Văn học nước ngoài

Thơ Nakahara Chuya

 

Khi qua đời ở tuổi 30, nhà thơ Nakahara Chuya chỉ kịp để lại hai thi tập “Bài ca sơn dương” (Yagi no uta), “Bài ca ngày tháng cũ” (Arishi hi no uta) nhưng vị trí của ông trong nền văn học Nhật Bản là không thể thay thế.

Có thể hình dung, vị trí của Nakahara không khác gì Hàn Mặc Tử (1912-1940) của phong trào Thơ Mới ở Việt Nam. Cả hai đều tài hoa bạc mệnh và sống cùng thời, chỉ cách nhau khoảng mấy năm; đều chịu ảnh hưởng của đạo Cơ đốc cũng như văn học Pháp cuối thế kỷ XIX đầu XX, với lối viết tượng trưng và siêu thực. Và đặc biệt, cảm thức về thời gian và không gian đến rợn ngợp cùng những nỗi đau không thể nào san sẻ được trong thi phẩm của hai ông luôn làm các nhà nghiên cứu và độc giả ám ảnh mãi đến tận bây giờ.

Như Paul Mackintosh và Maki Sugiyama nhận định “thơ ông lưu trữ rất nhiều những ngôn ngữ đời thường trong một sự đơn giản âm vang với nhịp điệu độc nhất của sự u uất và đa sầu đa cảm”(1).

Nakahara sinh ngày 29/4/1907 tại tỉnh Yamaguchi, trung tâm của đạo Cơ đốc miền Tây Nhật Bản từ thế kỷ XVI. Năm 13 tuổi đã có những bài tanka được chọn đăng trên các tạp chí. Năm 1924, ông được giới thiệu cho đọc những tác phẩm của Baudelaire, Rimbaud, Verlaine và bắt đầu đam mê văn học Pháp. Năm 1931, ông nhập học khoa tiếng Pháp trường ngoại ngữ Tokyo, chuẩn bị cho công cuộc dịch thơ Rimbaud sau này của ông. Hai tuyển tập thơ Rimbaud do ông dịch đã được in vào các năm 1933 và 1937.

Cuối năm 1934, tập thơ đầu tay “Bài ca sơn dương” (Nakahara tuổi Mùi) gồm 44 bài viết từ năm 1924 đến 1930, được xuất bản. Chất lượng các bài thơ không đồng đều nhưng tập thơ có giọng điệu riêng và một số bài kiệt tác, hay nhất trong đời thơ Nakahara. Tuy không được đọc nhiều và ít người hiểu nhưng Kobayashi Hideo đã đánh giá tập thơ rất cao.

So-630--Nha-tho-Nakahara-Chuya---Anh-1
Nhà thơ Nakahara Chuya.

Đó cũng là một điều may mắn cho Nakahara vì chính nhờ sự xưng tụng của nhà phê bình kiệt xuất này mà cuối cùng người đời đã hiểu và tôn vinh ông trong lịch sử văn học Nhật hiện đại dù muộn màng đến vài chục năm sau.

Tháng 11/1936, cái chết của con trai đầu bé bỏng gây cho ông một cú sốc lớn. Ông đã viết khóc thương “Cuộc đời của Fumiya” trong nhật ký và rất nhiều bài thơ buồn sau này của ông luôn phảng phất hình bóng của cậu con trai. Từ thời gian này trở đi, thần kinh của ông bắt đầu có triệu chứng rối loạn. 

Tháng 1/1937, Nakahara nhập viện để điều trị bệnh thần kinh. Tháng 2, sau khi xuất viện, do không muốn sống ở nơi con trai đã mất, ông chuyển nhà đến nơi khác. Tháng 10, ông dự định về quê nhưng phát bệnh viêm màng não, rơi vào hôn mê sâu. 

Ngày 22/10, Nakahara qua đời, được chôn cất ở quê nhà Yamaguchi.

Năm 1938, bản thảo tập thơ “Bài ca ngày tháng cũ” mà ông hoàn thành ngay trước khi qua đời, được ấn hành.

