Tản văn

Thành phố ân tình

Người ta bảo Sài Gòn là mảnh đất dễ sống. Có ai phủ nhận điều ấy không? Từ lâu, có lẽ đã trăm năm trước, trong tiếng mẹ ru đã có câu: “Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ, đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu”. Không chỉ trong nửa thế kỷ trở lại đây, từ khi vùng Bà Quẹo, Hóc Môn còn những chiếc xe ngựa gõ lộc cộc trong những sáng mờ sương, cái đô thị lớn nhất miền Nam đã là địa chỉ ước ao của bao nhiêu nhà trí thức, của lớp người trẻ muốn tiến thân, lập nghiệp của những kẻ tha phương cầu thực, thậm chí là chốn nương thân của hạng thất cơ, lang bạt. Không thể nói hết những điều to tát đã diễn ra, không thể kể hết bao nhiêu con người đã giàu có, thành danh trong một xã hội năng động, tràn đầy nhựa sống. Cái dễ sống của Sài Gòn dành cho tất cả mọi người không phân biệt. Nhưng trước hết dành cho lớp người bình dân, không nghề, không chữ, đôi khi còn bị tàn tật. Một xấp báo bán dạo, vài mươi tờ vé số, gánh hàng rong, chiếc xe đẩy xôi chè, một chục trái bắp nướng, mớ cam, mớ ổi… cũng đủ nuôi sống bản thân, thậm chí còn gồng gánh thêm một vài miệng ăn. Một trăm hoặc hai trăm ngàn thu nhập mỗi ngày không phải là quá khó đối với những ai không quản ngại nắng mưa, có sức chịu đựng bền bỉ. Tôi đã đi đến nhiều vùng quê trên khắp mọi miền đất nước, nhận thấy có những nơi người nghèo không biết cách nào đào đâu ra tiền. Mùa mưa bão, tháng khô hạn, xong vụ cấy… là coi như phải ngồi bó gối, khoanh tay. Ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Phước có những hộ bốn, năm nhân khẩu mỗi tháng gom về chưa đầy 3 triệu bạc. Ở những vùng sâu của Đồng Nai, Gia Lai, Lâm Đồng không ít người mỗi ngày chỉ tìm được mươi, mười lăm ngàn. Cuộc sống quá gian nan nên người ta rất sợ chuyện học hành, bệnh hoạn, tang gia… những thứ tốn nhiều tiền, lắm khi phải đi vay mượn.

Thanh-pho-binh-yen--Nguyen-Viet-Thao
Thành phố bình yên – Ảnh: Nguyễn Viết Thảo

Ít nghe ai kể chuyện người Sài Gòn đi nơi khác lập nghiệp hoặc thăng tiến ở những vùng đất xa lạ. Chỉ nghe nhiều người nhập cư (có thể gọi là như vậy) đã thay đổi cuộc sống sau một thời gian ngược xuôi trên dòng Bến Nghé, thậm chí chỉ thoáng vài năm qua lại chợ Bến Thành. Đó là trường hợp của vợ chồng Lê Văn Tài, quê ở Đức Phổ, Quảng Ngãi. Sau 6 năm đi làm thuê không đủ tiền sinh nhai, Tài bỏ quê vào thành phố Hồ Chí Minh hành nghề chạy xe ôm. Chiều ấy, thấy một cô gái té xỉu sau khi bước xuống xe buýt, Tài động lòng đưa nạn nhân đến bệnh viện. Không hiểu sao hình ảnh cô gái cứ lẩn quẩn trong đầu anh lái xe ôm suốt đêm hôm ấy. Sáng hôm sau, Tài lò dò đến bệnh viện hỏi thăm sự tình. Cô gái là công nhân một xí nghiệp may, sau nhiều ngày làm việc quá sức, nhất là ăn uống không đủ chất, sức khỏe bị suy kiệt. Hỏi ra nạn nhân cũng là người đồng hương, hai người chớm sinh tình cảm. Cuộc đời có những cái hữu duyên mà không ai biết trước được, sau sự cố ấy họ quyết định cùng nhau lập tổ ấm và chuyển nghề khác sinh sống. Chiếc xe bán hủ tiếu của họ nằm ở góc ngã ba trong một khu cư xá ngày càng đông khách. Ban đầu xe chỉ dọn hàng vào buổi sáng, dần dà bán suốt cả ngày đêm. Những lúc ít khách, Tài chạy thêm vài cuốc xe ôm. Công việc khá vất vả nhưng đôi vợ chồng trẻ cứ bền gan, quyết chí. Cuộc sống tất bật, cái làm người ta dễ quên nhất chính là thời gian. Chỉ 3 năm thôi, từ những người ở thuê, vợ chồng Tài đã tậu được một ngôi nhà nhỏ xinh ở quận Bình Tân và gởi tiền về quê giúp đỡ cha mẹ. Rồi 2 năm sau đó, họ lại sắm thêm một chiếc xe tải để cho thuê. Đứa con đầu lòng của họ chào đời. Mộng ước của hai người là chăm lo đứa con học hành đến nơi đến chốn, phải có chỗ đứng trong xã hội, không thể vào đời bằng hoàn cảnh gian nan như cha mẹ. Thế là, từ những người tay trắng, cuộc sống bấp bênh, vợ chồng Lê Văn Tài đã dựng lên một sự nghiệp, tuy chưa phải là giàu có nhưng vững chãi với đời. Trong những lần trò chuyện với bạn bè, Tài thường nói: “Cảm ơn thành phố đã cưu mang tôi!”.

