Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Thơ dành cho ai?

Ông Hoàng Trinh trong “Tuyển tập văn học” đi sâu vào chuyên đề “Đọc thơ theo Thi pháp học dựa vào ký hiệu học”. Ông có nêu ra đặc điểm thứ nhất của ngôn từ Thơ là mang tính gián tiếp trong biểu hiện và phản ánh. Ông lý giải “Phương thức biểu hiện nói chung không phải là ngôn ngữ mô phỏng theo lối qui chiếu với sự vật mà mang những ẩn ý, nhiều lớp ý (…) – dựa vào những hình thể từ ngữ để tự biểu hiện – hình tượng hóa mọi sự vật (…)”. Ông dẫn thêm ý của một đại gia thế giới: “Thơ thường nói một điều nhưng nghĩa nó lại ở chỗ khác”. Ông dẫn chứng câu thơ của Phạm Tiến Duật trong bài “Tiểu đội xe không kính”: “Không có kính không phải vì xe không có kính”. Ông phân tích: “là một lời nói thường như một khẩu ngữ. Nhưng vào bài thơ của Phạm Tiến Duật thì đó lại là một ý thơ, một ngôn từ thơ. Nó vốn mang một cái gì gián tiếp mà chính toàn bộ bài thơ sẽ nói lên hộ nó điều đó” (1). Ông cũng lý giải nguyên nhân của đặc điểm đó. Đó là lối tư duy nguyên thủy tái tạo sự vật bằng huyền thoại, ẩn dụ, biểu tượng – một thứ tưởng tượng sáng tạo ngây thơ mà đầy ý nghĩa. Ông cũng nói đến thứ ngôn ngữ gián tiếp trong đời sống hàng ngày và cái hay, cái đẹp của nó. Đồng thời ông cũng nói về thứ “tính thơ” ở ngôn ngữ trực tiếp trong thơ. Đó là ở các ngữ đoạn chứ không ở chiều sâu biểu hiện (2).

Ông có ý đánh giá thấp thứ thơ diễn đạt trực tiếp. Theo ông, thứ thơ hiểu nghĩa xuôi dễ vì chỉ tạo ra cách hiểu theo nghĩa câu chữ (nghĩa đen, bề mặt).

Tất nhiên, cái “gu” thẩm mỹ ấy nếu đúng chỉ là đúng theo những người có “gu” như ông. Thật ra ý thơ diễn đạt trực tiếp như ở “Dưới cầu nước chảy trong veo? Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha” nếu chỉ hiểu theo nghĩa “đen”, nghĩa “bề mặt” thì có thể là dễ. Nhưng nếu biết đến đặc điểm của ngôn từ nghệ thuật, biết “kỹ thuật” thể hiện tình cảm trong văn thơ thì có thể phát hiện tầng nghĩa bóng chỉ sự quyến luyến của hai người kiểu ẩn dụ văn chương (so với đám cành liễu rũ quyến luyến với bóng chiều).

Cùng có cái “gu” thưởng thức thơ như ông Hoàng Trinh, trước đó vài chục năm, ông Đinh Gia Trinh (3) cũng đánh giá thấp loại thơ diễn đạt trực tiếp, dễ hiểu theo “nghĩa xuôi” kiểu thơ Nguyễn Bính và một số người mà theo ông không đáng gọi là thi nhân như Hoài Thanh, Hoài Chân đưa vào tập sách của mình… Với ông, thơ phải như quan niệm của mấy nhà thơ ở Xuân Thu nhã tập. Nghĩa là phải có những câu thơ thuộc loại “thơ khó”, phải tốn sức mới cảm thụ, mới giải mã được kiểu “Quỳnh hoa chiều đọng nhạc, trầm, mi”! (4).

