Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Thế là quy chụp và xuyên tạc

(Đáp lời ông Vũ Minh Giang Phó chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam)

Xem các bài “Không thể xuyên tạc các nguyên tắc” của ông Vũ Minh Giang trên Xưa & Nay số 487, tháng 9-2017 và bài của ông Phạm Hùng – bản tán phát – thì thấy rõ chính các ông đã xuyên tạc và quy chụp cho Tuần báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh (VN TP.HCM) và các tác giả có bài viết về các vấn đề lịch sử. Vì vậy, chúng tôi thấy rất cần thiết phải trao đổi thẳng thắn với nhau để đi đến sự đồng thuận.

Không thể quy cho Tuần báo VN TP.HCM là đã tổ chức một chiến dịch, tập hợp các tác giả để chống lại việc biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam.

Chúng tôi chỉ trao đổi ý kiến, nêu lên quan niệm của chúng tôi và nhận xét về ý kiến của các vị đã phát biểu chính thức trên báo chí hay trong các Hội thảo. Đó là quyền lợi của công dân trong khuôn khổ dân chủ học thuật. Các nhà khoa học trong Hội KHLS Việt Nam có quyền, đúng hơn, là có trách nhiệm đưa ra các luận điểm về sử học. Đây là trách nhiệm công dân của các vị vì đã được Đảng và Nhà nước thông qua các cơ quan có trách nhiệm như Viện Hàn lâm KHXH, Viện Sử học giao cho việc biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam.

Nội dung góp ý, trao đổi, thậm chí tranh luận hay phản bác… của chúng tôi như thế nào thì nên trao đổi lại cụ thể ở nội dung đó. Sao lại xem đó là chống lại, là xuyên tạc các nguyên tắc của khoa học lịch sử?

Phải nói ngay về nguyên tắc sử học.

Nguyên tắc có nhiều cấp độ. Có nguyên tắc được xem là cao nhất của các cơ quan, tổ chức xã hội có thẩm quyền đưa ra. Như quan điểm của Đảng và Nhà nước về các vấn đề của khoa học xã hội phải được xem là nguyên tắc cao nhất. Như vấn đề ý thức hệ trong xã hội Việt Nam hiện nay thì chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn là nguyên tắc cao nhất trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Có nguyên tắc do Hội KHLS đưa ra chẳng hạn. Như nguyên tắc, hay quan điểm toàn diện, toàn bộ trong nghiên cứu sử học. Nhưng nguyên tắc nào cũng do con người đưa ra. Do một cá nhân hay một số cá nhân đề xuất, được tập thể đồng thuận, thông qua… Nguyên tắc tiếp cận toàn diện, toàn bộ cho dù do một cá nhân đề xuất, từ GS. Phan Huy Lê chẳng hạn, khi được Hội KHLS hoặc Ban biên soạn Lịch sử Việt Nam thông qua thì nó trở thành nguyên tắc có tính chất cao hơn một luận điểm cá nhân. Song Hội KHLS Việt Nam dù có tới 5.000 hội viên, vẫn là một tổ chức xã hội – chính trị – nghề nghiệp về chuyên ngành lịch sử, nó chưa phải đại diện cho toàn bộ đời sống văn hóa xã hội, càng chưa phải đại diện cho toàn dân về văn hóa và lịch sử. Do đó nguyên tắc toàn diện, toàn bộ do Hội KHLS đưa ra, nhất là do GS. Phan Huy Lê đề xuất, chưa phải là khuôn vàng thước ngọc cho nghiên cứu sử học, nó cần được xem xét, bổ sung cho hoàn thiện hơn mà chúng tôi sẽ nói ở sau.

