Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Thất bản tại gia

(Đáp lời Nhạc sĩ Phạm Tuyên)
(Tiếp theo số báo 511, ngày 16-8-2018)

Nhạc sĩ Phạm Tuyên viết:

“Bấy lâu nay, việc ấy (vinh danh Phạm Quỳnh là danh nhân văn hóa) đã chìm trong quên lãng, đến nay được nhắc đến khiến tôi rất cảm động”

(Thanh Niên, ngày 5-8-2018)

Xin thưa lại với Nhạc sĩ như sau:

Không hề có sự quên lãng đối với Phạm Quỳnh

Từ sau 1975 đến khoảng 1990, tình hình đất nước sau chiến tranh khó khăn mọi bề. Việc in lại tác phẩm của Phạm Quỳnh chưa thể thực hiện được. Cái đó nên chấp nhận. Nhưng trong một số công trình như Lược truyện tác gia… hay Từ điển nhân vật lịch sử… đã có nhắc đến Phạm Quỳnh. Từ 2001, sau khi NXB Văn học ấn hành Mười ngày ở Huế thì việc in lại Phạm Quỳnh đã được khai thông: Thượng chi văn tập. NXB Văn học – 2006. Luận giải văn học và triết học, Pháp du hành trình nhật ký, Tiểu luận bằng tiếng Pháp 1922 – 1932, Hoa đường tùy bút… đã được ra mắt ở các NXB Hội Nhà văn, Tri thức… Các bài báo viết về Phạm Quỳnh thì rất nhiều, chưa kể là xen vào các chương trình phát thanh, truyền hình, tọa đàm sách… Rõ ràng không có chuyện Phạm Quỳnh bị chìm trong quên lãng! Thậm chí GS. Nguyễn Đình Chú còn rất hoan hỉ: đi đến đâu cũng thấy sách của Phạm Quỳnh (Xưa & Nay: Nhân 100 năm Nam Phong…). Mong Nhạc sĩ và gia đình hãy bình tâm xem lại.

Vấn đề tôn vinh Phạm Quỳnh

Câu của NS. Phạm Tuyên cũng có thể hiểu là việc vinh danh danh nhân văn hóa cho Phạm Quỳnh lâu nay bị chìm vào quên lãng. Đến nay Giải thưởng Phan Châu Trinh mới nhắc đến khiến ông rất cảm động.

Xin thưa lại với Nhạc sĩ như sau:

Theo chỗ tôi biết thì sự tôn vinh chính thức của Nhà nước đối với những người có công lao trên các lĩnh vực có nhiều mức: Anh hùng (lực lượng vũ trang hoặc lao động); Chiến sĩ thi đua (các ngành). Các phần thưởng cao quí như: Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước, Huân chương, Huy chương, Bằng khen, Giấy khen, Thư khen…

Trong lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật thì các danh hiệu: Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú. Về y học có: Thầy thuốc nhân dân, Thầy thuốc ưu tú… Huân chương lao động cũng có thể được trao ở lĩnh vực văn hóa, sáng tạo nghệ thuật như: Huân chương Lao động (hạng Ba?) cho bài hát Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng của NS. Phạm Tuyên năm 1975.

Danh hiệu Danh nhân văn hóa không có trong phẩm trật khen thưởng của Nhà nước. Mà chỉ có danh hiệu Danh nhân văn hóa Việt Nam được UNESCO vinh danh như với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh… cũng có nghĩa là Danh nhân văn hóa thế giới.

Điều đó hoàn toàn phù hợp vì Danh nhân văn hóa là danh hiệu rất cao quí, phải hội đủ các điều kiện các tiêu chí, được dư luận đồng thuận qua thời gian và lịch sử, do một cơ quan, tổ chức có uy tín công nhận.

Còn Giải thưởng Phan Châu Trinh và danh hiệu Danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại là một sự mạo xưng. Được vinh danh ở giải thưởng này chưa phải là một vinh dự mà còn là một sự rất bất tịnh. Ở các điểm sau:

Đây là một tổ chức phi chính phủ. Trong xã hội dân sự, tự do dân chủ thì các tổ chức xã hội nghề nghiệp hợp pháp có giải thưởng và danh hiệu là chuyện bình thường. Như giải thưởng văn học – nghệ thuật ở một số tỉnh lấy tên của danh nhân cấp tỉnh hoặc người của tỉnh sở tại làm danh hiệu. Như Giải Lê Thánh Tôn ở Thanh Hóa; Giải Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Hải Phòng…

So-512--That-ban-tai-gia---Anh-1
Bút tích bức thư gửi các em ở Pháp của bà Phạm Thị Thức – con gái Phạm Quỳnh.

