Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Thi pháp học Thử phác họa một chân dung

Là một giáo viên có hơn 30 năm dạy môn gọi là Văn ở trường cấp II phổ thông, khi về hưu, nghe nói đến chuyện “bây giờ dạy Văn phải dạy theo Thi pháp học”, tôi cũng tò mò tìm hiểu. Có một bài viết của một TS trên tạp chí đầy uy tín là tạp chí Nghiên cứu Văn học làm tôi phân vân. Tác giả bảo rằng: “phân tích theo thi pháp học là cách thức phân tích bám vào văn bản là chính, không chú trọng đến những vấn đề nằm ngoài văn bản như: tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội”, hay “dạy văn theo hướng thi pháp học nghĩa là nghiêng về phân tích hình thức nghệ thuật tác phẩm”. Tôi tự hỏi: “Sao lại có thể như thế được nhỉ?”. Tôi tìm đọc đến những vị được gọi là “nhà” và có thể có thương hiệu quốc tế “made in” cho lý thuyết Thi pháp học của mình như có người xưng tụng… Nhưng nhiều điều ở các vị ấy cũng thấy không rõ ràng. Ngay cái câu hỏi cốt yếu của một khoa học là đối tượng là gì? cũng trả lời không thuyết phục(1). Vì có vị nói có nhiều thứ Thi pháp học, thứ nghiên cứu tác phẩm, thứ nghiên cứu tác giả, thứ nghiên cứu giai đoạn… Thế là xuất hiện ở tôi cái nhu cầu đi tìm “một chân dung” Thi pháp học có ý nghĩa khoa học và thích dụng với người dạy Văn, người muốn học sáng tác như mình – ít ra là “cho mình”!

Theo cách hiểu thông thường của những người thuộc loại người đọc, người dạy văn thông thường như chúng tôi, “thi pháp” là phép tắc làm ra một sản phẩm văn chương (với chữ “thi” hiểu như chữ “văn chương” hiện nay gồm cả thơ và văn xuôi mang tính nghệ thuật). Thế thì dù bị chê là “lầm tưởng”, chúng tôi vẫn nghĩ chỉ nên coi tác phẩm văn học là cái “chỉnh thể văn học” mà thi pháp học phải nghiên cứu(2). Và như thế cần phải từ những hoạt động “cấu tạo” tác phẩm văn học để trả lời câu hỏi “Thực chất thi pháp là gì?”. Và sau đó là câu hỏi “Thi pháp học nghiên cứu cái gì ở tác phẩm?”. Trả lời những câu hỏi ấy chúng tôi nghĩ sẽ đi tới vận dụng thi pháp học vào việc sáng tác, việc đọc và dạy đọc tác phẩm văn chương – kể cả các tác phẩm nghị luận mang hơi hướng văn chương – có hiệu quả hơn.

Sáng tác hay đọc các văn bản văn chương cũng chỉ là tham gia một hoạt động giao tiếp ngôn ngữ, chuyện phải “dạy giao tiếp ngôn ngữ”, chuyện tuân theo các qui tắc chung trong tiếp nhận ngôn ngữ là điều cần khẳng định. Những qui tắc trong tạo mã, giải mã trong giao tiếp đời thường cũng như giao tiếp nghệ thuật thực ra không khác nhau về nguyên lý. Không có sự quá khác nhau hay “đối lập” nhau “tuyệt đối” như những người cực đoan thường nghĩ(3). Qui tắc hai bên phải tuân theo những qui phạm của xã hội như phải tôn trọng các qui tắc ngữ pháp chẳng hạn (trừ sự vi phạm có dụng ý) là thứ như thế… Lại phải có thái độ cộng tác, không vi phạm những “phương châm” chung, trong đó có sự chấp nhận các kiểu nói “thẳng thừng” hay vòng vo của nhau. Và như thế bên nói tôn trọng bên nghe, bên nghe cũng không bắt bẻ vô lý khi họ làm theo các ước lệ của kiểu nói năng, của nghệ thuật mà “vi phạm” những điều “lôgích” thông thường… Nói chung, hai bên phải khắc phục những rào cản để có thể hiểu nhau, nắm được “ý” của nhau, chấp nhận những cách “tạo mã” đặc thù nào đó của nhau để tiếp nhận được thông báo của nhau. Không thể chỉ chú ý đến ngôn từ vì ngôn từ, cũng không thể không thưởng thức những vẻ đẹp ngôn từ mà nhà văn công phu tạo ra trong cái thông báo gửi đến nhau… Vì vậy phân tích, tiếp nhận văn chương cũng không thể coi những gì thuộc về ngôn ngữ lại xa lạ với ngôn ngữ nghệ thuật, cũng không thể nhân danh thi pháp học để không biết đến các điều “ngoài văn bản” như tiểu sử tác giả, như hoàn cảnh sáng tác nhất là các giá trị phản ánh hiện thực (các hoàn cảnh đời sống…). Văn bản không thể nằm ngoài những mối quan hệ ít nhiều gián tiếp với các yếu tố đó.

