Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi - Mục con

Thế nào là người thầy?

(Tiếp theo số báo 540, ngày 4-4-2019)

 

Tại sao phải có thầy? Ông bà xưa dạy Không có thầy đố mày làm nên, nên phải tìm thầy học đạo. Mà đã đi học thì phải tôn sư trọng đạo. Vì rất thực tế: một chữ nhờ thầy, nửa chữ nhờ thầy.

Xưa thầy trò Khổng Tử vào rừng chơi, gặp một người đang khóc. Hỏi vì sao? Đáp: Tôi bị mất cái cung. Một học trò nói: Một người nước Sở mất cung lại một người nước Sở được cung thì có mất đi đâu mà khóc. Khổng Tử bảo: Sao không nói Một người mất cung thì một người được cung có mất đi đâu… Một người nước Sở mất cung đến Một người mất cung là khoảng cách trí tuệ từ Trò đến Thầy.

Giáo sư Nguyễn Kim Đính, khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội – nay là Đại học KHXH&NV Đại học Quốc gia Hà Nội – năm nay đã 89 tuổi nhưng còn khỏe mạnh, minh mẫn. Thầy nhớ lại, buổi đầu Giáo sư Đặng Thai Mai giảng thiên Đại học trong sách Tứ thư cho lớp Văn khoa Đại học, năm 1957, ở giảng đường Lê Thánh Tông. Sau khi giảng giải bài học, Giáo sư nói đại ý: Minh đức của người Việt Nam, dân tộc Việt Nam là độc lập tự chủ. Điều chí thiện mà nhà trường phải đạt được là Thầy phải dạy cho thật tốt Trò phải học cho thật tốt.

Thật là chí lí. Nếu chỉ thuộc lòng Đại học chi đạo tại minh minh đức tại tân dân tại chỉ ư chí thiện mà không vận dụng vào cuộc sống thì thành ra những con vẹt nói cửa Khổng sân Trình. Các thế hệ học trò của thầy Mai ở thời đại Hồ Chí Minh đã đi qua hai cuộc kháng chiến, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của người trí thức đối với dân tộc. Nhưng phải có người Thầy chỉ ra, mở ra, khai tâm cho học trò từ trang sách đến cuộc đời.

Thầy Trịnh Trung ở cấp III Vĩnh Lộc (Thanh Hóa) khi giảng bài Vợ chồng A Phủ, hỏi: Chi tiết nào mô tả cô Mỵ rất đẹp? Cả lớp loay hoay mãi không tìm ra. Thầy bảo: Khoảng đất dưới sân nơi Mỵ nằm nhẵn thín dấu chân các chàng trai đến rủ Mỵ đi chơi… Quen với hình ảnh cô gái đẹp phải là gương mặt đôi mắt cặp mày bờ vai mái tóc nên chúng tôi không thấy ra chi tiết đó. Chi tiết nhỏ mà không nhỏ, Thầy chỉ ra cho chúng tôi.

Như vậy, người Thầy phải có tri thức chắc chắn, càng sâu rộng càng tốt, để hướng đạo cho học trò. Điều mấu chốt của người Thầy là tri thức và đạo đức. Còn cách truyền đạt cho người học là phương pháp. Cuộc cách mạng của GS. Hồ Ngọc Đại thực ra chỉ là phương pháp, một trong nhiều phương pháp. Ở cấp sơ học thì có thể tổ chức, giao việc cho học trò như tập đếm, tập làm bốn phép tính… Nhưng đến quĩ tích, đạo hàm, các đẳng thức lượng giác phức tạp đòi hỏi tư duy trừu tượng, đòi hỏi trí tưởng tượng thì phương pháp của GS. Hồ Ngọc Đại là bất khả thi. Điểm mấu chốt của người Thầy là tri thức. Biết trăm biết ngàn để dạy một vài. Ở xã hội hiện đại, người Thầy được đào tạo qua nhà trường Sư phạm các cấp. Nhưng ngày xưa chưa có trường Sư phạm thì người có học, có chữ nghĩa, tài đức, thường là các bậc khoa bảng, đứng ra mở trường dạy học, theo lời Khổng Tử: Hối nhân bất quyện, như đã nói ở bài trước.

