Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Thơ dễ có thật dễ hiểu?

Có một loại thơ bị đánh giá thấp. Đó là loại thơ diễn đạt trực tiếp, dễ hiểu theo “nghĩa xuôi” mà ngay cả thơ của những nhà thơ tài danh như Nguyễn Bính cũng bị dè bỉu. Nhưng có thể là như Rochefoucauld nói: “Những trí tuệ tầm thường hay lên án những gì vượt quá tầm hiểu biết của họ”, chúng tôi không tán thành sự lên án đó, thậm chí “lên án” nó! Bài này xin nói về mấy câu thơ rất dễ hiểu theo “nghĩa xuôi”, có thể là dưới cả tầm “thơ dễ”, đến trẻ con cũng thấy “dễ hiểu”.

Xin bắt đầu bằng hai câu:

Con mèo con chó có lông
Cây tre có đốt, nồi đồng có quai.

Nhiều bạn nhỏ, và cả người lớn, nhiều người cũng cười khi nghe hay đọc câu đó. Người ta cho rằng ngô nghê, “chẳng ra làm sao”. Người ta cho rằng những cái điều như thế thì có gì đáng nói mà cũng “ca dao hò vè”! Cái “ý” đã chẳng có gì gọi là đáng “truyền đạt”. Cái “lời” lại chẳng văn vẻ gì, cứ “thẳng đuột” ra! Chẳng có gì là “nội dung”, “nghệ thuật” để mà tiếp nhận như ông GS.TS Nguyễn Thanh Hùng có lần nói với giáo viên.

Nhưng nói thế, chúng tôi nghĩ, là không hiểu đồng dao. Đồng dao là những lời hát làm ra cho trẻ em, có những câu tự trẻ em làm ra. Nó làm ra để cho trẻ, vì trẻ. Trong cái khối người gọi là “trẻ em” có những đứa bé phải ru ngủ (thường chưa biết nói, biết hát), có cả trẻ đang tập nói, và cả trẻ đã lơn lớn. Với loại trẻ đang học nói, phải dạy chúng nói cùng với dạy hiểu biết. Dạy phát âm cho “chuẩn” có “Nu na nu nống”, dạy từ ngữ thì có các bài vè chim, vè cá… Và như thế mới có những bài dạy kiến thức, dạy quan sát và từ ngữ rất đơn giản:

Con cua mà có hai càng
Đầu tai không có, bò ngang cả đời
Con cá mà có cái đuôi
Hai vi (vây) ve vảy, nó bơi rất tài.

Mỏ gà thì tròn
Mỏ vịt thì bẹt
Vịt kêu cạp cạp
Gà gáy te te
Ai thức thì nghe
Ai ngủ thì chịu.

Trở lại với bài có hai câu của chúng ta “Con mèo con chó…”. Đọc bài này, ta thấy người ta dạy trẻ kiến thức về cái cây tre, về cái nồi đồng thường dùng, về các con vật. Hiểu biết về những thứ đó cũng là biết đặc điểm và biết tên gọi của vài thứ thuộc về chúng. Ngày nay ở các lớp mầm non, người ta cũng dạy các bé kiến thức và “mở rộng vốn từ” cho các bé như thế. Cần lắm chứ! Nếu không sao các bé biết phân biệt, biết nhận ra đặc điểm các sự vật khi quan sát các vật ấy? Và về chữ nghĩa, nếu không được dạy bài này các bé cũng không biết gọi tên các bộ phận của sự vật! Những từ ngữ như “đốt”, “quai” là cái thuộc “vốn từ” cần có.

Đó là với trẻ nhỏ đang học nói. Với các em lớn hơn và cả với người lớn, không thể dừng lại cái “giá trị dạy trẻ” như thế. Có thể phải “đào sâu” để nhận ra một cái gì đó nữa ở câu này.

Ta đều biết khi ta thấy các sự vật đặt bên nhau, gần như ta nảy ngay ý so sánh chúng. Trong trường hợp này cũng thế. Việc đặt các sự vật, các “cấu trúc” giống nhau này bên cạnh nhau cũng làm cho người đọc chúng ta nảy sinh ý so sánh. Có thể nảy ra một ý như thế này chăng? Hóa ra mỗi thứ cũng có những đặc điểm đáng chú ý cả. Cái “nghĩa” ấy có thể người nào để ý cũng sẽ thấy. Cái “nghĩa” ấy sẽ biến thành “ý riêng” của ai đó trong một hoàn cảnh cụ thể. Có thể đó là người tức mình vì có kẻ coi thường mình. Người ấy nói câu này ra hoặc hát lên thì cái ý sẽ rõ: “Ai cũng có giá trị, có cái đặc sắc của mình, đừng có coi thường nhau!”. Câu nói sẽ có ý tương tự như câu:

Đấy vàng, đây cũng đồng đen
Đấy hoa sói trắng, đây sen Tây Hồ.

