Văn học nước ngoài

Thất bại to lớn nhất của Hoa Kỳ

Về thực chất, tất cả các cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ trái ngược với sự tuyên truyền ầm ĩ, tốn kém, trên thực tế đều thất bại. Cái giá của các cuộc chiến của họ – đó là những dòng chảy của máu và nước mắt, nhưng tất cả đều kết thúc một cách nhục nhã. Ngay cả sự kiện Liên Xô sụp đổ, khối Hiệp ước Varsava tan rã, dường như đó là chiến thắng to lớn để họ mở đại yến tiệc. Không chịu khuất phục, nước Nga chậm rãi đứng lên một cách vững chắc và cũng chưa biết, sau bao nhiêu năm nữa, việc ấy sẽ trở thành một thất bại nữa của Washington. “Chiến thắng huy hoàng” ở Xerbia xoay chuyển sao đó mà lãnh đạo của một nước đã bị khuất phục như vậy lại từ chối tham gia cấm vận chống nước Nga. Nói chung, không nên nhắc đến những “chiến thắng” ở Iraq, Libya – tự người Mỹ hiểu rất rõ nỗi nhục của mình khi “các chiến sĩ vì dân chủ” bắt đồng bào của mình phải quỳ gối và bị chặt đầu Nhưng thất bại lớn nhất của Mỹ có thể nói thẳng là ngày 29 tháng 3 năm 1973, khi người lính Mỹ cuối cùng phải rời khỏi Việt Nam.
Nhân dân Việt Nam phải trả một cái giá khủng khiếp vì sự phiêu lưu của Washington. Nhà báo Liên Xô Ivan
Sêdrov có mặt trong cuộc chiến tranh này với vai trò phóng viên báo Pravda (Sự thật ND), đã viết: “Cuộc xâm lược của Mỹ ở Việt Nam là cuộc chiến tranh dài nhất, ác liệt và đẫm máu nhất trên hành tinh chúng ta sau Chiến tranh thế giới thứ II”. Theo đánh giá của ông ấy, sức hủy diệt do các cuộc ném bom của Mỹ ở Việt Nam lớn gấp 300 lần ở Hirosima
Đội quân được đào tạo rất bài bản, trang bị vũ khí tốt nhất thời bấy giờ chống lại quân đội không phải của một nước phát triển, mà về cơ bản, những người nông dân giản dị của một Việt Nam bị chia cắt làm hai miền mà trước đó là thuộc địa của Pháp bị hoang tàn đổ nát khá nhiều
Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ II, bị lính Hitler chiếm đóng, nước Pháp đã trao quyền kiểm soát thuộc địa của mình cho chính quyền thân Nhật, nhưng về pháp lý, vẫn giữ vùng đất Việt Nam cho riêng mình. Nhật Bản đã vi phạm hiệp ước và đánh chiếm toàn bộ Việt Nam. Trong ngày kết thúc Chiến tranh thế giới thứ II, ngày 2 tháng 9 năm 1945, lợi dụng nước Nhật đầu hàng, người chiến sĩ dũng cảm chống chủ nghĩa thực dân Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập. Nhưng Pháp không muốn mất thuộc địa của mình. Vừa trải qua thời gian bị chiếm đóng và được tự do nhờ Liên Xô, nước Pháp không còn tâm trạng nào để trao tự do cho dân tộc khác. Và binh lính Pháp mở các chiến dịch càn quét, đánh phá. Nhân dân Việt Nam chống trả quyết liệt, nhưng nhờ sự giúp đỡ tích cực của Mỹ, Pháp đã chiếm được miền Nam Việt Nam
Cuộc chiến tranh đã bắt đầu, bây giờ thay bằng các cuộc hòa đàm. Cuối cùng, năm 1954, hội nghị quốc tế được tổ chức tại Giơnevơ để giải quyết hòa bình cho cuộc xung đột. Tham gia cuộc hội nghị có: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (miền Bắc, bảo vệ độc lập của mình), miền Nam Việt Nam (nằm trong sự quản lý của Pháp), Pháp, Liên Xô, Mỹ, Anh, Trung Quốc, Campuchia và Lào. Sau các cuộc đàm phán kéo dài, một văn kiện mang tên “Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương” được thông qua. Các nước đồng ý tạm thời chia cắt Việt Nam thành miền Bắc và miền Nam và sau đó sẽ tiến hành tổng tuyển cử ở cả 2 miền có sự giám sát quốc tế.
Nước Pháp đã quá mệt mỏi do cuộc chiến tranh không được sự đồng thuận trong xã hội, vì vậy sẵn sàng rời bỏ Vi ệt Nam. Nhưng Hoa Kỳ lại hoảng sợ “mối đe dọa đỏ!”. Họ thay một chính quyền thân Pháp và đặt vào đó chế độ bù nhìn do Ngô Đình Diệm đứng đầu.
Tổng thống Mỹ Eisenhower tuyên bố thẳng, Hiệp định Giơnevơ đối với ông ta – không phải mệnh lệnh! Tất nhiên trong tình trạng như vậy các cuộc bầu cử dân chủ toàn quốc không thể thực hiện: miền Bắc đồng ý thực hiện hiệp định, miền Nam – không!
Chế độ Ngô Đình Diệm rất khắc nghiệt – nó theo dõi những ai đấu tranh chống lại chủ nghĩa thuộc địa Pháp và cả những ai đã ủng hộ nước Pháp. Nhân dân miền Nam Việt Nam đáp trả lại bằng cuộc chiến tranh du kích toàn dân.
Và càng về sau này xảy ra tương tự như tình hình hiện nay xung quanh cuộc đấu tranh vì Novorossia ở Ucraina: Trên mỗi bước đi của những người bảo vệ Donbass đều thấy “bàn tay Mátxcơva”, cũng như mỗi hành động của du kích miền Nam Việt Nam đều thấy ảnh hưởng rõ ràng của Bắc Việt Nam và xa hơn – sự đồng lòng của Liên Xô (Xin đừng đổ lỗi cho Mỹ, vì trên thực tế, đó chỉ là những bù nhìn của họ!).
Lúc đầu Mỹ chỉ cung cấp vũ khí cho chế độ Ngô Đình Diệm. Nhưng sau đó, vì nhân vật này quá yếu và không thể kiểm soát tình hình nên bị CIA loại bỏ. Thay người bị bắn chết là tướng Dương Văn Minh, và sau đó còn thay đổi bao nhiêu bù nhìn thân Mỹ nữa!
Hoa Kỳ, đứng đầu là tổng thống mới Lindon Johnson, tăng cường chuẩn bị cơ sở để trực tiếp xâm nhập. Và sự xâm nhập này không phải chờ đợi lâu…
Mùa hè 1964, mọi người thấy rõ, một cuộc xâm lược là không tránh khỏi
- từ tháng 7 Mỹ đã tập trung máy bay và tàu chiến. Và ngày 2 tháng 8 xảy ra trận khiêu khích dưới cái tên “cuộc khủng hoảng Vịnh Bắc bộ” – va chạm giữa tàu chiến Mỹ và Bắc Việt Nam. Ngay ngày 5 tháng 8, Hoa Kỳ bắt đầu ném bom miền Bắc Việt Nam.
Nhiệm vụ của Mỹ không chỉ nhằm tiêu diệt nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà còn đánh tan phong trào du kích ở miền Nam Việt Nam. Vì vậy các cuộc ném bom khốc liệt xảy ra tại cả 2 vùng đất Việt Nam. Mỹ không từ một cái gì cả! Ném bom trải thảm, napalm, phốt-pho trắng, dioxin, các cuộc tàn sát dân lành… Cho đến tận ngày nay, nhiều trẻ em sinh ra vẫn còn bị các bệnh di truyền học… là do cuộc xâm lược đó gây ra. Sau những hậu quả như vậy, Washington vẫn còn dám nói đến vũ khí hóa học của người khác!
Kết quả cuộc chiến tranh Việt Nam là sự thất bại hoàn toàn của Washington!
Không thể bẻ gãy ý chí sắt thép của người Việt Nam, dưới áp lực của các cuộc biểu tình phản chiến trong nội bộ nước Mỹ và chịu tổn thất vô cùng to lớn, các chiến binh của lá cờ sao – vạch đã phải cuốn gói về nước vào ngày 29 tháng 3 năm 1973.

