cảm động như thế liệu có phải là một nhà thơ thứ thiệt thực hiện chức năng của thơ? Những thứ vui buồn quen thuộc như thế ở làng quê – nói như Tô Hoài – tất cả đều có trong thơ Nguyễn Bính. Thế thì có phải là thơ không khi nhà thơ đau buồn vì một người chị “lỡ bước sang ngang”, ghi lại nỗi “tương tư” của đôi trai gái “Thôn Đoài ngồi nhớ Thôn Đông”, nói lên cái tình cảm ban đầu và lời mời gọi của một khách thơ với “Cô hái mơ”? Hay là cứ phải miêu tả phút đắm say của chàng công tử hào hoa ngồi mơ tưởng “Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y” mới là thơ đích thực?!

Nhưng sẽ còn có thứ “thơ” ở chiều sâu tư tưởng ta có thể liên tưởng suy rộng ra. Đó là nỗi lo sợ trước vẻ đẹp của truyền thống dân tộc đang mất giá, nỗi lo sợ vì cái quá khứ đang khó lưu giữ của dân tộc mình (có cái gì đó rất gần với nỗi buồn ở bài “Ông Đồ” của Vũ Đình Liên khi “Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ?”).

Cách đọc bài thơ như thế này tất nhiên cũng chỉ là một cách. Nhưng là cách của những người ít nhiều có vốn sống, vốn văn hóa giống như tác giả… Nhân đây xin giới thiệu một đoạn nhận xét của Tô Hoài viết về cảm xúc khi đọc thơ Nguyễn Bính:

“Rồi mỗi khi gặp tình trạng cuộc sống khốn khổ hàng ngày tưởng như chẳng liên quan gì đến những bài thơ quê sáng như lụa của Nguyễn Bính, tôi lại rõ ra ý nghĩa sâu thẳm của mỗi câu thơ với quê hương. Chỉ có quê hương mới tạo nên được từng chữ từng câu Nguyễn Bính. Trên chặng đường ngót nửa thế kỷ đời thơ, mỗi khi những gắn bó mồ hôi nước mắt kia đằm lên, ngây ngất nhớ thương, day dứt không thể yên, khi ấy xuất hiện những bài thơ tình quê tuyệt cú của Nguyễn Bính”.

Thơ mà làm cho người ta đồng cảm, người ta thuộc, người ta nhớ trong những sự cố cuộc đời người ta như vậy có đáng gọi là thơ hay, hay không?

Có thể là ông Ngọc Giao nói quá về bài “Cô hái mơ” của Nguyễn Bính khi ông gọi nó là “viên ngọc bích”. Nhưng tôi, khi đọc lại bài “Cô hái mơ” đó, tôi cứ nghĩ đến bài “Quan Thư” (3) trong Kinh Thi của Trung Quốc. Thì hai bài cùng nói đến thứ tình cảm trai gái nảy sinh trong khung cảnh thiên nhiên quen thuộc và cùng là lời mở đầu tán tỉnh của anh con trai với cô gái. Đó là chưa kể cái lối chơi chữ “cô gái” hái “mơ già”! Và tôi còn bạo phổi hơn khi so sánh nó với bài Gửi Hélène của Ronsard!

Nhân đọc lại ít bài thơ chân quê của Nguyễn Bính, xin ghi lại vài dòng cảm nghĩ có phần cũng “quê mùa” và sơ lược. Xin gửi tới bạn đọc, nhất là những bạn đang phân vân trước những cách đánh giá của các đại gia phê bình hiện đại đang đua nhau thể hiện mình ở ta. Xin chép tặng các bạn một câu của Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”:

“Cái đẹp kín đáo của những vần thơ Nguyễn Bính tuy cảm được số đông công chúng mộc mạc, khó lọt vào con mắt nhà thông thái thời nay. Tình cờ có đọc thơ Nguyễn Bính, họ sẽ bảo: “Thơ như thế này thì có gì?”. Họ có ngờ đâu đã bỏ rơi một điều mà người ta không thể hiểu bằng lý trí, một điều quý vô ngần: hồn xưa của đất nước”.

Minh Xuân
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 393

_____________________

(1) Trích “Nét độc đáo trong thơ Nguyễn Bính”, Xuân Trường tuyển chọn (NXB Văn hóa – Thông tin, 2012). Các trích dẫn đều lấy ở tài liệu này.
(2) Ông Thúy đưa ra 3 nghĩa:
Hoa quỳnh, buổi chiều, đọng nhạc, trầm, mi.
- Nhạc, trầm, mi, như đọng trên hoa quỳnh, buổi chiều.
- Hoa quỳnh, buổi chiều, nhạc êm, trầm hương ngát, mi đắm say.
(3) Bài Quan Thư dịch ra như sau:
Quan quan cái con thư cưu
Con trống con mái cùng nhau bãi ngoài
Yểu điệu thục nữ như ai
Sánh cùng quân tử tốt đôi vợ chồng.

Ý Kiến bạn đọc