Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Thơ rơi gởi em gái lấy chồng xa

Má ơi đừng gả con xa / Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu. Tâm trạng của các cô gái lấy chồng xa ngày nay nó xưa rồi Diễm. Chiếc điện thoại thông minh cho thấy hình nhau, rồi mạng xã hội giống như phép thuật nối liền khoảng cách mặc dù người ở miền Tây theo chồng xa tận nơi đâu Hàn Quốc, Đài Loan. Thời xưa. Hình dung cái thời chẳng có gì hết, phương tiện đi lại bằng hai đôi chân, hai đôi tay cầm chèo để bơi. Cô gái ở Long Xuyên được gả về Rạch Giá, Miệt Thứ, U Minh Hạ, coi như đi là đi biệt không về. Đấy là hình ảnh của bà Chín em của ông nội tôi. Nhớ em, lấy chồng xa chẳng những không về mà ngay cả cha mẹ bệnh cũng không về được nên ông viết thư trách móc, lá thư khá dài trích ra một đoạn: “Từ em đi chẳng thấy thư lang – Đêm những ngày trong dạ nào an. Ngày trông đợi thơ nhàn tin cá – Gẫm một nỗi đường đi Rạch Giá – Với Long Xuyên cũng chẳng bao xa – Ghe thương hồ kẻ lại người qua. Gẫm một nỗi đường đi cũng dễ – Mà khó bởi tại vì đâu – Gả em rồi lòng lại thêm sầu – Đường viễn vọng biết làm sao đặng – Anh nhớ em nhớ dài nhớ vắn – Cháu nhớ cô nhớ ngược nhớ xuôi…”. Người xưa không có điện thoại nên thư từ, cả thơ ca nó chứa đựng nội tâm thắm thiết nên nó như hay hơn khác với thời đại ngày nay. Thơ gởi đi chẳng thấy tăm hơi. Ông Bảy anh của ông nội gởi tiếp lá thư thứ hai cho chồng đứa em với lời lẽ trách móc nặng nề hơn: “Gả em rồi biệt tích vắng tăm – Trông vòi vọi vẫn không tin cá – Nhân nghĩa nào mà lạ. Hàng cậu cô chú bác than phiền – Ba ngày xuân chẳng biết đến linh tuyền – Cơn tế tự cũng không thấy mặt – Cha mẹ dù phong vân mạt trắc – Mày rể con phải luận việc tử sanh – Dẫu vợ chồng cơm cá chẳng lành – Thì anh em tao cũng biết chữ – Xuất giá tòng phu để răn em út – Khen là khen thuần phong mỹ tục – Mến là mến lễ nghĩa danh nhu – Gẫm cho mày không phải thằng ngu – Mà vong ơn vong ngãi”. Lá thư của ông Bảy dài nhiều câu hằn học: “Gẫm ra mày là đứa vô tình – Trong anh chị người nào cũng trách – Khai khẩu như phá thạch – Trước chẳng thảo sau chẳng thảo gì – Nhỏ chẳng kể, lớn thành nhơn chi mỹ – Vậy mới gọi người ta – Gả em rồi như diều nọ sớt gà – Dường như thể sấu tha về biển Bắc…”.

Xuan-2019--Quay-to-det-vai---Nguyen-Duc-Nung---Anh-1
Quay tơ dệt vải (1957) – sơn mài – Nguyễn Đức Nùng.
Giải thưởng Nhà nước về văn học – nghệ thuật đợt I – 2001.

Hai lá thơ thể hiện hai tính cách bên văn, bên võ. Con cháu của ông nội tôi sau này phần đông theo nghề giáo gõ đầu trẻ. Con cháu của ông Bảy tham gia kháng chiến. Người con thứ tám là bác Ngô Thành Tâm cùng gia đình tập kết ra Bắc mãi về sau mới biết làm Trưởng phòng tư liệu Đài Tiếng nói Việt Nam. Bác Tám có người con là Ngô Lực Tải bắn rớt máy bay Mỹ nguyên Giám đốc Sở Giao thông – Vận tải TP. Hồ Chí Minh. Ngô Lực Trị kỹ sư nông nghiệp và rể là Hà Mậu Nhai nguyên Giám đốc NXB Văn hóa – Văn nghệ. Một lô họ hàng giờ mới biết nhau. Về bà Chín, ở xứ Rạch Giá, U Minh Hạ có ruộng, có rừng, biển dễ làm ăn, hai vợ chồng của bà từ nghèo trở nên giàu bá hộ. Mãi mê lo làm ăn lúc trở về cố hương thăm lại anh em, hai vợ chồng làm heo tạ lỗi. Sau đó bà bỏ tiền ra xây phủ thờ dòng họ toàn cây gỗ quý, 2 năm mới cất xong. Con cái của bà đều được du học bên Pháp thành tài. Hai vợ chồng trở về Long Xuyên được mấy lần rồi con rước qua Pháp ở luôn bên xứ người không về.