Đến ông Đỗ Lai Thúy (5), thì với điều kiện tiếp cận với lý luận về thơ hiện đại của thế giới thuận lợi hơn, cái “gu” thẩm mỹ này còn đi xa hơn hai ông trước. Ông phê phán lối thơ dễ hiểu, “văn xuôi hóa” triệt để hơn:

Đó là thứ thơ có “một ngôn ngữ thơ trong sáng, lời và ý trùng khít nhau, câu thơ gần gụi với câu ngữ pháp, các từ nối (song le, bởi vậy, vi chưng, vả chăng…) được sử dụng nhiều để thơ trở nên khúc chiết. Sự văn xuôi hóa thơ này giúp độc giả đọc hiểu liền, khỏi qua một thao tác đọc diễn xuôi.

Sự dễ hiểu trong thơ do Thơ mới đưa lại dần dà hình thành một thói quen xấu trong đọc thơ để tìm tâm sự, tìm ý tưởng mà nhà thơ cài vào: Mỗi câu thơ che một trận tuyến tâm tình (Chế Lan Viên). Nếu bóc mãi những lớp lá ngôn từ của một bánh thơ mà không tìm thấy chiếc nhân tư tưởng đâu cả thì người ta cho đó không phải là thơ, mà là một sự lừa gạt. Họ có hay đâu thơ có thể nằm ở ngay những lớp lá mà họ vừa vứt bỏ, thậm chí nằm ngay trong hành động bóc. Trong thơ, cứu cánh và phương tiện là một sự đi tìm cái đẹp tự nó cho là đẹp. Có thể đưa vào một bài giễu cợt: Lối đọc tầm chương trích cú xưa cũng là một thứ tìm “thơ” trong cái náy (thậm chí rất uyên bác kiểu câu chữ nào cũng có “xuất xứ” sách vở như Viên Mai chế giễu) và “thơ đối với nọ nằm ở hành động “bóc lá”.

Ông biểu dương loại thơ kiểu “Buồn xưa” của Nguyễn Xuân Sanh:

Bài thơ đọc một lần, hai lần… Ấn tượng khó hiểu, nhưng quyến rũ. Và hình như càng khó hiểu càng quyến rũ: cái hay và sự khó hiểu xoắn luyện vào nhau không thể tách bóc được?

Ông giải thích hiện tượng có kiểu thơ đó:

Cũng như trong giấc mơ, các hình ảnh của bài thơ đứng cạnh nhau một cách tình cờ. Nếu ở thực tại hữu thức ở thơ Lãng mạn, thì các từ như hồn và xanh, rượu và hát, ngón và hường, chiều và đọng… sẽ không bao giờ ở cạnh nhau, bởi giữa chúng có cả một bức tường lôgích. Còn ở thơ siêu thực, ở Buồn xưa, thì bất chấp lôgích chúng cứ ở cạnh nhau: hồn xanh, rượu hát, ngón hường, chiều đọng… Và chính việc làm gần lại những cái không thể gần này đã làm cho hình ảnh trở nên khác lạ, phi lí và bùng nổ những nghĩa mới, bất ngờ với cả người sáng tạo.

Như đã nói, đã là “gu” thẩm mỹ, cái thú thưởng thức một loại thơ thì không ai có thể can thiệp, bài bác. Trái lại ở đây người ta còn kính phục sự uyên bác, khả năng dùng tuệ giác của nhà phê bình. Tuy nhiên, kính phục có thể là thứ người xưa nói “Kính nhi viễn chi”! Cái “gu” của các ông phê bình kiểu này không thể áp đặt cho người khác. Bởi vì nói như ông Đinh Gia Trinh, “Đọc thơ muốn tận hưởng cái đẹp của thơ trước hết phải có năng lực cảm thụ để đón cái rung động cho tràn vào tâm hồn mình”, và “phải để tâm hồn ta cảm thông bằng tuệ giác và để cảm giác xâm chiếm tâm hồn ta, đột ngột gây rung động”. Hiểu như thế thì thứ thơ cần có với các ông là thứ thơ chỉ dành cho những người có các điều kiện cao cấp như vậy. Nghĩ như vậy, đòi như vậy liệu có thỏa đáng?! Thứ thơ đó không thể là thứ dành cho mọi người bình thường, “phổ thông”. Đến cỡ học giả như ông Nguyễn Hiến Lê còn phàn nàn vì đọc không hiểu nói gì kia mà!

