Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Thiên tài Bùi Giáng và Lưu Quang Vũ hiện sinh

Tạp chí Thơ số 9 và 10-2018

(Hội Nhà văn Việt Nam) có hai vấn đề chúng tôi thấy cần phải trao đổi. Thứ nhất, con người hiện sinh của Trần Hoài Anh. Thứ hai, thiên tài thi ca Bùi Giáng của Thanh Thảo. Vì không thể gộp vào một bài viết nên chúng tôi phải tách riêng, tuy hai vấn đề, về khách quan, rất quan hệ với nhau. Kỳ này xin trao đổi với nhà thơ Thanh Thảo về thiên tài Bùi Giáng.

Trước hết xin đính chính mấy chi tiết để bạn đọc khỏi bị nhầm:

* Vào tháng 5-1975, một cán bộ ở R (chiến khu) về Sài Gòn mới giải phóng mà thấy “đang thất nghiệp, tương lai chưa biết về đâu…” (Bđd. Các trang 87-88-89), là một sự rất không bình thường. Có thể là rất ngoại lệ. Thời điểm ấy cán bộ ở chiến khu về là của quí hiếm. Cán bộ tất cả các ngành đều phải chi viện từ miền Bắc vào mà vẫn thiếu. Riêng Nhà xuất bản Văn nghệ Giải phóng thuộc Hội Văn nghệ Giải phóng nhưng vì đặc trưng của công việc xuất bản phải gắn với nhà in nên được đặt ở hậu phương miền Bắc. Trước giải phóng các cán bộ chủ chốt của Nhà xuất bản như Hà Mâu Nhai, Thái Thành Đức Phổ, Ý Nhi, Thành Lang, Thành Lũy, Nguyễn Văn Nghĩa… đã lên đường và ngày 30-4-1975 các anh chị đã kịp có mặt ở Sài Gòn. Tiếp đó, toàn bộ Nhà xuất bản đã chuyển vào (29-5-1975). Còn phải bổ sung thêm cán bộ từ chiến khu về. Một cán bộ văn nghệ ở R về mà lang thang thất nghiệp thì rất không bình thường.

* Cán bộ văn nghệ ở chiến khu trước 30-4-1975 thì công việc trước hết, chủ yếu là đào hầm, chuyển căn cứ để chống càn, chống oanh kích (B.52); là đi xuống cơ sở, là gùi lương thực và các thứ cần thiết, là tăng gia sản xuất. Công việc sáng tác xen kẽ trong các hoạt động đó. Lê Anh Xuân hi sinh vì bị ngạt dưới hầm bí mật trong một trận càn. Lê Văn Thảo có kinh nghiệm hơn, thở rất ít, nên thoát chết. Chu Cẩm Phong bị địch bao vây và anh chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Ở chiến khu miền Đông mà đọc và ghi chép kĩ về Bùi Giáng quả là… rất đặc biệt!

* Sau giải phóng ở Sài Gòn đúng là có nhiều rượu Tây, nhưng là ở các gia đình vợ con quan chức ngụy quyền, các tiệm buôn, nhà hàng… Nếu đi đâu cũng được mời uống rượu Tây, còn bia (la-de) là chuyện nhỏ thì chỉ có thể là đi đến đấy. Dân thường làm gì có như thế. Một chiến sĩ giải phóng về Sài Gòn, khi các cơ quan đơn vị đang phải sắp xếp lại mà thấy bất định, lang thang, ngập vào rượu Tây như thế thì các cơ quan đơn vị họ cũng ngại đấy…

* Bùi Giáng điên như thế nào?

Gần đây Bùi Giáng được dựng dậy, khoác cho những bộ áo quá khổ, thêu dệt những huyền thoại mờ ảo. Nhưng theo Thanh Thảo, không phải Bùi Giáng điên mà là Bùi Giáng điên giùm cho chúng ta. Vì bọn tham nhũng nghìn tỉ mới là điên chính hiệu, điên hết thuốc chữa, “Chứ sao gọi một thiên tài thi ca như Bùi Giáng là điên?” (Bđd. Trg.87).

Có phải Bùi Giáng điên giùm cho chúng ta như cách diễn giải của Thanh Thảo không?

