Tản văn

NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20-11
Thầy cô giáo của tôi

Mẹ tôi người thầy đầu tiên

“Mẹ ta không có yếm đào/ Nón mê thay nón quai thao đội đầu/ Rối ren tay bí tay bầu/ Váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa”. Đó là bà mẹ trong thơ Nguyễn Duy, nhưng đó cũng là hình ảnh mẹ tôi. Mẹ tôi không dạy tôi trên lớp, nhưng mẹ dạy tôi đi trên con đường đời để trở thành một người chân chính. Mẹ tôi học chỉ hết lớp 7, nhưng thuộc nhiều ca dao, tục ngữ và mỗi khi nói đến bất cứ vấn đề gì mẹ đều có thể vận dụng. Tuổi thơ tôi lớn lên trong nghèo khó, 10 tuổi đã phải mò cua, bắt ốc, đốn củi… phụ gia đình nuôi 4 người em. Một đứa trẻ lên 10 khẳng khiu gầy ốm có lúc chỉ cân nặng 16 kg như tôi đã lặn khắp các dòng sông, con đập đến chảy cả máu tai vào mùa gió bấc để lấy rau hẹ nước bán cho người ta nuôi heo (chứ không ăn như bây giờ). Cứ một gánh khi đem đến nơi bán sẽ được chia thành hai vì gánh đầu rất nặng. Một lần, không biết vì vô ý làm sao, người mua rút lầm đưa cho tôi tờ tiền 500 đồng (gấp 20 lần giá tiền của gánh rau và bản thân tôi chưa bao giờ cầm số tiền lớn như vậy). Bao nhiêu ý nghĩ nhảy nhót trong đầu: lấy đi, người ta đưa lầm mà, ai biết. Đừng lấy, đó là công sức có thể của cả gia đình họ suốt mùa nuôi heo. Nhớ lời mẹ dặn, đừng tham của ai bất cứ cái gì. Thằng tôi chiến thắng bản thân và gọi người đưa lầm trả lại, khỏi phải nói cô ấy đã vui mừng như thế nào. Nhưng cái tiếc vẫn không buông tha, đưa rồi nhưng vẫn nghĩ giá đừng đưa đã có một số tiền lớn. Về nhà, lòng vẫn băn khoăn, thủ thỉ với mẹ. Nghe xong, những tưởng mẹ cũng “chia sẻ” nỗi “tiếc nuối” của mình, nhưng không, mẹ nhẹ nhàng: Đừng lấy của người khác con ạ. Vâng, đừng lấy của người ta. Con đã đi trong cuộc đời này bằng chính lời dặn giản dị mà đầy chất triết lý ấy của mẹ. Để dẫu có lúc thiệt thòi nhưng luôn hạnh phúc vì mình là một người chân chính. Lời dặn ấy sẽ theo con đi suốt cuộc đời này. Mẹ – người thầy đầu tiên.

Cô giáo cấp I của tôi

Thế hệ chúng tôi không đứa nào biết đầy đủ họ tên cô giáo của mình, chúng tôi chỉ gọi thầy cô với tên “cúng cơm”. Cô tôi tên là Môn. Những năm ấy rất đói, kiếm được bơ gạo là vô cùng khó khăn. Học lớp 3 rồi mà tôi chỉ cân nặng đúng 16 kg. Một hôm đang học tôi gục xuống bàn vì đói bởi tôi phải đi làm đồng từ 2 giờ sáng đến trưa chạy về đi học ca 2 (từ 11 giờ đến 2 giờ chiều) mà không có miếng gì bỏ bụng. Cô gọi lên bảng, tôi đứng lên xây xẩm mặt mày và ngã xuống bàn, rất may không sao. Nhìn thấy bộ dạng đứa học trò đáng thương nhỏ thó và xanh lét nhưng bao giờ cũng đứng đầu lớp về kết quả học tập, chắc cô đã đoán ra nguồn cơn. Thấy cô về nhà một chút (phòng tập thể giáo viên), không biết ở đâu, cô đem đến một chiếc bánh rán to bằng quả ổi con con. Cô nói tôi ăn đi rồi lấy sức học tiếp. Có lẽ đó là chiếc bánh rán ngon nhất trong đời mà tôi được ăn. Nhưng rồi, không phải chỉ có tôi, chúng tôi, mà cả cô tôi cũng “xanh” không kém. Bí mật ấy sau này chúng tôi mới phát hiện ra. Đầu óc non nớt của lũ học trò nhỏ chúng tôi khi ấy, thầy cô là một vị thánh. Vì vậy, có lúc chúng tôi ngây thơ tới mức nghĩ rằng đã là thầy cô thì làm gì có chuyện đói. Nhưng rồi… học xong, tôi đi ra cánh đồng xa để hái rau má đem về độn thay cơm, xa xa là bóng một người quen. Đến gần, đó là cô tôi. Cô tôi cũng đói và để lo đủ miếng ăn cho một gia đình 6 người trong bối cảnh “gạo châu, củi quế” khi cả cô và thầy đều là giáo viên cấp I, cô tôi cũng phải đi hái rau má như tôi. Miếng bánh rán đã nuốt trôi ngon lành hôm nay lại hiện ra ngay nơi cửa miệng nhưng không ngọt ngào mà trở nên đắng ngắt.