Quĩ Văn hóa Phan Châu Trinh do Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, cháu ngoại của Cụ Phan Châu Trinh làm Chủ tịch, nhưng thực chất hoạt động của Quĩ này là do Nguyên Ngọc cầm đầu. Chúng tôi chưa rõ là Quĩ này, cũng như Viện Phan Châu Trinh, đã được chính thức hoạt động qua các thủ tục Nội vụ của Nhà nước hay chưa và danh hiệu Danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp nhận hay chưa. Nếu đã được Nhà nước chấp nhận chúng tôi vẫn kiến nghị phải xem xét lại. Vì một nhóm người học thuật non kém lại có tư tưởng và hoạt động chống đối lại Văn hóa Hồ Chí Minh, đối lập Cụ Phan Châu Trinh với Chủ tịch Hồ Chí Minh…, không đủ tư cách để đặt ra Danh hiệu có tính chất Quốc gia.

Lâu nay ai cũng biết Nguyên Ngọc là con người tự phản bội lại lí tưởng và sự nghiệp của mình. Con người cơ hội, ham hố quyền lực và danh vọng, Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh nhiều năm qua đã nói rất nhiều rất rõ về nhân vật này.

Mưu đồ của Nguyên Ngọc là lật lại lịch sử, ngầm lên án Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuộc Cách mạng Giải phóng dân tộc qua việc tôn vinh Cụ Phan Châu Trinh là nhân vật số một, chói sáng nhất Việt Nam trong thế kỷ XX. Rằng con đường bất bạo động, dân trí – dân khí – dân sinh mới là đúng đắn.

Nguyên Ngọc núp vào bóng Cụ Phan Châu Trinh để thực hiện mưu đồ đó.

Năm 2011, Nguyên Ngọc dựng lên Ngôi đền Panthéon, rước hai Cụ Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu vào làm bình phong rồi lần lượt đưa các nhân vật khác vào. Đến năm nay (2018), chắc là dư luận không êm nên gọi là Ngôi đền online.

Ngoài danh hiệu Danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại, Giải thưởng Phan Châu Trinh trao cho rất nhiều nhân vật có tiểu sử chống phá cách mạng và tư tưởng li khai, chống đối, cả các nhân vật người nước ngoài. Và đây mới là mục tiêu chính của Nguyên Ngọc và Giải Văn hóa Phan Châu Trinh để tập hợp lực lượng.

Trong nước, xin lấy trường hợp Tạ Chí Đại Trường làm ví dụ: Đây là một đại úy Ngụy, con trai một tỉnh trưởng ác ôn thời Diệm, sau 1975 định cư ở Hoa Kỳ. Các tác phẩm sử học của Tạ Chí Đại Trường sặc mùi chống Cộng và phỉ báng miệt thị lịch sử dân tộc, rất tiêu biểu ở Chuyện phiếm sử học, Nội chiến ở Việt Nam…

Ở ngoài nước, Nguyên Ngọc trao giải cho một tác giả người Hoa Kỳ, xuyên tạc lịch sử Việt Nam rất trắng trợn.

Nguyên Ngọc còn bênh vực cho tên sát nhân Bob Kerry khi tên này được giao điều hành một trường đại học mà Tổng thống Mỹ tặng cho Việt Nam. Gần đây Bob Kerry đã phải lặng lẽ cuốn gói khỏi Việt Nam.

Một hành động khiêu khích trắng trợn nhất gần đây của Nguyên Ngọc là phỉ báng Anh hùng Võ Thị Sáu, bảo chị là người bị tâm thần.

Chúng tôi nói Giải thưởng hay Danh hiệu của Quĩ Văn hóa Phan Châu Trinh rất bất tịnh là ở chỗ đó. Mạo xưng đã là bất tịnh. Trộn lẫn chính – tà, thật – giả, thiện – ác càng là bất tịnh.

Mưu đồ dùng Quĩ Văn hóa, lợi dụng uy tín của danh nhân văn hóa để thực hiện ý đồ chính trị phản lại lịch sử dân tộc càng là bất tịnh.