Thời kì Bùi Giáng dở tỉnh dở điên thì vấn đề của chúng ta chưa phải là chống bọn quan liêu tham nhũng “bé cái nhầm” tưởng tiền của dân của nước là của mình… Vấn đề chúng ta phải giải quyết lúc đó là bọn xâm lược Mỹ và Ngụy quyền tay sai. Phải xem trong bối cảnh đó, Bùi Giáng đã điên như thế nào, đã “điên giùm chúng ta” như thế nào.

Trước hết phải xem Bùi Giáng có thật điên không? Chúng tôi chưa đủ cứ liệu y học để xem Bùi Giáng có lúc nào đó là điên thực hay không. Qua nhiều văn liệu mà tiêu biểu như của nhà văn Vũ Hạnh, người rất biết Bùi Giáng, là đồng tuế (sinh năm 1926), đồng hương Quảng Nam và đồng nghiệp cầm bút, thì chúng tôi thấy Bùi Giáng chủ yếu là con người lập dị, lập dị đến kì quái. Ông ăn mặc, mang vác lỉnh kỉnh như một người điên. Ở sân Hội Văn nghệ có cái vòi nước. Mỗi khi đến đây, Bùi Giáng hồn nhiên tắm rửa như con trẻ, như ở Bãi tắm Tiên. Thời kì đi dạy học, Bùi Giáng rất sàm sỡ với các nữ sinh, sàm sỡ thô bạo bằng đôi bàn tay… Đây có thể là trạng thái nửa tỉnh nửa điên. Mà có thể là cái lập dị chuyển màu sang cái điên.

Lê Văn Trương rất lập dị đến kinh dị nhưng không hề điên. Ông ta để cái đầu lâu trên bàn làm việc. Khi viết hay gõ gõ vào đó. Vào ngày nóng nực, ông cởi bỏ hết, nòng nõng như trẻ con (Đường viết văn của tôi – Nguyễn Công Hoan. NXB Văn học. H.1971).

Bộ điệu của Bùi Giáng gọi là điên cũng được, mà lập dị cũng được. Song, Bùi Giáng tự nhận là điên. Tự biết mình điên.

Nắng trưa nắng xế đầy trời
Bóng cây râm mát che đời ta điên.

(Thơ tặng)

Tạc thù chén rượu chênh vênh
Ta điên đảo thét người thênh thang cười.

(Nhớ một mình)

Như thế là Bùi Giáng không điên. Bị điên thì không thể tự học đến mức có thể dịch được Exupery – một văn hào Pháp, như Thanh Thảo dẫn. Bị điên người ta thường hò hét lung tung chứ không thể làm được thơ.

Vậy thì sự điên của Bùi Giáng nếu có, là có chủ đích. Sinh thời Bùi Giáng không thấy ông thét vào kẻ thù dân tộc và lũ tay sai, vào nỗi đau của dân tộc và số phận từng người dân nô lệ, vào cái xấu cái ác… Thơ ông đơn thuần là tình cảm hướng nội hay hướng ngoại hay giãi bày y như THƠ MỚI.

Còn có lúc ông thét lên thì ông thét vào danh nhân văn hóa, vào lãnh tụ của dân tộc. Luật gia – nhà báo Hoàng Phương, cựu tù Côn Đảo thời Mỹ – Ngụy, người cùng làng với Bùi Giáng, hiện ở TP. Hồ Chí Minh, cho biết Bùi Giáng nuôi mấy con chó chơi và ông ta lấy tên lãnh tụ của dân tộc đặt cho một con chó. Điên thật hay điên giả như thế ta biết gọi bằng gì. Nếu bây giờ lại có một quí bà quí ông nào đó không gọi con Mi-nu, con Bim, con Phốc, lại gọi là con Bùi Giáng thì bạn đọc yêu thơ Bùi Giáng sẽ phản ứng như thế nào?

Như thế là Bùi Giáng không điên giùm cho chúng ta mà điên giùm cho những tên trùm thực dân đế quốc từ Pháp đến Mỹ, điên giùm cho các đời Ngụy quân Ngụy quyền, cho Bảo Đại và Ngô Đình Diệm… Có thể khẳng định như thế.