Riêng về việc cấu trúc tác phẩm, rất nên từ thực tiễn sáng tác, các kinh nghiệm sáng tác của các nhà văn và các nhà nghiên cứu đã ghi nhận có thể giúp ta hiểu cách xây dựng tác phẩm văn học, quá trình tìm tòi của họ. Từ đó ta hiểu được những nguyên tắc cấu trúc tác phẩm tức là hiểu được cái gọi là “Thi pháp sáng tạo” tác phẩm đó.

Có thể phác ra trên nét lớn quá trình sáng tác một tác phẩm văn chương như thế này. Khi từ một “sự kiện đời sống”, đã có một cái “ý tưởng”, một cái “thông điệp” muốn biểu đạt ra (tức là có cái “nội dung”), nhà văn phải chọn một hình thức để thực hiện. Có thể là kịch chẳng hạn. Xét về thể loại, Kịch là một câu chuyện kể lại trên sân khấu. Câu chuyện đó khác câu chuyện kể lại bằng lời kể của hình thức “truyện – tự sự”. Tất nhiên nhà văn phải chú ý đến cả việc chọn các “tiểu loại” của hình thức kịch như bi kịch, hài kịch, cả các kịch chủng khác nhau như chèo, tuồng… để xử lý đúng đặc điểm của chủng loại kịch đó. Cái nội dung nhà văn cần tìm ở tác phẩm đi liền sau đó là một cái “hình thức của nội dung”, một cốt truyện “gói” được vấn đề, “nói” được những điều muốn nói – và một “hình thức của hình thức” cần có là sự “sân khấu hóa” câu chuyện với những tính cách mâu thuẫn, xung đột có ý nghĩa với chủ đề, với những diễn biến có thể “diễn lại” trên sân khấu (và phù hợp với đặc điểm của kịch chủng đó). Sau khi giải quyết xong những thứ đó mới là việc chọn và tổ chức các chất liệu cụ thể ở nội dung và hình thức. Bản chất “thi pháp” của tất cả các sáng tác văn học đều đòi hỏi phải tôn trọng như thế với những đặc thù của thể loại về nội dung và hình thức, những cái chi phối “phương thức cấu tạo tác phẩm” như Tomashevski nói. Muốn làm một câu đố như câu đố dân gian Việt Nam cũng phải đi tìm cái “hình thức của nội dung” của nó là tìm một vật có thể vừa che giấu vừa làm lộ ra cái vật cần tìm; sau đó là tìm cái “hình thức của hình thức” là lối diễn đạt “nửa kín nửa hở”. Không làm được các công việc đó thì chưa thể “diễn đạt” được cái nội dung muốn đố. Như thế cái bí quyết sáng tạo, “cấu tạo” tác phẩm theo thi pháp trước tiên thể hiện ở hai sự chọn lựa đó. Có hai thứ đó mới tạo điều kiện sáng tạo ra được cái đặc sắc, giá trị đích thực của mỗi tác phẩm vì chúng giúp người sáng tác liên kết tất cả những “thực chất”, những “chất liệu” của nội dung và hình thức anh ta cần biểu đạt. Tất cả những nhân vật, những tính cách có tính phát hiện… nếu không được gói lại trong hai cái “hình thức” của nội dung và “hình thức” của hình thức thì không sao phát huy hiệu quả nghệ thuật được.