Nhắc lại về vấn đề Phạm Quỳnh

Thực ra đã quá rõ như Tạp chí Hồn Việt nhiều lần khẳng định. Nhưng trong tình hình chính trị thì khi Liên Xô sụp đổ đến nay, đã xuất hiện tư tưởng cho rằng Cộng sản trước sau cũng không tồn tại. Nhà nước và thể chế Cách mạng ở Việt Nam chỉ còn là thời gian. Và họ tìm cách trỗi dậy. Nguyên Ngọc đã nói “Chế độ này thể nào cũng sụp đổ. Chỉ chưa biết nó sụp đổ theo kịch bản nào”. Và họ hành động. Bên ngoài, các thế lực chống Cộng rất hỗ trợ. Một nhân vật đã nói: Xưa chống Cộng để cứu nước. Nay chống Cộng để kỳ vọng giành lại đất nước (Giải oan lập một đàn tràng – Ủy ban khôi phục danh dự Phạm Quỳnh. Hoa Kỳ. 2001). Trong quyển sách này, họ phỉ báng Chủ tịch Hồ Chí Minh và những người Cộng sản hết sức thậm tệ.

Ở trong nước, khuynh hướng chính là tán dương Phạm Quỳnh về mặt văn hóa. Về công lao tài bồi quốc văn quốc ngữ – khảo cứu, chuyển tải văn hóa Đông – Tây, chủ trương chính trị ôn hòa (bất bạo động). Dường như nhờ công lao này của Phạm Quỳnh mới có được dân trí dân khí Việt Nam đủ giành lại được Tổ quốc… Rằng Phạm Quỳnh là người mở đầu cho văn hóa Việt Nam hiện đại (Nguyễn Đình Chú)… Thôi thì đủ dạng hết lời, đến yêu nước đến tận cùng (Lại Văn Sâm)…

Như bài trước chúng tôi đã nói, sự ca ngợi Phạm Quỳnh đều không có cơ sở khoa học. Nói thẳng thừng ra là dối trá, mà nói cho nó học thuật là không trung thực. Rất là ngụy biện. Chúng tôi đã nói rất nhiều lần về tình hình này. Ở đây chỉ xin nhắc lại một vài sự tiêu biểu:

1) GS. Nguyễn Đình Chú cho rằng câu nói của Phạm Quỳnh: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn… là chân lí thật sự.

Xin thưa lại là:

a) Nguyên văn câu nói trên là: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, còn điều chi nữa mà ngờ (1924).

Chúng tôi nhấn mạnh nửa câu sau, lâu nay các nhà Phạm Quỳnh học thường ỉm đi.

Cụ Ngô Đức Kế công kích Phạm Quỳnh chính là cái ý, cái dụng ý, cái tư tưởng của Phạm Quỳnh nằm ở nửa sau của câu nói mà lâu nay những người bênh vực Phạm Quỳnh cứ giấu nhẹm đi. Học thuật cỡ Giáo sư sao lại thế.

b) Nguyên ủy tư tưởng này Phạm Quỳnh mượn lại của một nhà văn Pháp. Đại ý Nước là một cái hồn màu nhiệm. Hồn đó còn, nước còn. Hồn đó hiện ra ở tiếng nói… Người Pháp nói câu đó khi nước của họ, Tổ quốc của họ còn vẹn nguyên, chưa bị Pétain dâng cho Hitler… thì đó là chuyện của họ, tâm thế của dân tộc họ. Còn người Việt Nam vào năm 1924, Nhạc sĩ hỏi các anh chị sinh trước đó, xem có đúng như người Pháp nói không. Tra vào sử sách, ngược lên năm 1884 là 40 năm. Có sự kiện gì ở Việt Nam. Thưa Nhạc sĩ, 40 năm đó “biết bao nhiêu tình”?

2) Các ông Trần Văn Chánh, Phạm Thế Ngũ, nhóm dịch Tiểu luận bằng tiếng Pháp… gồm Phạm Toàn, Nguyên Ngọc và rất nhiều người khác, đều cho rằng Phạm Quỳnh là một nhà chính trị vụng về, mộng tưởng… Ông chỉ là nhà văn hóa mà là nhà văn hóa đại tài cỡ nhà bác học… Nói về Phạm Quỳnh ta chỉ nên nói về đường văn hóa.

Sao lại “Bẩm quan, con vịt…” như thế. Một nhà chính trị vụng mà soạn được cả Tuyên cáo độc lập (1945); dám Xin lại cả Tổ quốc (1931); bày mưu hiến kế cho người Pháp lái cuộc cách mạng (dân tộc) theo hướng có lợi cho họ (1929); chỉ dẫn cho người Pháp cách thức giáo dục tốt nhất, có lợi nhất cho người Pháp đối với dân tộc An Nam (Bài nói ở Viện Hàn lâm Pháp – 1922)… Đến Sứ mệnh của nước Pháp (1932) là tuyệt đỉnh.