* Thiên tài thi ca Bùi Giáng:

Sau những lời tụng ca có cánh của Thanh Thảo là phần giới thiệu chọn lọc thơ Bùi Giáng, có 9 bài. Bài dài nhất đến 70 câu trường thiên bát cú (Phụng Hiến). Bài ngắn nhất chỉ có 2 câu lục bát (Tặng Mã Giám Sinh). Dạng cảm xúc và nội dung 9 bài thơ này hoàn toàn nằm trong trường thẩm mỹ của THƠ MỚI. Giọng điệu giãi bày, cảm thán của Bùi Giáng rất quen thuộc như thơ đương đại:

Tôi xin chịu cuồng si để sáng suốt
Tôi đui mù cho thỏa dạ yêu em.

(Phụng Hiến)

Giở trang giấy cũ ngậm ngùi
Nhìn trong tấm ảnh nụ cười tiền duyên.

(Nhớ một mình)

Về câu lục bát của Bùi Giáng:

Lòng đi trong cõi lòng người
Lòng đi đi mất đi là đi đi.

Thanh Thảo cho là không thể giải thích được, coi như là một định nghĩa cho thơ: Thơ có lẽ là thế chăng? (Bđd. Trg.86).

Nếu chỉ chú mục vào 2 câu này thì sẽ hiểu như thế. Nhưng đặt trong bối cảnh của THƠ MỚI chỉ với ba tác giả sau:

- Huy Cận: Tâm tình một nẻo quê chung / Người về cố quận muôn trùng ta đi.

- Nguyễn Bính: … Giày cỏ gươm cùn ta đi đây / Ta đi nhưng biết về đâu chứ / Mà gió phong yên đọng bốn trời.

- Thâm Tâm: – Người đi, ừ nhỉ, người đi thật.

- Trời hỡi! Mai này tôi phải đi.

Và đây là giải thích của GS. Mã Giang Lân: “Nhiều bài thơ nói đến chủ đề ra đi. Đi đâu và làm gì thì chưa rõ, nhưng đó là sự chán chường cuộc sống chung quanh, phủ nhận thực tại, đòi hỏi có những thay đổi (Mã Giang Lân tuyển tập. Tập I. Trg.201. NXB Văn học. H.2017).

Ngoài câu lục bát trên thì thơ Bùi Giáng vay mượn rất rất nhiều ở THƠ MỚI, một sự vay mượn rất ít sáng tạo, chưa ra khỏi ống tay áo của các nhà THƠ MỚI. Vài ví dụ:

- Bùi Giáng: Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu. (Phụng Hiến)

- Nguyễn Bính: Tôi đi nhưng biết về đâu chứ.

- Bùi Giáng: Hoàng hôn xuống bình minh lên nhịp nhịp. (Phụng Hiến)

- Huy Cận: Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp.

- Bùi Giáng: Còn một đêm còn thở dưới trăng sao. (Phụng Hiến)

- Hàn Mặc Tử: Sao không thấy nàng tiên nào đến khóc / Để mình ta nằm chết dưới trăng sao.

Một bài trường thiên bát cú dài đến 70 câu như bài Phụng Hiến đáng lẽ phải thể hiện được bút lực, tài năng độc đáo của Bùi Giáng, đáng tiếc, lại là bài thơ rất trung bình, đọc lên sẽ thấy nó chìm lấp trong giọng điệu của THƠ MỚI cho đến thơ đương đại. Lại có chỗ mòn xáo lộng ngôn đến quái dị:

Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi
Trần gian ôi! Cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn.

(Phụng Hiến)

Đức Phật nghe mấy câu này chắc rầu lòng lắm. Ngài nói chúng sinh thôi. Còn vi trùng thì Ngài cũng sợ lắm chứ đâu dám yêu! (Phật thoại: Hai người cùng trên đường đến gặp Phật. Đường xa, trời nắng, chỉ có những vũng nước đầy trùng. Một người không chịu được khát, uống nước có trùng. Người không uống chết khát. Người uống nước có trùng thưa hết với Phật. Phật bảo: Người kia đã gặp Phật. Còn ông thì chưa. Tu là chuyển kiếp. Thích Thanh Từ. NXB Tôn giáo).

* Bùi Giáng cũng có những tứ thơ nhẹ nhàng man mác, những xúc cảm chân thành:

Cồn xưa cỏ mọc
Lá sông chảy xuống chân trời
Chảy lên mái tóc
Một mùa thu gục bên tôi…

(Nghe)

Và cũng có chỗ độc đáo trong nỗi buồn:

Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con.