Cùng các em đọc bài này, ta nên lưu ý các em chớ nên hời hợt khi đọc thơ văn, đọc hoặc nghe ca dao, đồng dao. Phải biết đào sâu ý nghĩa của các bài, các câu được nghe, được đọc. Phải đặt nó vào hoàn cảnh ngôn ngữ (người ta gọi là ngữ cảnh) hoặc giả định một ngữ cảnh hợp lý để hiểu đúng ý người nói. Nhất là khi người ta nói “bâng quơ”, nói những chuyện không dính dáng gì với những chuyện đang nói, với hoàn cảnh hiện tại. Nếu không làm thế có thể bị coi là… kém khả năng tiếp nhận ngôn ngữ, không biết “đọc” được “ý nghĩ” của người ta. Bởi vì trong giao tiếp, không ai tự nhiên nói những câu “chẳng đâu vào đâu”, nói không dính dáng đến chuyện đang bàn, việc đang phải quan tâm. Và khi “đọc” văn không đơn giản là chuyển ký hiệu chữ viết sang dạng ngôn ngữ âm thanh. Và “đọc” cũng không chỉ là bóc cái lớp ngôn từ mà có người ví với cái lá gói bánh! “Đọc” chủ yếu là để “hiểu” và “cảm” được cái nghĩa, cái ý, cái thông điệp ở văn bản! Tức là khi “đọc”, sau khi hiểu lớp vỏ ngôn từ, ta còn phải đi vào tìm hiểu lớp “ý tưởng”, lớp diễn tả “bức tranh cuộc sống” với những sự kiện, những con người trong đó.

Cũng như vậy, mấy câu đồng dao sau đây có gì là “khó hiểu”:

Cóc chết bỏ nhái mồ côi
Chẫu ngồi chẫu khóc: chàng ôi là chàng
Ễnh ương đánh lệnh đã vang
Tiền đâu mà trả nợ làng ngoé ơi!

Nhưng từ cái bức tranh loài vật ấy là cái tình người không dễ đồng cảm nếu không biết đến đặc điểm “liên tưởng” trong khi đọc thơ văn.

Bài đồng dao ấy nếu được dạy trẻ đọc đúng cách sẽ gợi lên trong lòng trẻ mối buồn thương thông cảm với nỗi khổ của một nhà nghèo khi có người “nằm xuống”. Người lớn qua bài đồng dao muốn gieo vào lòng trẻ mối tình đồng cảm trước những kiếp nạn của con người. Tiếng khóc này cũng cần cho trẻ như những tiếng cười vui để trẻ “lớn lên” được giữa cuộc đời! Đó cũng là thứ đào tạo năng lực văn cho trẻ. Đó mới là cái cốt lõi của thứ năng lực ta gọi là văn. Nó là nền tảng cho ta cảm nhận được những cảm xúc nhân văn giàu tình người ở các văn bản, các tác phẩm và là thứ cần có trước cái năng lực diễn tả được ra trong các văn bản.

Lại phải nói đến những câu như:

Cái bống còn ở trong hang
Cái rau tập tàng còn ở nương dâu
Ta về ta sắm cần câu
Câu lấy con bống nấu rau tập tàng.

“Nghĩa xuôi” của những câu như thế này có gì phải ngồi cầu kỳ tìm cái thứ gọi là “thơ” theo quan niệm thông thường ở lớp lá bánh! Chẳng có những từ sang trọng, chẳng có những kết hợp “lạ” để tạo ra nhiều cách kết hợp thú vị kiểu “Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi”! Người ta trông thấy con cá bống ngon mắt quá, người ta tính chuyện bắt nó về để nấu rau tập tàng hái ở nương dâu làm bữa cơm ngon. Chuyện hết sức “đời thường”! Lại rất đúng tâm lý chung! Nhưng dường như đằng sau cái bình thường đó có cái gì đó “không bình thường”. Chuyện như thế thì “thơ ca” làm gì? Phải có “ý” gì chứ? Rất có thể tìm ra! Thì con bống còn ở trong hang, và cái rau tập tàng còn ở nương dâu. Nghĩa là chả có gì có sẵn trong “tầm tay”. Thế mà đã lăm le “nấu rau tập tàng” với cá bống rồi! Cái ý chế giễu đã lộ ra! Nhưng cái chuyện muốn ăn cá bống nấu canh tập tàng đó thì cũng có gì đáng chế giễu lắm? Có lẽ phải dựa vào ngữ cảnh nào đó để tìm ra câu chuyện đáng chế giễu? Tôi nghĩ đến mấy anh thấy người ta xinh đẹp, rất muốn nên duyên, nhưng chưa đâu vào đâu đã khoe ra cái chuyện cưới xin chẳng hạn? Đấy cái chế giễu, cái bóng gió có thể là như thế! Người ngoài chế giễu cũng được. Người trong cuộc thì lời chế giễu sẽ “đau” hơn!

Rồi những câu vè nói ngược như những câu này nữa:

Vót cột mà khâu áo quần
Lấy kim mà chống lên thân cửa nhà
Củi mục thì nở ra hoa
Thân cây tươi tốt thì tra vào lò.

Có thể trẻ sẽ cười cái “ngớ ngẩn” của ai đó làm các thứ trái khoáy kia. Nhưng nói như Nguyễn Tuân, đến một lứa tuổi nào đó, trẻ sẽ nhận ra cái trò “ngớ ngẩn” ấy không chỉ có ở những người “ngớ ngẩn”. Bởi vì trẻ có thể nhận ra trong tầm quan sát của trẻ những “củi mục” thì “nở hoa” mà “thân cây tươi tốt” lại bị “đem tra vào lò”!!

Vậy thì có nên dè bỉu loại “thơ dễ”, thơ có “nghĩa xuôi” dễ hiểu hay không? Và nên dạy người ta “đọc thơ” như thế nào tưởng cũng nên suy nghĩ!

Phan Mai Hồng
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 389

Ý Kiến bạn đọc