Anh-minh-hoa---The-la-quy-chup-va-xuyen-tac---Anh-3
Hoàng đế Pháp Napoléon III tiếp sứ đoàn Việt Nam do Thượng thư Phan Thanh Giản làm Chánh sứ
để tạo hòa hiếu và tìm cách “chuộc” lại ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, chiều 5/11/1863.
Ảnh bản khắc trên tờ Thế giới Họa báo (Le Monde Illustré). (Nguồn: www.chungta.com)

Hạt nhân của các nguyên tắc bao giờ cũng là quan điểm tư tưởng, là ý thức chủ quan hay ý thức hệ. Với tư tưởng cúc cung phục vụ cho chính quyền thực dân thì bài nói của Toàn quyền Albert Sarraut năm 1818 ở Hội nghị báo giới Nam kỳ là khuôn vàng thước ngọc cho những nhà làm báo Việt Nam (Nghĩa vụ của nhà làm báo. Thượng Chi văn tập. Nxb. Văn học – 2006). Nhưng với những người yêu nước và cách mạng, có tinh thần hay quan điểm dân tộc, thì Sarraut là tên thực dân cáo già rất quỷ quyệt. Và thực tế lịch sử đã chứng tỏ như thế. Vậy thì không nên sùng bái quan điểm toàn diện, toàn bộ như là một nguyên tắc tối cao bất biến. Dự thảo Báo cáo chính trị của Đảng trước các Đại hội toàn thể, dự thảo Hiến pháp và nhiều dự thảo Pháp luật khác được đưa ra cho toàn dân thảo luận, góp ý. Vậy thì Sử học có lý do gì để bó mình trong nguyên tắc toàn diện, toàn bộ…? Như thế chẳng phải là không khoa học và mất dân chủ hay sao?

Đi vào cụ thể các bài trao đổi trên VN TP.HCM, chúng tôi thấy các tác giả rất có tinh thần khoa học, dân chủ, xây dựng. Xin đọc bài của các tác giả Vũ Kim Biên và Trương Thanh Hùng trên VN TP.HCM, số 464 ngày 24-8-2017. Trước hết, phải khẳng định Ban biên tập VN TP.HCM đã tổ chức, biên tập được một số báo rất tốt, rất hữu ích cho bạn đọc. Phong phú, đa dạng về thông tin khoa học. Ngôn ngữ trao đổi bình tĩnh, nhã nhặn, vừa cầu thị vừa tôn trọng người đối thoại và bạn đọc. Bài “Văn Cao và Phạm Duy…” của tác giả Văn Thao, trưởng nam của nhạc sĩ Văn Cao đã cho biết thực chất con người Phạm Duy, vạch trần sự xuyên tạc cố tình và ác ý của Thụy Khuê. Một bài báo có tác dụng xua tan đám hỏa mù về Phạm Duy, đem lại cho bạn đọc sự hiểu biết đúng đắn, mà như chúng tôi đã nói, là những lương thức, nó cao hơn những tri thức chưa đầy đủ hay méo mó. Bài “Hồng Nguyên để NHỚ” của Lê Vạn Quỳnh đưa ra những thông tin rất quý về nhà thơ Hồng Nguyên, đặc biệt tấm ảnh chân dung của Hồng Nguyên thời trẻ, quá đẹp, rất có hồn, làm rung động người đọc trong niềm yêu mến và thương tiếc. “Bài thơ không lời bền đẹp nhất” của Bùi Quang Tú hồi ức về một bạn học cũ ở Đại học Sư phạm Hà Nội đã viết thư cho Bác Hồ, xin được ra chiến trường chiến đấu. Bạn đã hy sinh nhưng tấm gương của bạn sống mãi. Riêng hai bài trao đổi về các vấn đề lịch sử của Vũ Kim Biên và Trương Thanh Hùng thể hiện rất cao tính học thuật và tinh thần dân chủ, lời lẽ khiêm tốn, nhu thuận. Các bài “Hậu hội thảo về nhà Nguyễn” và “Ngụy và Việt Nam cộng hòa” đều có thái độ rất đúng mực. Một tờ tuần báo trong khuôn khổ 24 trang mà đưa được nhiều thông tin có giá trị như thế quả là hiếm hoi trong mặt bằng báo chí hiện nay.