Áp phích về tình hữu nghị Liên Xô - Việt Nam - TOPWAR

Áp phích về tình hữu nghị Liên Xô – Việt Nam – TOPWAR “Khoảng cách rộng lớn, nhưng trái tim chúng ta gần nhau”. Nói về Việt Nam và Nga: một người bạn cũ hơn hai người mới!

Sau đó, cái chế độ được nước ngoài tạo dựng lên với cái tên Việt Nam Cộng hòa tồn tại thêm không quá 2 năm nữa
- nó đứng vững nhờ lưỡi lê của Mỹ. Và ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngọn cờ Vi ệt Nam tự do đã tung bay trên Sài Gòn – thủ đô của chế độ bù nhìn Mỹ.
Chiến tranh kết thúc. Đất nước đã thống nhất.
Nhà văn và nhà thơ Liên Xô Konxtantin Ximonov, đã có mặt tại Vi ệt Nam chiến tranh. Trong một bài thơ của mình nói về trường hợp một phụ nữ đã sinh con trong khi máy bay Mỹ ném bom. Bà mẹ và đứa bé sơ sinh đều bị thương, nhưng rất may, sống sót. Lần sinh nở ấy xảy ra dưới ánh đèn xe đạp. Bài thơ được viết với danh nghĩa một người Việt Nam

Chị tôi sinh được mẹ tròn con vuông Dưới hầm đâ’t, ngay trong chiến dịch (ném bom)
Vì danh dự dân tộc Mỹ Như họ nói, danh dự ây được bảo vệ…
Và trong những điều kiện khó khăn vô cùng khốc liệt ấy, nền tự do chân chính Việt Nam đã ra đời. Còn “danh dự dân tộc Mỹ” đã “được bảo vệ” không phải một lần: những cuộc ném bom vào nhà hộ sinh và các bệnh viện, khu dân cư… ở Nam Tư, Iraq, Libya…
Bài học đó chưa dạy cho bọn xâm lược điều gì. Có nghĩa là, người thầy mang tên Lịch sử sẽ phải đem đến cho Washington những bài học khắc nghiệt, đắt giá hơn…

Elena Gromova (Nga)
Khôi Phước (Dịch) 

Ý Kiến bạn đọc