Năm 1994, nhà kỷ niệm Nakahara xây trên nền nhà cũ của ông, được khánh thành ở thành phố Yamaguchi. Năm 1996, giải thưởng Nakahara Chuya được sáng lập để trao giải cho những thi tập xuất sắc.

Đặc trưng lớn nhất trong thơ Nakahara, theo như nhà nghiên cứu Yoshida Hiroo nhận định là “Cảm giác xa xăm, cao viễn”. Đây là nguồn mạch của thơ ông. Yoshida viết “Ai trong chúng ta, hồi còn nhỏ, đều chắc chắn có lần cảm thấy một cảm giác mênh mông kỳ bí về vũ trụ không thể diễn tả bằng lời khi ngước nhìn lên trời sao thăm thẳm bao la. Nhưng riêng đối với Nakahara, ông đã mang theo những cảm giác trẻ thơ ấy đi suốt cuộc đời mình. Trong những câu mở đầu bài thơ “Rạp xiếc” nổi tiếng, “Bao thời đại” ở đây không phải nói đến những thời đại lịch sử mà qua sự lặp lại đó, ta phải hiểu nó ám chỉ một quá khứ xa xăm. Bài thơ này tiếp tục được triển khai về quang cảnh trong rạp xiếc và cuối cùng ý thơ hướng về thời gian tối tăm ở ngoài trời và một tương lai vô hạn. Cho nên quang cảnh trong rạp xiếc chỉ là một điểm trong dòng thời gian vô hạn đó thôi”(2). Ngoài ra, trong thơ Nakahara, ta thấy sự tinh tế tột bậc, trân trọng từng sinh vật nhỏ như chuồn chuồn, từng vật vô tri như chiếc cúc áo, như thể chúng có linh hồn. Đây có lẽ bắt nguồn sâu nặng từ truyền thống văn hóa Nhật Bản cùng với ảnh hưởng của đạo Cơ đốc mà ông đã được hấp thụ từ khi còn nhỏ. 

Năm bài thơ tiêu biểu của Nakahara sau đây được chúng tôi dịch từ nguyên tác tiếng Nhật, thi tập Nakahara Chuya, Nxb Shinchosha, tái bản lần thứ 15, năm 2011. Trong đó bài “Rạp xiếc” đã được tác giả Naruse Yukio trong quyển sách “Nhập môn phiên dịch” (翻訳の教科書) đã đưa ra làm ví dụ cho điều không thể dịch được bằng ngôn ngữ. Tuy nhiên, vượt lên trên ngôn ngữ, văn chương luôn có thể dịch được nỗi niềm tác giả để nhắm đến niềm tương giao nhân loại giữa những con người với nhau vượt qua biên giới quốc gia và ngôn ngữ. Đó cũng là cảnh giới cao nhất của dịch thuật mà các dịch giả phải nhắm đến.

Còn bài thơ “Mùa thu mù” (盲目の秋 Moumoku no aki) nói về một mối tình tuyệt vọng. Người nữ trong bài thơ này chính là nữ diễn viên Hasegawa Yasuko (1904- 1993) vốn quen biết và sống chung với Nakahara Chuya từ khi còn ở Kyoto năm 1924. Đến năm 1925, khi Nakahara đưa nàng lên Tokyo thì quen biết và rồi sống chung với nhà phê bình Kobayashi Hideo. Khi nàng bị Kobayashi bỏ rơi, Nakahara quay lại mong nối lại tình cũ nhưng không được chấp nhận. Mối tình tay ba nổi tiếng này cũng đã đi vào lịch sử văn học Nhật Bản. Thời kỳ này Nakahara viết nhiều thơ ca yêu đương mà “Mùa thu mù” này là một minh chứng tiêu biểu. Bài thơ cho ta thấy sự tuyệt vọng cùng cực của Nakahara, cắn chặt răng đứng trước bờ đoạn nhai tuyệt bích mà chìm vào đáy tuyệt vọng. Một bài thơ đớn đau, một bài thơ như mửa máu. Có một tứ thơ gợi nhớ Phạm Hầu “đưa tay ta vẫy ngoài vô tận, chẳng biết xa lòng có những ai”…

Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả.