Tác giả Vũ Kim Biên chỉ nói việc tôn vinh công lao của nhà Nguyễn, chỉnh sửa ngay sách giáo khoa… là vội, là hơi vội, là nóng vội và đưa ra những cứ liệu lịch sử rất thuyết phục để chứng minh cho luận điểm của mình. Và ông kết thúc bài báo bằng lời lẽ rất phải chăng: “Vậy là còn phải phát huy dân chủ trong khoa học, tìm tòi nghiên cứu bàn luận rất nhiều cho sáng tỏ, chứ chưa nên vội vàng thực hiện cái gọi là “hậu hội thảo” để có thể nhanh chóng đánh giá công của nhà Nguyễn từ đó biên soạn lại lịch sử Việt Nam, chỉnh sửa sách giáo khoa phổ thông môn Lịch sử. Các nhà sử học có thể đưa ra những chứng cứ lịch sử và phân tích nhận định lý luận chuyên môn. Còn quyền phán quyết cuối cùng nhân vật lịch sử ấy, triều đại ấy, phải đợi sự suy ngẫm chín chắn của toàn xã hội. Mọi thành viên xã hội cùng suy ngẫm, cân nhắc rồi bày tỏ thái độ qua dư luận, trên báo chí, tại các diễn đàn thảo luận… thì mới tổng kết được vấn đề nêu ra”. Không phải nhà nghiên cứu chuyên nghiệp nhưng ý kiến của bạn Vũ Kim Biên có thể xem như một tuyên ngôn cho phương pháp sử học hiện đại.

Anh-minh-hoa---The-la-quy-chup-va-xuyen-tac---Anh-4

Tác giả Vũ Kim Biên đã nói rất trúng một điểm nhấn mà GS. Phan Huy Lê và Hội KHLS cố tình lẩn tránh còn dư luận bạn đọc, qua báo VN TP.HCM, muốn làm sáng tỏ. Đó là vấn đề Hội thảo về các Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn từ năm 2008 cho đến Hội nghị thông báo khoa học cuối tháng 2-2017.

Hội thảo về nhà Nguyễn năm 2008 bộc lộ sự bất đồng rất lớn, rất cơ bản về quan điểm, phương pháp nghiên cứu cùng với thực tế nghiên cứu.

Tiêu biểu là bài của nhà văn Vũ Hạnh trên VN TP.HCM. Cho đến nay GS. Phan Huy Lê vẫn lẩn tránh đối thoại của nhà văn Vũ Hạnh. Và ông vẫn tiếp tục tôn vinh nhà Nguyễn ở Hội nghị sử học tháng 2-2017. Lẽ ra sau Hội thảo cần phải, như tác giả Vũ Kim Biên nói, tổ chức trao đổi rộng rãi hơn, không chỉ trên diễn đàn của Hội KHLS mà còn trên nhiều diễn đàn khác để nhân dân có cơ hội được biết và được phát biểu ý kiến về các vấn đề lịch sử. Nhưng tình hình là ngược lại. Là Hội chỉ lo xúc tiến khẩn trương biên soạn cho kỳ được bộ Lịch sử Việt Nam 30 tập. Năm 2016, phát hành bộ Lịch sử Việt Nam 15 tập rất dày. Bộ này không bán lẻ. Giá cả bộ là 4.800.000 VNĐ. Bạn đọc thông thường, ngay cả các nhà nghiên cứu, rất khó tiếp cận được bộ sách này. Hội nghị thông báo thành tựu nghiên cứu sử học tháng 2-2017 và “hậu hội nghị” càng là vấn đề bức xúc cho bạn đọc. Một Hội nghị thông báo khoa học thì tổ chức chuyên ngành đó đứng ra chủ trì, Viện Sử học hoặc Hội KHLS. Không nên lạm dụng sự quan tâm của Ban Tuyên giáo Trung ương. Sự lạm dụng này đã được các giới người Việt ở nước ngoài thiếu thiện chí lập tức “chớp” lấy, coi như quan điểm của GS. Phan Huy Lê đã được Đảng và Nhà nước khẳng định.

Tiêu đề Hội nghị thông báo thành tựu nghiên cứu mới về sử học là không khoa học. Một công trình nghiên cứu có là thành tựu hay không phải chờ dư luận khoa học, chờ thời gian xem xét. Thông báo kết quả nghiên cứu thì rất đúng. Nhưng thông báo tự nhận là thành tựu thì hoàn toàn trái khoa học. Khoa học, nhất là khoa học lịch sử, đâu phải chuyện con hát mẹ vỗ tay là xong.

Quan điểm (hay nguyên tắc) tiếp cận toàn diện, toàn bộ

Chúng tôi không phản bác quan điểm này, mà muốn nói là nó chưa đủ, chưa đầy đủ, chưa đủ độ tin cậy.