(Mắt buồn)

Hoặc:

Xin chào nhau giữa bụi đầy
Nhìn xa có bóng áng mây nghiêng đầu.

(Chào Nguyên Xuân)

Nhưng chúng tôi chưa thấy trong phần tuyển chọn này có chỗ nào là tuyệt bút, là dấu hiệu của một thiên tài đích thực.

* Trước giải phóng, ở miền Nam cũng có người ca ngợi Bùi Giáng nhưng chưa bao giờ gọi Bùi Giáng là Tiên sinh, là Thiên tài. Phải chăng giới văn học ở miền Nam và miền Bắc trước 1975, trên cả nước sau ngày Thống nhất và cả ở hải ngoại đã không đủ sức nhận ra thiên tài của Bùi Giáng. Và, nếu Bùi Giáng quả thật là một thiên tài thơ thì Huy Cận và các nhà THƠ MỚI, và trước đó là Tản Đà, Tú Xương… và sau này cho đến Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Hữu Thỉnh, Trần Đăng Khoa, Bằng Việt… đều là thiên tài. Dĩ nhiên là phải có cả Thanh Thảo nữa. Nếu không được là thiên tài thì cũng là Phó thiên tài! Hay là một thao tác hạ chuẩn thiên tài, có ta thì có tất cả không ta thì ngã làm không!

Chúng tôi có nói đến sự đề cao Bùi Giáng có quan hệ với đặt Lưu Quang Vũ vào chủ nghĩa hiện sinh. Đây là vấn đề dường như nằm ngoài văn học. Khi nhìn toàn cảnh đời sống chính trị – lịch sử – văn hóa thì thấy rõ điều đó.

Sau khi Liên Xô – Đông Âu sụp đổ thì xuất hiện luồng tư tưởng cho rằng Mác – Lênin đã sai, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã sai. Rằng chế độ này nhất định sẽ sụp đổ (Nguyên Ngọc), rằng các ông cũng phải liệu đi (Nguyễn Huy Thiệp). Rằng phải vượt qua rào cản ý thức hệ (Phan Huy Lê) và chiêu tuyết cho quốc gia Việt Nam. Rằng cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc là sai, ôn hòa khai dân trí chấn dân khí, dân sinh mới là đúng. Những tư tưởng, thể chế, nhân vật từng là đối tượng phải phủ định thì nay được khẳng định, hoặc ít ra, là thừa nhận: Quốc gia Việt Nam, Việt Nam cộng hòa… Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh trở thành Danh nhân Văn hóa bên cạnh Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…

Trước Thanh Thảo, rất gần thôi, TS. Nguyễn Bá Thành trong Đề tài trọng điểm cấp Nhà nước Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945-1975 đã nghiên cứu văn học theo thể chế, lịch đại, xếp Vũ Hoàng Chương, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền là các tác giả tiêu biểu như Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Chế Lan Viên.

Một người đã “đánh đĩ ngòi bút” như Vũ Hoàng Chương theo đánh giá của Chế Lan Viên, người đã viết những câu: Chói lọi sao vàng hoa vĩ đại / Năm cánh xòe lên năm cửa ô… Rồi lại viết: Lá phiếu trưng cầu một hiển linh / Phá tan bạo lực dưới muôn hình… Và:

Sẽ có ngày ta về lại Thủ đô
Lưỡi lê no máu rửa Tây Hồ
Trên tầng chí sĩ bàn tay vẫy
Đai định Thăng Long dưới bóng cờ.

đã được đổi mới như thế. Đó là logic dẫn đến những liên tưởng. Đội trưởng chống buôn lậu ma túy lại là trùm ma túy. Người có trách nhiệm cao về phòng chống tội phạm công nghệ cao lại phạm tội bằng công nghệ cao. Có phải Hội Nhà văn Việt Nam đang dùng “công nghệ cao”, bằng Ngân sách Nhà nước và quyền lực ngôn luận của mình để dựng lại Vũ Hoàng Chương, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền và chủ nghĩa hiện sinh mà chúng tôi sẽ tiếp tục trình bày về một thủ pháp đổi mới lấy gậy ông, dùng mỡ nó…

(Còn tiếp)

Hà Nội, tháng 11-2018

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 526

Ý Kiến bạn đọc