 

Rạp xiếc

Biết bao thời đại trôi qua
Với cuộc chiến tranh màu xám

Biết bao thời đại trôi qua
Mùa đông gió thổi lạnh lùng

Biết bao thời đại trôi qua
Nơi đây một cuộc sum vầy đêm nay
Nơi đây một cuộc sum vầy đêm nay

Từ chiếc xà cao của rạp xiếc
Một chiếc đu thả xuống đung đưa
Mơ hồ như có như không, ai biết
Chiếc đầu ngửa ra tay buông thõng
Từ trên mái dù vải bạt bẩn dơ
Đung đưa đung đưa đung đưa

Ngọn đèn thắp sáng gần đó
Thở dài ra sợi ruy băng rẻ tiền

Quan khách chen chúc như cá mòi
Khản cổ thét gào như vỏ hàu bị nghiến nát
Đung đưa đung đưa đung đưa

Ngoài rạp tăm tối đêm trường
Như kéo dài vô tận
Chiếc dù lượn cùng nỗi nhớ nhà xa xưa
Đung đưa đung đưa đung đưa.

 

Bờ biển đêm trăng

Một đêm trăng, trên bờ biển
Có một chiếc cúc áo bị đánh rơi

Tôi nhặt lên, không nghĩ ra sẽ dùng vào việc gì
Nhưng vứt đi, sao tôi không nỡ
Và đành bỏ vào tay áo kimono

Một đêm trăng, trên bờ biển
Có một chiếc cúc áo bị đánh rơi
Tôi nhặt lên, không nghĩ ra sẽ dùng vào việc gì
Nhưng tôi không ném nó về phía vầng trăng
Cũng không ném đi vào bờ sóng đánh
Mà bỏ vào tay áo kimono
Và trong đêm trăng, chiếc cúc được nhặt lên ấy
Thấm vào đầu ngón tay, thấm vào tim tôi

Chiếc cúc được nhặt lên trong đêm trăng ấy
Làm thế nào tôi có thể vứt bỏ nó đây?

 

Xương

Hãy nhìn này! Đây là xương tôi
Thấm đầy khổ đau khi tại thế
Xé rách thịt da nhớp nhơ
Đầu xương lòi ra mấu nhọn
Mưa đã rửa cho trắng tinh

Không phải là sáng lấp lánh
Chỉ màu trắng thản nhiên vô ích
Bị gió thổi và mưa rơi
Giờ phản chiếu bầu trời

Khi còn sống
Bộ xương này đã ngồi trong phòng ăn
Giữa đám đông thực khách
Dùng món súp rau
Chợt nghĩ ra sao buồn cười quá đỗi

Hãy nhìn này! Đây là xương tôi
Và phải chăng tôi đang nhìn ngắm
Thật hết sức buồn cười
Có lẽ linh hồn tôi ẩn náu
Tìm về trú xứ của xương xưa
Mà ngắm nhìn lãng đãng

Bên bờ suối nhỏ nơi làng quê
Đứng trong bãi cỏ khô
Phải chăng tôi ngắm nhìn
Những lóng xương trắng hếu
Đâm thẳng lên nền trời
Cao như tấm bảng hiệu.

 

Gửi chuồn chuồn

Bầu trời thu trong vắt
Chuồn chuồn đỏ lượn mê say
Tôi đứng trên đồng cỏ
Trong ánh hoàng hôn phai

Phía xa kia ống khói nhà máy
Trông mờ nhạt trong ánh ngày
Tôi ngồi xuống lượm viên sỏi nhỏ
Và thở dài một tiếng đắng cay

Cảm nhận sự lạnh lẽo của viên đá
Nhưng khi nó ấm lên trong lòng tay
Tôi để xuống và bứt vài cọng cỏ
Những cọng cỏ tắm trong ánh ngày

Những cọng cỏ đã bị ném bứt
Sẽ dần tàn úa trên đất đai
Phía xa kia ống khói nhà máy
Trông mờ nhạt trong ánh ngày.