Thầy giáo dạy toán cấp II của tôi

Chúng tôi gọi thầy là Thầy Tuyên. Quanh năm suốt tháng thầy mặc chiếc áo đại cán đã sờn vai và sau này còn thêm đôi ba miếng vá. Thế nhưng, chưa bao giờ chúng tôi thấy thầy than vãn hay quát nạt học trò. Hình như với thầy, chúng tôi là tất cả. Hết buổi dạy, ai trong chúng tôi chưa hiểu bài, thầy gọi ở lại dạy riêng đến hiểu mới thôi. Dạy thêm, thầy không lấy tiền (tôi không ủng hộ thầy việc này, tôi nghĩ trả công cho thầy dạy là đúng đắn). Gia cảnh thầy cũng đâu “khá” hơn chúng tôi: thầy đi dạy, vợ thầy làm ruộng với 6 người con. Năm 2009, khi tôi mới ở bộ đội ra và thi đỗ vào Đại học Sư phạm TP.HCM, tôi gặp thầy trong một hoàn cảnh thật trớ trêu. Cơ sở 2 của trường tôi ở đường Lê Văn Sĩ. Mỗi sáng, tôi đi xe bus đến cổng công viên Tao Đàn rồi đi bộ xuống trường. Đến khúc nhà hàng Sinh Đôi, tôi gặp thầy. Thầy tôi nghỉ hưu nhưng vì gia cảnh khó khăn nên phải xa gia đình vào miền Nam làm bảo vệ. Nước mắt tôi nhòa đi…

Cô giáo chủ nhiệm lớp 7 của tôi

13 tuổi, tôi học lớp 7 và có 4 đứa em đều đi học. Những năm ấy, trường lớp của chúng tôi lợp tranh tre nứa lá. Mỗi đầu năm học, mỗi học sinh thường phải đóng góp 10 chiếc tranh và 2 cây tre. Cả tôi và 4 em tôi đi học nên gia đình tôi phải đóng 50 chiếc tranh và 10 cây tre, cha mẹ tôi làm sao kham nổi. Mẹ tôi lo mãi cũng chỉ đóng được cho 4 người em, còn tôi, nhà trường nhắc đến lần thứ 3. Thế rồi, bẵng đi một tuần không thấy trường nhắc, tôi cũng sợ không dám hỏi. Một hôm, hết giờ, cô chủ nhiệm gọi tôi lại và nói: Cô biết em khó khăn không đóng nổi, cô đã bỏ tiền ra mua và đóng cho em, em không phải đóng nữa. Tôi học cùng lớp với con trai cô nên không lạ gì gia cảnh của cô. Hôm tôi đến nhà đúng lúc gia đình cô đang ăn cơm trưa, cùng với nồi cơm khoai nhiều hơn gạo là chén (bát) nước mắm “trong veo” vì tự chế ở giữa mâm và vài cọng rau thơm hái ở hiên nhà.