Nước Pháp là người Mẹ vĩ đại. Người An Nam còn là may mắn. Chính Trần Trọng Kim mới là nhà chính trị vụng về. Nhưng tình thế buộc Phát xít Nhật phải loại bỏ Phạm Quỳnh mà dùng Trần Trọng Kim.

3) GS. Văn Tạo cho rằng, chỉ đáng chê trách Phạm Quỳnh khi ra làm báo Nam Phong. Còn thì khi làm đến đại quan Nam triều, không có hành động đàn áp bắt bớ những người yêu nước. Hay lắm. Giáo sư nên theo một khóa tại chức ở Đại học Luật rồi hẵng nên thanh nghị.

Người xưa nói: Khen không đúng là hại người. Chê không đúng là hại mình.

Cái sự khen cụ Phạm từ hồi 2001 đến nay chỉ làm hại cụ Phạm, vì nó khơi gợi ra cơ sự để người đời phải thanh nghị lại.

Nếu Nhạc sĩ Phạm Tuyên để tâm nghiên cứu về cụ Phan Châu Trinh thì chắc không nỡ lòng nào đi nhận cái giải thưởng mang tên Phan Châu Trinh do Nguyên Ngọc trao tặng. Vì ngay từ đầu Cụ Phan đã có nhận xét về Cụ Phạm rất không vui vẻ gì. (Hoàng Phương: Phạm Quỳnh dưới cái nhìn của Phan Châu Trinh… VNTPHCM. Tháng 4-2018) và Cụ Phạm cũng đã miệt thị phong trào để tang Phan Châu Trinh là “khai thác một cái xác chết”, bị thanh niên Hà Nội căm phẫn đón đường tạt tai! (Luận chiến văn chương Q.3. Trg.362).

Đấy là về lí.

Về tình. Chúng tôi nghĩ Cụ Phạm là người thông minh, có tài, đã sinh thành ra những người con tài danh như GS. Phạm Khuê, NS. Phạm Tuyên… Dương thanh danh hiển phụ mẫu, phải nên thể tình. Chỉ một bài Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng cũng đủ giải tỏa được tất cả. Về văn hóa, Cụ Phạm có đóng góp, ta nên trân trọng. Tác phẩm của Cụ cần được in để đời sau nghiên cứu có sở cứ. Dẫu không có câu nói của Bác Hồ thì Cụ Phạm đã là con người của lịch sử, đã và đang được lịch sử xem xét lại. Vấn đề là lịch sử nào và xem xét như thế nào. Lịch sử như của Nguyên Ngọc, xem xét lại như GS. Nguyễn Đình Chú hay ông Đinh Nho Hoan… lại chỉ làm buồn vong linh Cụ Phạm mà thôi. Tôi dám nói rằng các vị viết về Cụ Phạm nhưng chưa đọc kĩ Cụ Phạm. Xu thời mà viết thôi. Nếu đọc kĩ thiên Sử học chuyên luận trong Thượng chi văn tập (NXB Văn học – 2006. Trg.311) thì chắc chắn họ không dám viết liều viết ẩu viết lấy được. Vì ngay từ thời ấy, Cụ Phạm đã nêu lên phương pháp làm sử của người Thái Tây, được xem là phương pháp khoa học, có nhiều tiêu chí nhưng mấy tiêu chí sau là quan trọng nhất:

- Tầm sử liệu.

- Lọc sử liệu.

- Hạch sử liệu.

- Khôi phục sự thực mà lập ra toàn bích.

- Phán đoán cho đúng…

Rõ ràng là các tác giả trên và còn rất nhiều mà chúng tôi chưa nói đến, như GS. Phong Lê, tác giả Nguyễn Hải (Những người thầy), ông Dương Trung Quốc… mới chỉ viết trên sự tầm sử liệu, có thế nào viết thế ấy thôi, chưa lọc chưa hạch gì cả.

Sinh thời Cụ Phạm viết: ai bảo Cụ làm chánh trị là không đúng, là bất túc kính trọng (1930). Cụ không nói lại. Sự này chưa hẳn. Vì bài Chủ nghĩa dân tộc (1929) là chánh trị lắm. Nhưng thôi. Cứ theo cách nói của Cụ Phạm thì kẻ hậu sinh có thể nối điêu rằng khen Cụ mà để cho người đời còn có chỗ chỉ nghị, mà chỉ nghị xác đáng, thì cũng là bất túc kính trọng. Đã bất túc kính trọng (không thành thực) thì Giải càng to bất tịnh càng lớn.

Đồng Nai Hạ. Tháng 8-2018

Chu Giang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 512

Ý Kiến bạn đọc