Trong nhận thức luận hay phản ánh luận duy vật biện chứng, đây là yêu cầu sơ đẳng. Toàn diện đối lập với phiến diện. Toàn bộ đối lập với cục bộ. Nhà khoa học chân chính bao giờ cũng phải nhìn đối tượng nghiên cứu một cách toàn diện và biện chứng. Nếu chỉ thấy toàn diện, toàn bộ mà không thấy quan hệ biện chứng giữa các yếu tố thì rất dễ lạc đường, tức là không thấy được bản chất của đối tượng, nhầm yếu tố không bản chất thành ra yếu tố bản chất. Nhìn toàn diện không phải là độc quyền đặc hữu của phép biện chứng duy vật mà là yêu cầu tất yếu của sự nhận thức nói chung, có từ rất lâu đời. Chuyện dân gian Thầy bói xem voi là sự phê phán giễu cợt rất sắc sảo thú vị đối với cái nhìn phiến diện cục bộ. Nếu lại đưa cái nhìn toàn diện toàn bộ làm nguyên tắc sử học, xem như thành tựu mới của sử học thì đến Trần Tử Ngang có sống lại cũng phải bật cười: Nhìn trước, không thấy người sắp đến/ Ngó sau, không thấy kẻ đã qua/ Toàn diện toàn bộ thật vô cùng/ Thái sử một mình mà rơi lệ… Ấy là theo giọng thơ của người xưa, mong các Thái sử thời nay thông cảm.

Chúng tôi có cơ sở để suy luận như trên vì cũng trong năm 2016, một nhà lý luận văn học đưa ra quan điểm tiếp cận toàn cảnh thơ Việt Nam 1945-1975. Theo tác giả này thì toàn cảnh là tất cả mọi tác giả tác phẩm không phân biệt khuynh hướng tư tưởng, vùng miền… Mọi tác giả đều xếp chung vào đội ngũ tác giả. Mọi tác phẩm không phân biệt nội dung đều được xếp cạnh nhau trên cùng một kệ. Theo đó thì toàn cảnh thơ 1945-1975 có 6 nhà thơ tiêu biểu cho 6 loại hình tác giả là Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền… Theo cách nhìn đó thì một người đã “đánh đĩ ngòi bút” như Vũ Hoàng Chương với những câu thơ Cờ đỏ sao vàng hoa vĩ đại/ Năm cánh xòe lên năm cửa ô… (1945), rồi lại: Sẽ có ngày ta về lại cố đô/ Lưỡi gươm no máu rửa Tây Hồ/ Trên tầng chí sỹ bàn tay vẫy/ Đại định Thăng Long một bóng cờ… (1956) cũng ngang giá với Từ thủa mang gươm đi mở cõi/ Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long (Huỳnh Văn Nghệ) hay Anh chẳng để lại gì trước lúc ra đi/ Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ (Lê Anh Xuân)… (Xem Nguyễn Bá Thành. Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945-1975. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – 2016).

Chúng tôi thấy quan điểm toàn diện, toàn bộ rất gần gũi với toàn cảnh trong sự xem xét các hiện tượng văn học và lịch sử. Xin có một vài so sánh:

a/ Quan điểm tiếp cận toàn cảnh: Xem Quốc gia Việt Nam là một thực thể, một chính thể hợp pháp do Bảo Đại làm Quốc trưởng có thủ đô đặt tại Sài Gòn. Trong khi đó Việt Nam dân chủ cộng hòa sơ tán về Việt Bắc tổ chức kháng chiến, hoạt động như một chính thể bất hợp pháp (Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945-1975. Nguyễn Bá Thành. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. H.2016. Xem thêm Văn học chính thể trên VN TP.HCM năm 2017).

b/ Quan điểm (nguyên tắc) toàn diện, toàn bộ: Hiệp định Élysée (1949) có giá trị pháp lý quan trọng. Theo đó Thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hữu là đại diện hợp pháp về chủ quyền của Việt Nam được quốc tế thừa nhận. Hiệp định Élysée là cơ sở pháp lý để Pháp trao trả Nam kỳ lại cho quốc gia Việt Nam…

Các Hiệp ước 1862 và 1874 có giá trị pháp lý quốc tế chứng tỏ người Pháp tôn trọng chủ quyền của nhà Nguyễn đã được xác lập vững chắc trước đó trên vùng đất này (ba tỉnh miền Tây và cả Nam kỳ lục tỉnh).