*
Văn xuôi thời kỳ đầu chữ quốc ngữ câu dài câu vắn, âm vận đối xứng êm tai gọi là văn biền ngẫu như Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Ngọn cỏ gió đùa của Hồ Biểu Chánh chẳng hạn. Cũng như vậy, người xưa viết thư gởi cho nhau như là nắn nót từng chữ câu dài câu ngắn, vần điệu nhịp nhàng. Thơ viết gởi cho người chớ không phải là tờ rơi. Nhưng gọi nó là thơ rơi vì nó giống như bài thơ. Vì có vần điệu nên dễ thuộc lòng. Tình cờ người khác nghe được thấy hay nên nhớ truyền cho người thứ ba rồi trở thành thơ rơi. Thơ rơi cùng với câu hò, vè, điệu lý hiện diện cùng một lúc trong đời sống văn hóa đất phương Nam. Cuộc sống thay đổi bước vào thời đại máy móc. Máy móc đã thay cho đôi tay chèo chống nên sông dài, trường giang mất dần tiếng hò. Máy cày, máy xuốt lúa nổ phành phạch trên đồng ruộng nên ra đồng cũng không còn ai hát hò. Lời ăn tiếng nói thay đổi đi thẳng vô vấn đề hơn là nói bóng gió thưa gởi có đầu có đuôi. Nhất là ngày nay, cần gì người ta bấm điện thoại nhanh lẹ hơn là gởi thư cho nhau. Do đó cái cảm giác ngồi viết thư và giây phút chờ đợi thư hồi âm như không còn. Tất cả trở thành một thứ văn hóa sống trong ký ức dân gian, trong tiềm thức của những người lớn bảy, tám chục tuổi trở lên. Tuy nhiên, những câu hò, điệu lý còn được người sưu tầm. Hai vợ chồng nhạc sĩ Lưu Nhất Vũ, nhà thơ Lê Giang qua công trình sưu tầm hò, vè được tặng Giải thưởng Nhà nước. Thể loại thơ rơi không kém thú vị lại rơi vào lãng quên không thấy ai sưu tầm. Nhưng thơ rơi không mất đi, nó vẫn còn sống dai dẳng đâu đó. Vì nó là kỷ niệm còn lưu giữ trong những dòng họ xưa. Khi tôi lớn lên thì ngôi phủ thờ mái ngói rêu phong như là dấu tích của một thời huy hoàng. Nghe cô bác lâu lâu đọc 2 lá thư, kể chuyện gia tộc họ hàng tôi thấy thú vị tò mò. Người miền Tây sống bằng bụng. Vui thì vui trọn, buồn thì buồn sâu. Nỗi nhớ giấu trong bụng, không ghi lại gia phả đã đành. Không như miền Bắc. Những ngôi phủ đường, từ đường ở miền Nam qua hai ba đời thường nằm quạnh hiu chẳng ai tới lui. Tôi mơ hồ nhớ lại những gì nghe người lớn nói. Gốc gác gia tộc xuất phát đâu đó ngoài miền Trung, được vua ban tặng đất. Chắc là cũng có công lao gì đó nhưng vua nào ban tôi tra cứu hết sử sách tìm không thấy. Đến đời ông cố tìm vô Nam. Đầu tiên lập nghiệp ở xã Long Tuyền – Cần Thơ, sau đó ông để đất lại cho ông Bảy về Long Xuyên mở tiệm hốt thuốc bắc nổi tiếng… Bấy giờ đồng ruộng Long Xuyên hoang vu, các người con của ông chia nhau đi khai hoang mở đất. Nói chung các ông bà coi như là những người thuộc lớp đầu tiên khai phá đất đai nên nhiều tên tuổi được đưa vô đình để thờ gọi là “Tiền hiền khai khẩn – Hậu hiền khai cơ”. Tới đời tôi tất cả như rơi vào quên lãng, như chỉ mình tôi có chút chữ nghĩa và nhớ hai lá thư rơi mặc dù không thuộc hết. Thế là tôi đi tìm. Nhớ lại lúc nhỏ nghe mấy bà cô có xuống rạch Long Tuyền thăm ông Bảy. Năm 80, tôi xuống Long Tuyền đi dài theo con rạch hỏi thăm. Chẳng ai biết, cả trăm năm trôi qua hết Pháp, rồi đến Mỹ vật đổi sao dời. Tôi chợt nhớ các con của ông Bảy là dân kháng chiến ngay từ buổi đầu, nhất là bác Tám Tâm cùng gia đình tập