Đào tạo giảng viên Đại học ngày nay cũng gần như vậy. Sinh viên xuất sắc được giữ lại, bồi dưỡng, tập sự từ trợ giáo, phụ giảng đến giảng viên chính, rồi phải tự nghiên cứu khoa học để có được tri thức cao hơn thể hiện ở các học vị Thạc sĩ, Tiến sĩ, Tiến sĩ khoa học. Có trình độ, có tư cách, có thành tích cụ thể thì được phong hàm cấp Phó giáo sư, Giáo sư…

Người Thầy xưa kia là tự phát từ lòng chí thiện muốn đem chữ nghĩa học được truyền lại cho đời. Không phải từ đào tạo nguồn nhân lực hay nghề mưu sinh như bây giờ. Thầy cũng là con người, cũng phải sống bình thường, có nơi ăn chốn ở, có người yêu có vợ có con an cư lạc nghiệp, nhưng mục tiêu, chí hướng, thiên chức của người Thầy là Dạy người, dạy chữ để làm người, làm người chí thiện (Đại học, Khổng Tử).

Thời hiện đại, Văn Trường Sư phạm là một bậc Thầy Chí Thiện: Đó là thân phụ của nhà thơ Minh Hiệu, quê ở Văn Trường, Nông Cống, Thanh Hóa. Cụ được bổ làm giáo học trường công lập thời Pháp thuộc, ăn lương nhà nước (Bảo hộ). Nhưng cụ nghĩ tiền nhà nước là cả khoản đóng góp(sưu thuế thời xưa) của những gia đình không có con em đi học. Không được học mà vẫn phải trả tiền cho Thầy là bất công. Cụ xin thôi. Về mở trường dạy tư. Ai đến học mới phải đóng học phí. Không ngờ người đến xin học rất đông. Tiền học phí có khi còn hơn lương thầy giáo trường nhà nước. Khi Thầy qui tiên, học trò chịu tang đủ lễ, có bức trướng kính viếng: Văn Trường Sư phạm. 

Có giai thoại rất hay về Cụ Cao Xuân Huy, một nhà sư phạm, nhà Hán học nổi tiếng, thân phụ của nhà Ngữ học Cao Xuân Hạo. Cụ đang đọc sách trong thư phòng. Trộm tưởng nhà vắng người, vào lấy đồ. Cụ không kêu la, còn gọi với theo: Cháu cần gì thì cứ đến lấy.

Chuyện về các bậc thầy xưa nay ở Việt Nam còn nhiều và hay lắm, tiếc rằng chưa có công trình nào về Lịch sử Sư phạm Việt Nam. Có mấy quyển biên soạn về nhà giáo như Từ bục giảng đến văn đàn (GS. Trần Hữu Tá), Những người Thầy (Nguyễn Hải), nhưng không có tiêu chí nhất quán, còn rất tùy tiện. Một nhà giáo dù tài giỏi về chuyên môn, độc đáo về phương pháp sư phạm nhưng can dự vào những chuyện phản quốc thì không thể ca ngợi, không thể vinh danh là Danh nhân Văn hóa được. Vì nó phản lại bản chất của ngành Sư phạm, của người Thầy là chí thiện.