Cái cách phân biệt “hình thức của nội dung” và “hình thức của hình thức” nêu ra trên đây, chúng tôi mượn của một nhà nghiên cứu ngôn ngữ(4). Ông tách bạch hai thứ hình thức trong tác phẩm. Đó là hình thức của các “chất liệu” nội dung và hình thức của diễn đạt hình thức. Cái hình thức của nội dung đó theo A. Compagnon, là cách “tổ chức các chất liệu nội dung” theo đặc thù của mỗi thể loại hình thức “lớn” bao trùm ở tác phẩm. Đó là sự hư cấu ở các tác phẩm văn chương thuộc loại này. Có thể hiểu, cái “hư cấu” đó ở truyện – tự sự là cốt truyện; ở kịch, nó là hành động kịch trong một cốt truyện có kịch tính; ở thơ, nó là tứ thơ. Có thể hiểu đó là một cái gì đó “gói” lại những cái còn rất mung lung, bề bộn của cái nội dung. Không có cái “hình thức” ấy, “nội dung” chưa có cái hình hài cần có, các cái cần “được biểu hiện” kia không thể biểu hiện ra được dưới một hình thức “trọn vẹn” của nó vì thiếu cái “khung”, cái “cốt”, cái “điểm tựa”. Về hình thức của hình thức cũng vậy, người sáng tác phải tìm ra một hình thức cụ thể trong cái thể loại hình thức kia để “gói” các yếu tố hình thức cần có. Một thể thơ cách luật hay tự do sẽ chi phối các hình thức vần điệu ở ngôn từ mà thể loại Thơ cần có. Ở kịch, đó là một cốt truyện đã “sân khấu hóa” để có thể kể lại trên sân khấu chủ yếu bằng lời của các nhân vật xuất hiện trên sân khấu, kể cả lời tác giả, dàn đồng ca… khi chúng xuất hiện trên sân khấu, tham gia vào câu chuyện.

Như vậy trong một tác phẩm văn chương, thi pháp học nghiên cứu không phải tất cả Nội dung và Hình thức của nó và những thứ liên quan như tác giả… Thi pháp học chỉ nghiên cứu phần hình thức của tác phẩm, nhưng là cả hai thứ “hình thức” của nó: “hình thức” của Nội dung và “hình thức” của Hình thức – tức là sự tổ chức những cái “thực chất”, “chất liệu” cụ thể ở cả hai mặt nội dung và hình thức. Nghiên cứu hai thứ đó ta mới tiếp cận được cái đặc sắc trong cả nội dung và hình thức của tác phẩm trong phần “cấu trúc” của nó.

Hiểu thi pháp học như thế, chúng tôi nghĩ sẽ không phiến diện cực đoan như mấy “nhà” chỉ chạy theo “hình thức” đơn thuần theo nghĩa quen dùng. Khi nắm được cái “hình thức của nội dung” mà ta có thể gọi chung là cái “tứ” ở văn bản nghệ thuật, ta mới tiếp cận được quá trình tư duy, sáng tạo của nhà văn, hiểu được công việc của họ và cái “hay” có thật về nội dung mà họ dày công tìm tòi để gửi tới người đọc; chưa kể tiếp nhận những ấn tượng đặc sắc, những cảm xúc tinh tế… rất có giá trị truyền cảm, rất đáng trân trọng mà những yếu tố “hình thức” của Hình thức (diễn đạt) đã được chọn để “tôn vinh” nó. Xác định như thế, chúng ta cũng sẽ không sa đà vào những cái thuộc “nội dung” nhưng không tác động trực tiếp vào việc cấu trúc tác phẩm như những thứ “quan niệm về con người”, và các “quan niệm” về những hiện tượng tự nhiên, xã hội khác… gắn với thế giới quan, nhân sinh quan… của tác giả. Và như thế ta sẽ không đồng nhất thi pháp học với các ngành nghiên cứu “phong cách” tác giả, nghiên cứu các “phương pháp sáng tác”, các trào lưu, các “chủ nghĩa”… như trong lý luận văn học người ta làm tuy ở đó có thể gặp những vấn đề như những qui định, những yêu cầu về việc chọn lựa các yếu tố hình thức, như các qui tắc “cấu trúc” (kiểu luật “tam duy nhất” ở phương pháp sáng tác kịch cổ điển Âu châu…). Đó là những thứ giống như những phần “giao thoa” trong nhiệm vụ nghiên cứu giữa các ngành này ngành khác ta thường gặp mà mỗi ngành có góc tiếp cận riêng.