 

Mùa thu mù

I.
Gió dựng và sóng thét gào
Đưa tay tôi vẫy trước vô tận

Lúc ấy tôi nhìn thấy một đóa hoa nhỏ màu đỏ
Nhưng rồi cũng sẽ rã nát màu phai

Gió dựng và sóng thét gào
Đưa tay tôi vẫy trước vô tận

Tôi đã bao lần than thở vô tình
Khi nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ quay trở lại

Trong huyết quản cứng cáp tuổi thanh xuân
Đã tuôn chảy quá nhiều hoàng hôn và hoa loa kèn đỏ

Yên lặng, rực rỡ kiêu sa
Như nụ cười cuối cùng của người đàn bà gửi lại

Nghiêm trang, phong nhiêu, buồn bã
Khác thường, ấm áp, chói ngời còn lại trong lòng tôi

A, còn lại trong lòng tôi…

Gió dựng và sóng thét gào
Đưa tay tôi vẫy trước vô tận

II.
Rồi điều này sẽ ra sao?
Điều kia sẽ thế nào?
Sao cũng được.

Điều này có nghĩa chi?
Điều kia có nghĩa gì
Tôi lại càng mặc kệ.

Con người chỉ biết dựa vào mình thôi
Còn lại hãy phó mặc tất cả
Hãy để yên mọi chuyện như chúng là…

Nương tựa vào mình, nương tựa mình, nương tựa mình, nương tựa mình
Chỉ như thế mới khiến con người không phạm lỗi

Thản nhiên, vui vẻ yên lặng như bó rơm
Lấp đầy nồi hơi bằng sương mù buổi sáng, bước chân nhảy bẫng lên cũng được thôi

III.
Thánh mẫu Maria của tôi ơi
Tôi đã ho mửa máu

Người không nhận lấy ân tình tôi
Nên giờ đây tôi ngập ngụa trong vũng lầy tuyệt vọng

Dù tôi cũng chẳng ngoan hiền gì
Dù tôi cũng chẳng mạnh mẽ

Rất tự nhiên tôi yêu em
Em cũng yêu thương tôi vậy mà…

A, Thánh mẫu Maria của tôi ơi
Bây giờ ta chẳng thể làm gì được nữa
Ít nhất chỉ cần em biết điều này

Yêu tự nhiên, yêu người rất tự nhiên đâu phải lúc nào cũng có
Khi biết được điều này sẽ chẳng ai tha thứ cho em đâu

IV.
Ít ra khi tôi chết
Người con gái đó sẽ mở lòng với tôi chăng
Khi ấy đừng đắp mặt bằng phấn trắng
Khi ấy đừng trang điểm mặt bằng phấn trắng

Chỉ lặng lẽ mở lòng ra thôi
Hãy để chiếu xạ vào đôi mắt tôi
Đừng nghĩ gì cho tôi cả
Xin đừng nghĩ điều gì cho tôi

Chỉ xin em kìm những giọt nước mắt lã chã
Và hãy thở ấm áp mà thôi
Nhưng nếu như nước mắt có rơi

Xin hãy cúi mặt trên người tôi
Và hãy giết tôi đi cũng được
Nếu em làm như thế trên con đường khúc khuỷu chốn hoàng tuyền
Tôi sẽ rất hân hoan.

HOÀNG LONG
(dịch từ nguyên tác Nhật ngữ)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 630

—————–
(1) Paul Mackintosh và Maki Sugiyama, The poems of Nakahara Chuya, Nxb. Gracewing, 1993, phần lời dẫn nhập.
(2) Dịch từ phần “Giải thuyết” của nhà nghiên cứu Yoshida Hiroo in cuối thi tập Nakahara Chuya, Nxb. Shinchosha, tái bản lần thứ 15, năm 2011.

Ý Kiến bạn đọc