Chúng tôi may mắn được đến trường từ Sơ học đến Đại học. Nên lấy làm buồn vì có một số trường hợp làm vẩn đục thanh danh nhà giáo khiến dư luận xã hội phải lên tiếng phê phán: Dạy thêm ở nhà lạm thu ở trường, gian lận thi cử, sàm sỡ dâm ô với học trò, thầy cô kéo nhau vào quán phê ma túy… Có người phải ra tòa, bị kết án như thầy giáo Sầm Đức Xương ở Hà Giang mấy năm trước. Nhiều chuyện buồn lắm. Thầy giáo phải mô phạm, phải làm gương mẫu trong cuộc sống về mọi phương diện. Có những việc người thầy không nên làm. Dẫu khó khăn thiếu thốn cũng cố chịu đựng hay tìm cách khác khắc phục. Tôi nghe kể lại mà buồn mãi. Thầy T… sau này cưới cô học trò, bạn đồng môn với tôi. Thầy nổi tiếng tháo vát. Bà nhạc mẫu của Thầy, chính bà, bà Bảo Viên nức tiếng một thời, kể lại: Nhà nuôi được con lợn. Thầy tự tay mổ thịt đem ra chợ bán. Đã bán thịt thì phải xả thịt, pha thịt, xẻo thịt, cân lường thêm bớt, xòe tay đếm tiền, mặc cả… Nhớ lại đêm văn nghệ chào mừng các chuyên gia Liên Xô ở Thủy điện Bàn Thạch (Thọ Xuân) hồi 1960, Thầy độc tấu violon bài dân ca Nga, các bạn chuyên gia, trong đó có mấy bóng hồng, phải đắm đuối… Bàn tay cầm phấn cầm bút, cầm mã vĩ (cần kéo violon) lại cầm cả dao bầu dùi nhọn bê bết máu me… Thầy ơi! Ngày xưa ấy nay còn đâu. Sao thầy chẳng gọi hàng xeo đến, bớt chút đỉnh nhưng nó gọn gàng. Có hôm tôi đang ngồi thưởng trà với họa sĩ Trần Tiến Tự (Tự Mèo), thấy có người đem thực phẩm tươi sống đến, nhưng đã sơ chế. Ông bảo: Cho vào tủ lạnh hộ mình. Đã cần lấy tiền chưa. Chưa ạ, thưa thầy để cuối tuần. Ừ, cứ bảo cô… Ông cười: Tự mình nhặt rau mổ cá cũng được. Nhưng san sẻ công việc cho người khác vừa vui mà cũng chẳng thiệt. Mình phục vụ người. Người lại phục vụ mình, thì cũng như cái cung của Khổng Tử, lọt sàng xuống nia… Mình tự làm, thời gian, dao thớt, xà phòng, nước nôi… thì lại chuôi dài hơn cán.

Thế đấy! Đạo lí ở đời. Phải tôn sư trọng đạo. Phải bắc cây cầu Kiều. Nhưng Thầy phải ra Thầy. Nhịn miếng để giữ tiếng, được tiếng. Nếu vừa làm thầy, vừa làm đồ tể, Sở Khanh Đông Joăng thì học trò sẽ thành ma quỉ, trách sao được.

Cho nên, cái gốc của nhà trường, người Thầy, SGK, Dự án, chương trình đổi mới tổng thể toàn diện… là ở mấy chữ Tân dân, chí thiện (Khổng Tử); học và hành (Hồ Chí Minh); học để biết, để làm việc, để làm người, để chung sống … (UNESCO), đâu phải đơn thuần ở mấy câu hiện đại hóa, hòa nhập hội nhập, thông lệ quốc tế…