Thầy dạy đại học của tôi

Nhiều người nói rằng khi vào đại học, tình cảm thầy trò sẽ không được gắn bó như khi học tiểu học và phổ thông. Điều đó đúng, nhưng không phải không có ngoại lệ và tôi nằm trong số ngoại lệ ấy. 26 tuổi, sau khi làm đủ nghề và đi bộ đội nhiều năm, xuất ngũ ra quân tôi mới thi đậu vào khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm TP.HCM. Ở môi trường này, tôi đã được học những thầy cô không chỉ uyên bác về kiến thức, về học thuật mà còn là những tấm gương vô cùng trong sáng. Cho đến hôm nay, tôi vẫn tự hào mà nói rằng không đâu có môi trường tốt như Đại học Sư phạm TP.HCM và trong đại học này không đâu tốt bằng khoa Ngữ văn. Đó chỉ là ý kiến chủ quan cá nhân của mình, nhưng tôi đã đi nhiều nơi và tôi không thay đổi nhận xét này. Ngoài giảng dạy, các thầy cô còn quan tâm cả việc riêng tư của chúng tôi, kể cả việc ra trường xin việc về đâu. Tôi học phổ thông ở miền Bắc, đi bộ đội gần 4 năm ở Đồng Nai, nhưng khi ấy tuyển giáo viên, địa phương vẫn ưu tiên người học phổ thông tại địa phương. Biết mình không “có cửa”, nếu có về quê cánh cửa càng đóng chặt. Thầy tôi – Phó Giáo sư Trần Hữu Tá đã có ý định nhờ học trò mình là thầy Lê Vũ Hùng, khi ấy là Thứ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo để xin việc cho tôi. Thế nhưng, sau đó thầy chưa kịp đặt vấn đề thì thầy Lê Vũ Hùng bị bạo bệnh qua đời. Không để đứa học trò “ngoan” thất nghiệp, một thầy khác của tôi, Phó Giáo sư – Tiến sĩ Trịnh Sâm đã bằng những mối quen biết với học trò dẫn tôi xuống tận Đồng Nai “gửi gắm” ông Phó chủ tịch tỉnh đương nhiệm Huỳnh Văn Tới. Xin đừng vội chê trách tôi vì việc chạy chọt này, xét về mọi mặt tôi đủ điều kiện, chỉ là không học phổ thông ở Đồng Nai. Và, tôi gắn bó với Đồng Nai từ đó suốt 10 năm đến khi chuyển công tác về TP.HCM.

Cô giáo dạy cao học của tôi

Đi học cao học, tôi gặp cô. Cô là Phó Giáo sư – Tiến sĩ Trần Thị Anh Đào – Trưởng khoa Xây dựng Đảng của Học viện Báo chí Tuyên truyền. Mỗi đợt học chúng tôi đều mong đến giờ của cô, vì cô có cách dạy rất đặc biệt, phát huy tối đa tự do suy nghĩ và sáng tạo của học trò. Nhưng trên tất cả, chúng tôi nhớ đến cô, bởi tình cảm mà cô dành cho chúng tôi, nhất là khi chúng tôi từ miền Nam ra Hà Nội “lạ nước, lạ cái”. Cô dẫn chúng tôi đi chùa, cô đưa chúng tôi đi thưởng thức đặc sản của Hà Nội. Là giảng viên hướng dẫn, có lúc tôi cũng kín đáo tạ ơn cô, nhưng nhiều lần cô đều không nhận. Có lần cô nhận thì y như rằng lần sau cô lại có đủ lý do để mừng lại. Cuối năm 2012, chúng tôi từ miền Nam ra bảo vệ luận văn tốt nghiệp, mặc dù trời rất lạnh và cô đang đi dạy tận Hải Dương, nhưng biết học trò ra, cô đã đặt tiệc từ trước và từ Hải Dương về để đón học trò rồi sáng hôm sau lại đi sớm. Hàng chục học viên cao học ở miền Nam ra đã không hề mang theo đồ lạnh và tất cả đều mặc đồ lạnh của chồng cô…
Tôi luôn nghĩ rằng đời tôi thật hạnh phúc, bởi ở đâu tôi cũng luôn gặp những thầy cô tuyệt vời. Xã hội sẽ tiếp tục đổi thay, nhưng tình thầy trò rồi vẫn không thay đổi, bởi đó là tình cảm thiêng liêng cao quý. Những tấm gương lấp lánh sự dâng hiến tận tụy của thầy cô luôn là điểm tựa tin yêu để dẫn dắt tôi đứng vững trên con đường đi tới, nhắc nhở chúng tôi rằng xã hội vẫn còn muôn vàn những điều tốt đẹp. 

Vũ Trung Kiêng
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 380

Ý Kiến bạn đọc