Người tốt - Việc tốt

Thơ Nguyễn Tất Thành đến thơ Hồ Chí Minh

Nhà văn Sơn Tùng, người đã dành thời gian dài tìm hiểu về Chủ tịch Hồ Chí Minh từ việc tiếp xúc với những người thân của Bác là bà Nguyễn Thị Thanh – chị ruột, cụ Nguyễn Sinh Khiêm – Nguyễn Tất Đạt, anh cả của Bác Hồ; sau ngày giải phóng miền Nam, Sơn Tùng đã vào Huế, Phan Thiết, Đồng Tháp, Bà Rịa gặp nhiều người biết về Nguyễn Tất Thành lúc Người vào Nam và biết cụ Nguyễn Sinh Huy – cha Bác Hồ để ghi nhận làm tài liệu về Bác. Ông đã kể lại cho chúng ta nhiều điều về Nguyễn Tất Thành lúc mới lên 5 lên 10 tuổi, trong đó có những bài thơ Bác ứng khẩu khi tiếp xúc với những hình ảnh hiện ra trước mắt mình.

Minh-hoa-Bac-Ho-ung-khau-thanh-tho-khi-theo-cha-den-tham-nha-cu-THuong-thu-Ho-Dac-Trung
Minh họa Bác Hồ ứng khẩu thành thơ khi theo cha đến thăm nhà cụ Thượng thư Hồ Đắc Trung.
Nguồn: http://hiec.org.vn/

Cha của Bác là ông Nguyễn Sinh Sắc sau đổi tên là Nguyễn Sinh Huy, mẹ Bác là bà Hoàng Thị Loan con cụ Hoàng Xuân Đường, một nhà Nho nổi tiếng ở Nghệ An. Khi Bác Hồ mới sinh, chính ông ngoại (Hoàng Xuân Đường) đã đặt tên cho Bác là Nguyễn Sinh Coong (Cung), tự Tất Thành, có nghĩa sau này sẽ thành công trong đường sự nghiệp.

Năm 1895, ông bà Nguyễn Sinh Huy và Hoàng Thị Loan phải vào kinh đô Huế, để con gái lớn là bà Thanh ở nhà với bà ngoại, đưa Tất Đạt (Nguyễn Sinh Khiêm) và Tất Thành cùng theo. Thời ấy việc đi lại rất khó khăn, thường phải đi bộ theo đường mòn thiên lý. Tất Thành còn nhỏ được cha cõng trên vai. Bà Loan thì gồng gánh những vật dụng sinh hoạt cho con và vợ chồng ông bà, Tất Đạt lớn hơn phải tự đi không có ai cõng. Đến những chỗ nghỉ chân Tất Đạt mệt mỏi nên ngồi im còn Tất Thành được cha cõng không mệt nên nhảy nhót hăng hái nhìn ngó mọi bề chung quanh rất thích thú.

Khi dừng chân nghỉ dưới chân đèo Ngang, Tất Thành nhìn thấy con đường mòn uốn lượn nơi sườn núi liền hỏi: Thưa cha, cái gì ở trên kia màu đỏ mà lại ngoằn ngoèo như rứa? Cụ Nguyễn Sinh Huy nói đó là con đường cắt qua đèo, tí nữa ta phải đi leo trèo qua đó, lên cái đường mòn đó để sang bên kia núi.

Tất Thành liền ứng khẩu đọc mấy câu thơ cho cha mẹ và anh cả nghe:

“Núi cõng con đường mòn
Cha thì cõng theo con
Núi nằm ì một chỗ
Cha đi cúi lom khom
Đường bám lì lưng núi
Con tập chạy lon ton
Cha siêng hơn hòn núi
Con đường lười hơn con”

Khi lên đỉnh đèo Tất Đạt cũng ngồi nghỉ chân không quan tâm cảnh vật chung quanh, còn Tất Thành lại tung tăng vui cười, nhìn ra phía Đông thấy biển liền hỏi cha cái ao sao lớn quá vậy, lại có những con bò lội ở dưới nữa. Cụ Nguyễn Sinh Huy nói đó là biển chứ không phải là ao, những cái trên biển không phải con bò mà là những chiếc thuyền buồm. Nghe cha nói xong Tất Thành lại thốt ra một bài thơ khác:

“Biển là ao lớn
Thuyền là con bò
Bò ăn gió no
Lội trên mặt nước
Em nhìn thấy trước
Anh trông thấy sau
Ta lớn mau mau
Vượt qua ao lớn”

Ông Nguyễn Sinh Khiêm tặng cho nhà văn Sơn Tùng cuốn sách của ông viết có tên “Tất Đạt tự ngôn” trong đó có ghi lại 2 bài thơ của em mình vừa nêu ở trên. Ông Khiêm còn nói với Sơn Tùng, chú Thành như có một dự báo về cuộc đời mình thể hiện trong bài thơ ứng khẩu nơi đỉnh đèo Ngang lúc mới 5 tuổi.“Ta lớn mau mau/ Vượt qua biển lớn”, chú ấy đúng là đã vượt biển lớn đi tìm đường cứu nước.

Bà Thanh cũng kể cho nhà văn Sơn Tùng biết nhiều việc về Tất Thành, trong đó bà nói Tất Đạt đã cho bà nghe một bài thơ lúc hai anh em Tất Đạt, Tất Thành theo cha đi thăm bạn của cụ.

Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt thường được cha cho theo “hầu tráp” khi cụ Nguyễn Sinh Huy đi thăm bạn hữu. Một lần cụ Nguyễn Sinh Huy tới dinh cụ Thượng thư Hồ Đắc Trung, Tất Thành được theo cha, trong khi hai cụ vui chuyện thì Tất Thành được cậu ấm Hồ Đắc Khải (con cụ Hồ Đắc Trung) đưa tới tiền sảnh cùng chơi. Lần đầu tiên Tất Thành nhìn thấy đồng hồ quả lắc như cái tủ đứng, quả lắc là hình người lính thủy đứng trên cái mỏ neo đu đưa, bèn ứng khẩu luôn:

“Chú lính đánh đu
Từ trái sang phải
Lúc la lúc lắc
Tích tắc, tích tắc…
Chắc là mệt lắm
Chú lính khóc to
Boong… boòn… từng tiếng
Boong… boòn… từng tiếng”

Nói rằng Nguyễn Tất Thành đã có năng khiếu bẩm sinh xuất khẩu thành thơ từ nhỏ không hề sai. Không chỉ có thơ mà với hội họa, Người cũng khéo tay như một họa sĩ thực thụ. Chúng ta đã thấy Bác vẽ ký họa cảnh một phu xe kéo chở một quan Tây đăng báo những năm cách mạng còn trong bóng tối đã chứng tỏ điều này. Từ đó về sau năng khiếu về thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng bộc lộ rõ hơn, Người thường xuất khẩu thành thơ trong rất nhiều trường hợp khác nhau. Thơ của Bác khi viết cho nhân dân đọc thì từ ngữ rất bình dân, thường viết theo thể lục bát, ai đọc cũng hiểu được dễ dàng.

Năm 1940, trên đường về nước Bác đóng vai nhà báo Hồ Quang đang móc liên lạc với “Hải ngoại bộ” ở Xì Xuyên trên tuyến đường sắt Côn Minh (Trung Quốc) đi Lào Cai (Việt Nam) thì máy bay Nhật bỏ bom chết hơn 60 người ở khu nhà Bích Sắc Trại của phu phen người Việt Nam, Bác đã nhận làm thầy cúng cầu siêu cho người chết ở đó. Chúng ta nghe một bài thơ Bác đọc khi Người cúng vái:

“Nam mô Phật tổ Như Lai
Chúng sinh nheo nhóc
dưới trời Tây phương
Trăm tầng áp bức thảm thương
Thân gầy như củi,
xác nhường thây ma
Thù nhà, nợ nước đôi đường
Đã vì người chết
càng thương giống nòi
Đừng tin vào số mệnh trời
Mà do quân Nhật giết người gây nên
Hồn ơi, hồn có linh thiêng
Hãy cùng người sống
báo đền nước non
Người còn thì nước phải còn…”

Khi cần mượn thứ ngôn ngữ ít từ nhiều ý thì Bác làm thơ Đường luật chữ Hán để thể hiện. Những bài thơ ấy chứng tỏ sự uyên bác của Hồ Chí Minh như tập “Nhật ký trong tù”…

Báo Cứu quốc Liên khu IV, ngày 19-5-1949, đăng bài thơ “Nguyên tiêu” của Bác. Đêm rằm tháng giêng, Hồ Chủ tịch cùng các cán bộ tùy tùng đi thăm trận địa bằng thuyền trên sông. Giữa dòng Bác căn dặn Ban chỉ huy phải động viên chiến sĩ thi đua giết giặc lập công, phải đối xử nhân đạo với tù binh… Gần khuya, trăng lạnh, sương nhiều, đoàn thuyền thong thả trở về. Nhìn trăng, Hồ Chủ tịch đọc:

“Kim dạ nguyên tiêu
nguyệt chính viên
Xuân giang xuân thủy
tiếp xuân thiên
Yên ba thân xứ đàm quân sự
Bán dạ quy lai nguyệt mãn thuyền”

Ông Xuân Thủy cùng đi với Bác, xin Bác cho dịch ra quốc ngữ để đăng báo. Bác nói trong thơ có chữ xuân thủy vậy Xuân Thủy dịch đi.

Ông Xuân Thủy dịch liền ngay sau đó:

“Rằm xuân trăng đẹp trăng tươi
Sông xuân nước
lẫn màu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát
trăng ngân đầy thuyền”

Mọi người vỗ tay khen ông Xuân Thủy dịch nhanh.

Chúng ta thấy thơ của Hồ Chủ tịch từ ngày còn nhỏ cho tới khi Bác đã 79 tuổi đời – như bài thơ Bác chúc Tết năm 1979 – luôn thể hiện tính hiện thực sâu sắc, xuất phát từ những điều “tai nghe mắt thấy”, từ yêu cầu cuộc sống, mang tính chiến đấu, tính quần chúng dễ thấm vào lòng người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản vô giá về chính trị, quân sự, ngoại giao, phong cách, đạo đức, văn hóa… Những bài thơ của Bác đã góp một phần để tổ chức UNESCO công nhận Người là danh nhân văn hóa thế giới. Cùng với công lao lãnh đạo giành độc lập cho đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được tổ chức này công nhận là Anh hùng giải phóng dân tộc, đem vinh dự cho Tổ quốc ta, nhân dân ta.

Thật vinh dự cho mọi con dân Việt có một vị lãnh tụ như Hồ Chí Minh!

Nguyễn Hải Phú
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 391

Ý Kiến bạn đọc