Trong sư phạm, mọi sự là do người thầy, từ người thầy mà ra, mà có, mà nên. Nên phải trở lại từ chỗ bắt đầu, khởi thủy. Xin nói về biên soạn SGK. Dư luận đã nói rất nhiều. Cụ thể hơn như mấy bài của GS.TSKH Nguyễn Xuân Hãn (Đại học Quốc gia Hà Nội, in lại trong Phụ lục Luận chiến văn chương. Quyển 5. Nxb. Văn học. H.2019. Trg.111). GS. Nguyễn Minh Thuyết, tổng chủ biên chương trình SGK đổi mới toàn diện tổng thể, cho rằng một chương trình nhiều bộ sách là thông lệ quốc tế hiện nay. Có như thế, nhưng không nhất nhất phải theo thông lệ quốc tế. Vì Việt Nam có hoàn cảnh điều kiện riêng của Việt Nam mà công thức một chương trình nhiều bộ sách là chưa thích hợp. Sẽ dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, vận động hành lang, cửa sau cửa trước như sự lách luật của nguyên Bộ trưởng Phạm Vũ Luận cho Công nghệ giáo dục của GS. Hồ Ngọc Đại được ứng dụng ở 49 tỉnh thành với gần triệu học trò, trừ Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Như công văn hướng dẫn của nguyên Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển cho các trường các địa phương phải tiếp nhận VNEN! Vả lại, ở bậc Trung học phổ thông, học sinh đang phải học theo, dạy gì học nấy biết nấy, đâu đủ sức lựa chọn (lọc tài liệu) như nhà nghiên cứu. Chúng tôi kiến nghị phương pháp này: Tổ chức cho nhiều nhóm biên soạn, thậm chí cá nhân tham gia biên soạn. Công trình sơ thảo nào tối ưu thì được chọn làm bộ sách chính thức. Chỉ một bộ sách và chỉ một bộ sách. Nếu có đến ba công trình ngang nhau thì xin mời cả ba nhóm tác giả cùng ngồi lại, làm thành một công trình chung. Nếu thuận thì vui. Không thuận thì Ban Tu thư Bộ Giáo dục sẽ quyết định. Sau khi biên tập, chuyển bản can cho các Sở Giáo dục tự in. Các Sở Giáo dục thống kê số lượng học sinh các cấp các lớp trong địa phương dự trù số lượng SGK cần thiết, dư lên một chút, gọi nhà in đến ký hợp đồng là… ngon ơ. Như thế lợi đủ mọi đường. Các nhà biên soạn không sợ thiếu đất múa bút. Công trình được chấp nhận thì khoản nhuận bút cũng khổng lồ. Xã hội, mà cụ thể là phụ huynh học sinh không phải vét túi mỗi năm hàng ngàn tỉ đồng. Bỏ được nạn độc quyền SGK cùng là in lậu. Bớt được công vận chuyển. Công nghệ in ngày nay thì nhà in ở các tỉnh có thể đảm nhiệm được. Vả thời hiện đại, gọi một cú điện thì năm bảy nhà in có mặt, lo gì. Chỉ ở trình độ cao, giáo viên giảng dạy bộ môn và người học đủ sức tự chọn thì hãy một chương trình nhiều bộ sách. Mà đã có rồi: Giáo trình của Đại học Sư phạm do Thầy Sư phạm soạn. Giáo trình của Đại học KHXH&NV do Thầy Ngữ văn hay Lịch sử hay Xã hội học, Văn hóa học… biên soạn. Nhu cầu tri thức ở cấp THPT cần tri thức cơ bản. Còn cách thức tri thức chưa phải là cấp thiết. Lớp chuyên trường chuyên sẽ đảm nhận chức năng này. Còn đại trà thì chưa cần vì chưa thể.

Nếu làm được như thế, là rất dân chủ công bằng công khai trong biên soạn. Còn SGK thì phải pháp qui và duy nhất một chương trình một bộ sách. Lợi mọi đường. Có thể một số bộ phận không còn được hưởng lợi như trước. Nhưng đạo làm Thầy, lấy minh minh đức (làm cho cái đức đã sáng càng sáng hơn), lấy tân dân, chí thiện làm cứu cánh thì mọi sự dễ dàng đồng thuận. Kính mừng thay: Người Thầy!

Hà Nội, 24-3-2019

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 541

————————

TB:
Sách giáo khoa THPT cần độ ổn định. Sau 10 năm biên soạn lại. Trong khoảng thời gian đó có đột biến thì Bộ GD-ĐT thông báo trực tuyến và tiếp đó bằng văn bản cho nhà trường. Ví dụ có tác giả đương đại được chọn vào SGK. Bỗng nhiên tác giả này đột biến, tổ chức cắt sao giải hạn, gọi vong xá tội, say rượu xoa đùi vỗ mông học trò, phê ma túy hay công khai gia nhập các thứ như Văn đoàn độc lập… thì Bộ GD-ĐT phải lập tức tuyên bố xóa bỏ phần học này.
Về tác giả văn học, tác phẩm văn học không thể tùy tiện chọn vào văn 9 hay đề thi Văn các năm 2017 (chọn Đặng Hoàng Giang) và năm 2018 (chọn một tác giả trong Văn đoàn độc lập). Tác giả tác phẩm được chọn vào SGK phải là mẫu mực về tất cả. Chọn tác giả tác phẩm trên báo chí (nhật báo, tuần báo, tạp chí…) phải là đặc biệt xuất sắc, phải mô tả đầy đủ về tác giả, tác phẩm, thời gian công bố (xuất bản), giá trị tư tưởng – nghệ thuật.
Kiên quyết loại bỏ phần bài tập ra khỏi SGK để trở lại đúng nghĩa SGK. Cần tự trọng, không nên ăn theo SGK kiểu tham khảo, nâng cao như Văn 12 nâng cao (GS. NĐM) hay Để học tốt môn Văn hay 101 bài văn mẫu theo kiểu nghìn lẻ một cái hay rất hay.
Một vài thiển ý, mong được chỉ giáo.

Ý Kiến bạn đọc