Thực ra cái “dễ hiểu” trong thơ xưa và cả trong Thơ Mới cũng như hiện nay có chỗ đứng của nó, nếu không bằng thì cũng không thua kém thứ thơ tượng trưng, siêu thực người khác tôn sùng. Kết tội Thơ Mới tạo ra “một thói quen xấu trong đọc thơ để tìm tâm sự, tìm ý tưởng mà nhà thơ cài vào” như ông Đỗ Lai Thúy thì có lẽ phải kết tội thơ trong Truyện Kiều và ca dao! Hay đó là thứ không đáng gọi là thơ khi “nghĩa xuôi” của nó quá dễ hiểu, các ông không chấp?!

Không thể áp đặt đặc điểm, cái hay ở kiểu thơ này thành thứ đặc điểm duy nhất cần có ở Thơ… Nếu biết cách đọc thơ nói chung, người ta không thể dừng lại ở việc “bóc” lớp lá ngôn từ. Người ta cần đi vào lớp vỏ bánh (hình ảnh, chi tiết, hình tượng) và lớp nhân bánh (cảm xúc, tư tưởng). Vì vậy, với những câu thơ coi là “dễ hiểu” thì tùy trình độ, kinh nghiệm thưởng thức thơ, người ta có thể hiểu và cảm ở các mức khác nhau theo các “tầng nghĩa” của bài thơ. Thực tế lịch sử cho thấy sức sống lâu bền trong lòng người đọc là tiêu chí quan trọng trong đánh giá thơ.

Điều cần nói nữa là lý luận về thơ kiểu này rất dễ hướng người viết chạy theo những giá trị về hình thức chưa chắc là có thật dù đó có thể là thứ người ta coi là có tầm… thế giới. Nhiều nhà thơ đã khuyên nhau bám chắc lấy đời sống dân tộc với những vấn đề đặt ra và cả cái truyền thống có thực của nó.

Những điều viết ra ở đây chỉ là những “cảm nghĩ thông thường” của một người đọc thơ không được nhiều lắm. Có thể là thứ “đánh trống qua cửa nhà sấm”. Mong được châm chước.

Lê Xuân Mậu
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 389

————————–

(1) Xin miễn bình phẩm về giá trị dẫn chứng và cách phân tích này.
(2) Có vẻ ông muốn nói đến đặc điểm “chiếu nguyên lý tương đương trên trục kết hợp” mà Roman Jakovson nêu ra. Nguyên lý đó thể hiện ở các “song trùng cấu trúc”, các ngữ đoạn lặp lại. Nhưng nếu không có giá trị tôn vinh cái nội dung cần biểu hiện thì người ta làm hay làm đẹp để làm gì?!
(3) Xem “Hoài vọng của lý trí”, NXB Hội Nhà văn in năm 2005.
(4) Xin trích lời ông giảng câu này: “Buổi chiều trông hoa quỳnh vẳng nghe tiếng nhạc, ngửi thấy hương trầm, trông thấy mi mỹ nữ của cả một đời xưa”. Nhưng ông bảo Đại ý: hiểu xuôi câu thơ “có khi làm giảm sút độ giàu của cảm xúc đầu tiên”. Vì “hiểu nghĩa xuôi hồn ta chú ý vào nghĩa, cảm xúc thu hẹp lại”, “Như thế chỉ còn nghĩa thu hẹp, thô sơ”. Sau này ông Đỗ Lai Thúy có giảng thêm về ý nghĩa toàn bài: “Buồn xưa, với cách đọc phi tuyến tính, là một thiên hồi tưởng, là một giấc mơ trong một giấc mơ: thi nhân nhớ người đẹp, mường tượng giai nhân trong quá khứ(…):
… Đây là một bài thơ tình yêu đã đi vào dĩ vãng, thành nỗi buồn xưa nhưng không ngừng ám ảnh thi nhân (xem chú thích sau).
(5) Xem bài Nguyễn Xuân Sanh với “Buồn xưa” trong Tạp chí Sông Hương, số 164 – 10/2002.

 

Ý Kiến bạn đọc