Hiểu thi pháp học như vậy, chúng ta tìm đến thi pháp học là tìm đến những nghiên cứu nghiêm túc về những phương thức cấu tạo tác phẩm, con đường người viết đi tới tác phẩm với những “nguyên tắc” phải theo, những kinh nghiệm vận dụng của các người đi trước (khi họ vận dụng thi pháp khôn khéo để có được “phong cách” riêng)… Chúng ta cần đến thi pháp học để biết cách làm ra tác phẩm đúng với kiểu loại lớn nhỏ của nó khi sáng tác để làm theo. Đứng về phía người thưởng thức, biết cái “thi pháp” như thế, ta sẽ tiếp nhận và phân tích tác phẩm dễ dàng hơn, thấy cái tài cái khéo của tác giả đúng “khoa học” hơn. Đó chính là “lợi ích” thi pháp học đem lại cho người thưởng thức. Và đó là “lý do” ta tìm đến thi pháp học trong việc giảng dạy văn chương. Nếu thi pháp học cứ nói lý thuyết chung chung và lẫn lộn thì nó giúp gì cho người giảng dạy mà yêu cầu người ta phải vận dụng?!

Chúng tôi rất ý thức về vị trí người đọc, người dạy đọc phổ thông, người chỉ làm công việc lý luận kiểu nghiệp dư. Việc hình dung một chân dung Thi pháp học như thế cũng chỉ là công việc nghiệp dư, thậm chí bình dân. Nhưng vì cái nhu cầu thiết thực của mình mà phải làm. Thế thôi. Không có cao vọng “trước thư lập ngôn”, nhất là tạo “mô hình” có ý nghĩa thương hiệu gì gì đó. Xin được thông cả và chỉ giáo thêm. 

Lê Xuân Mậu 
(Q. Ba Đình, Hà Nội)
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 382

—————————–

(1) F. Saussure có đặt câu hỏi về cái khoa học ông gọi là phù hiệu học như sau: “Tại sao khoa học này lại chưa được thừa nhận là một khoa học độc lập mặc dầu nó cũng có một đối tượng riêng (LXM nhấn mạnh) như tất cả các khoa học khác?”. Không xác định được “đối tượng riêng” thì sao thành “khoa học”, vì nó nghiên cứu cái gì?
(2) Ông Đỗ Đức Hiếu, trong “Thi pháp hiện đại” cũng cho rằng Thi pháp (Thi pháp học?) nghiên cứu tác phẩm văn học từ các hình thức biểu hiện ngôn từ nghệ thuật để làm hiện các ý nghĩa hiển hiện hoặc chứa ẩn ở tác phẩm, ý nghĩa mĩ học, triết học…
(3) Những lý thuyết văn học chuyên sâu đưa vào nhà trường có nguy cơ tạo ra một sự tách rời giữa kinh nghiệm có được trong các mối liên kết trực tiếp hơn và kiến thức học được tại nhà trường. Ngày nay nguy cơ đó càng lớn hơn bao giờ hết, bởi tri thức và các phương thức của kỹ năng chuyên môn đã phát triển với tốc độ nhanh chóng trong vài thế kỷ qua. Đó là lời nhắc của J. Dewey trong cuốn “Dân chủ và giáo dục”.
(4) Hjelmslev mà Antoine Compagnon dẫn lại trong Bản mệnh của lý thuyết – Đặng Anh Đào và Lê Hồng Sâm dịch.

Ý Kiến bạn đọc