Như thế, cái nhìn toàn cảnh trong thơ và cái nhìn toàn diện toàn bộ về lịch sử rất giống nhau ở chỗ, trong cái toàn cảnh, toàn diện toàn bộ, lại chỉ lẩy ra những yếu tố có tính chất hình thức, không phản ánh được đúng bản chất.

Vấn đề là phải xem bản chất của các thực thể lịch sử. Phải trên tính dân tộc – khoa học nghiêm túc mới nhận ra bản chất của nó. Một chính thể phải được xem xét ở bản chất chính trị – xã hội của nó. Còn hoàn cảnh và hình thức hoạt động của nó là vấn đề sách lược. Trong chiến tranh, cả khoa Ngữ văn và khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội phải sơ tán lên vùng rừng núi Đại Từ – Thái Nguyên. Thế thì trường đại học này không hợp pháp không chính quy chính thức bằng Đại học Văn khoa Sài Gòn hay sao?!

Nếu nhìn toàn diện toàn bộ thì phải thấy bản chất của các Hiệp ước 1862, 1874, 1884; xem xét bản chất của các chính thể Quốc gia Việt Nam, Việt Nam cộng hòa trong toàn bộ quá trình lịch sử Việt Nam ít ra là từ 1858 đến 1975, trong đó không thể phủ nhận hay xem nhẹ Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa; Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa do Quốc hội phê chuẩn (1946).

Nếu thừa nhận Hiệp định Élysée (1949), thì giá trị của Tuyên ngôn Độc lập và các tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đương thời là như thế nào? Bản án của Tòa án Quân sự Liên khu III tuyên cho Bảo Đại là như thế nào?

Chúng tôi cho rằng nguyên tắc toàn diện toàn bộ mà xa rời quan điểm dân tộc – khoa học thì sẽ biến thể thành những nội dung phản lại thực tiễn lịch sử như vừa nêu trên.

Về chính thể và thuật ngữ ngụy quân ngụy quyền, tác giả Trương Thanh Hùng đã biện luận rất đúng. Chúng tôi không phủ nhận sự tồn tại hiện thực của các chính thể đó. Vì rõ ràng nó có đó. Chẳng hạn quân đội quốc gia Việt Nam đến 1950 đã có đến 100.000 người. Sau trận Điện Biên Phủ vài tuần, có đến 29.000 người bỏ ngũ. Đó là một thực tế.

Vấn đề là phải xem xét bản chất của các chính thể. Chính thể nào vì dân tộc, chính thể nào phản lại dân tộc? Cái đó phải xem xét trên thực tiễn lịch sử. Đi vào thực tiễn lịch sử là một vấn đề khó khăn phức tạp, nhưng nó cũng bộc lộ bản chất của các thứ lý luận.

Ông Vũ Minh Giang kết thúc bài viết như thế này:

“Vậy mà không hiểu vì sao lại xuất hiện một vệt bài trên tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh liên tục công kích vào công việc nghiên cứu và biên soạn bộ lịch sử này. Nếu những bài viết này xuất phát từ nhận thức chưa tới (tức chưa thật hiểu rõ công việc) thì chỉ là cái hại nhỏ. Nhưng nếu đây là sự cố tình xuyên tạc để nhân danh khoa học reo rắc sự hoài nghi thì phải cảnh giác với ý đồ xấu, rất có thể nhằm tới việc phá hoại một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước” (Xưa & Nay, số đã dẫn. Trang 14).

Để ông Vũ Minh Giang thấy chúng tôi nhận thức chưa tới hay cố tình xuyên tạc, kỳ sau chúng tôi sẽ trao đổi thật cụ thể về “Ý nghĩa công pháp quốc tế mà triều Nguyễn đã ký với phương Tây” do ông Nguyễn Văn Kim đưa ra cũng trên Xưa & Nay, số 487 / 9-2017.

(Còn tiếp)

Quan Văn Đàn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 477

Ý Kiến bạn đọc