kết ra Bắc. Năm 95, trở xuống lần thứ hai tôi tìm những người già biết chuyện xưa, may sao một cán bộ lớn tuổi thời kháng Pháp vẫn còn nhớ. Lúc gia đình Bác Tám đi tập kết, người con gái đầu lòng là chị Hai Thuấn mang bầu gần ngày sinh nên ở lại. Chồng của chị Hai là cháu nội của nhà cách mạng Nguyễn Thần Hiến nổi tiếng của miền Nam. Ngôi nhà ngói xưa bề thế ở xóm Cồn Ngang, bến Ninh Kiều – Cần Thơ như nói lên điều này. Ban đầu hai chị em bà con chú bác họ xa đời ông nội gặp nhau chẳng ai biết ai như hai người xa lạ. Tôi nhỏ tuổi không biết nhưng chị Hai đã 90 tuổi không biết còn nhớ gì chuyện xa xưa? Tôi rụt rè đọc hai lá thơ rơi. Chị ngạc nhiên nhìn tôi đăm đăm rồi những giọt nước mắt như có dịp chảy ra ướt hai gò má. Rõ ràng đó là nước mắt vui rớt ra từ sâu thẳm cội nguồn, chị Hai ôm chầm lấy tôi. Hóa ra bà chị họ thuộc nằm lòng thơ của ông nội mình. Chị còn biết nhiều chuyện hơn tôi mặc dù chị cũng nghe người lớn kể lại. Chị thông báo cho mấy đứa em sinh đẻ ở miền Bắc lâu nay cũng tò mò về cội rễ. Rồi đến mấy người con của chú Mười em của bác Tám Tâm cũng biết tin. Anh Tư – Ngô Lực Cường cùng vợ, cả hai vợ chồng đều là tiến sĩ Viện nghiên cứu lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long. Mỗi năm vào mùng 3 Tết, hai vợ chồng anh Cường lái xe chở chị Hai Thuần cùng con cháu trở về Long Xuyên thăm nhà từ đường thắp hương lên bàn thờ tổ tiên. Rồi anh em họ hàng tóc không còn xanh gặp nhau ngồi vây quanh bàn tròn nói chuyện gia tộc. Mặc dù đó là những kỷ niệm, những câu chuyện chỉ được nghe người lớn kể lại nhưng có điều gì đó ấm áp thiêng liêng. Tất cả như xích lại gần với nhau như nói lên mọi điều. Thời gian cuộc sống rồi chiến tranh đẩy mọi người xa nhau kẻ Nam người Bắc, người lưu lạc nước ngoài nhưng rồi “Khi ở là đất ở. Khi đi đất hóa tâm hồn” (thơ Chế Lan Viên). Hai lá thơ rơi của anh em ông nội gởi cho vợ chồng em gái mình là phi vật thể đã tạo ra cái gọi là tâm hồn để con cháu sau này tìm với nhau. Và rồi chị Hai Thuấn đã 90 tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn, chị lần theo dấu ký ức phủ bụi thời gian hỏi han người cùng thế hệ còn sống, dò lần qua đất Pháp. Cuộc tìm kiếm kể như vô vọng nhưng tình cờ chị Hai được một người thường đi nước ngoài cho biết mình quen một số dân Pháp kiều có gốc gác ở Rạch Giá ngày xưa. Thật là vui, 2 năm sau cháu nội của bà Chín. Chị bác sĩ đã 80 tuổi trở về Việt Nam cùng đứa cháu gái tìm chị Hai Thuấn và lên Long Xuyên viếng thăm nhà từ đường. Cô bé không rành tiếng Việt ngồi ngơ ngác nghe những người già kể chuyện đời xưa. Cô bé tỏ ra thích thú mở to đôi mắt nhìn bà của mình dịch bài thơ rơi của ông Sơ sang tiếng Pháp cho mình nghe. Qua đó cho thấy văn hóa dân gian rất phong phú như thể loại thơ rơi chẳng hạn. Tưởng tất cả mất đi thật ra nó vẫn sống dai dẳng trong lòng quần chúng, các dòng họ xưa. Sưu tầm những lá thư của các nhân vật nổi tiếng thì thấy nhưng chưa thấy sưu tầm thư từ của dân gian, qua đó sẽ cho ta thấy lịch sử đời sống của một thời hiện ra.

Ngô Khắc Tài
(Hội Văn nghệ An Giang)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2019

Ý Kiến bạn đọc