Ở một “đẳng cấp” cao hơn, người cũng “mắc nợ” ân tình với thành phố Hồ Chí Minh có thể nhắc đến chị Trần Thị Lệ, 43 tuổi, Tổng Giám đốc Công ty Nutifood. Chị Lệ quê ở Bình Định, sau khi tốt nghiệp Y khoa, năm 1998 chị vào thành phố lập nghiệp. Thay vì đi làm bác sĩ chuyên môn, chị tham gia vào các đoàn từ thiện, khám, chữa bệnh cho người nghèo ở vùng sâu, vùng xa. Qua đó, chị thấy nhiều nơi còn quá khó khăn, thiếu thốn, nhất là trẻ em, ở đâu cũng có khá đông trẻ thiếu ăn, suy dinh dưỡng, bệnh tật. Từ sự hiểu biết của mình trong những năm ngồi dưới mái trường đại học, chị quyết định thành lập một cơ sở sản xuất thực phẩm chức năng. Đối tượng để tiêu thụ các mặt hàng là người bệnh, trẻ suy dinh dưỡng, biếng ăn. Từ những thành quả bước đầu, nhằm nâng cao năng lực hoạt động, năm 2000 Công ty Nutifood chính thức ra đời. Tôn chỉ của công ty không nhằm thu lợi nhuận bằng mọi giá, mà phải giữ lương tâm, trách nhiệm, các sản phẩm làm ra phải thật sự tốt, góp phần nâng cao sức khỏe cho cộng đồng. Nutifood ngày nay có 3 nhà máy đang vận hành và đang tiếp tục phát triển thêm một số cơ sở khác, trong 3.000 nhân viên có khá đông bác sĩ, dược sĩ, chuyên gia về nghiên cứu, ứng dụng dinh dưỡng. Từ nhu cầu thực tế của các đối tượng tiêu dùng, Nutifood đã cho ra đời hơn 130 loại sản phẩm với chất lượng cao, giá cả phù hợp với thành phần lao động, ngày càng được tín nhiệm, ưa chuộng trên thị trường. Tâm niệm của chị Lệ cũng như đội ngũ chuyên môn của Nutifood là đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng, mong ước trẻ em Việt Nam được nâng cao thể chất lẫn tinh thần, khỏe mạnh từ lúc còn nằm trong bụng mẹ, để sau nầy là người hữu dụng cho đất nước. Từ quan niệm nhân văn đó, hàng năm Ban lãnh đạo công ty đều trích lợi nhuận tổ chức các chương trình cứu tế, nhân đạo, nhất là hỗ trợ các tài năng sống trong hoàn cảnh khó khăn. Tuy không gây ồn ào dư luận như một số “quí bà” khác, nhưng chị Lệ là một biểu tượng cho sự thông minh, một tấm lòng yêu mến đất nước, biết chia sẻ cuộc sống với cộng đồng, vẹn toàn phẩm hạnh một người vợ, người mẹ.

Không chỉ là nơi nương náu, tìm kiếm miếng ăn hoặc phát huy được những khả năng hằng ao ước, người nhập cư còn đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của thành phố, tạo ra công ăn việc làm cho hàng vạn người tại chỗ, đào tạo nhiều thợ lành nghề, mang về những đồng ngoại tệ quí giá cho ngân sách. Trường hợp nầy có thể kể đến ông Đinh Văn Vui, Chủ tịch Công ty Văn hóa – Du lịch Suối Tiên. Là một kỹ sư nông nghiệp ở tỉnh Sóc Trăng, năm 1995 ông Vui lên thành phố Hồ Chí Minh mở lâm trại nuôi động vật bò sát để xuất khẩu. Qua cảm nhận của người có tầm nhìn rộng, ông dần biến mảnh đất hoang sơ ở vùng ngoại vi phía đông thành phố thành một khu du lịch trù phú. Vốn là người có tâm huệ, không chỉ đơn thuần nhằm mục đích kinh doanh, người sáng lập còn mong muốn gởi đến khách tham quan những thông điệp về uống nước nhớ nguồn, đạo nghĩa làm người, lòng từ bi, bác ái… nâng tính tư tưởng của các loại hình giải trí theo truyền thống văn hóa dân tộc. Nói như thế không có nghĩa khu vui chơi nầy mang nặng tính triết lý, diện tích rộng trên 55 mẫu tây, có đến 150 loại hình hoạt động mang màu sắc Tây phương lẫn Đông phương, thiên nhiên lẫn nhân tạo đủ sức thỏa mãn nhu cầu, thị hiếu của người lớn lẫn trẻ em, đáp ứng những đòi hỏi từ tinh thần đến vật chất cho du khách. Món ăn nào dù có ngon cũng phải thay đổi khẩu vị, Suối Tiên luôn phát triển những chương trình mới, có không ít công trình đầu tư đến 50, 60 tỷ đồng. Nhờ vậy, số lượng khách đến tham quan, vui chơi mỗi năm đều tăng, nhiều tổ chức, đoàn thể còn chọn nơi nầy làm điểm sinh hoạt truyền thống, dã ngoại. Năm 2015, Suối Tiên đón hơn 5 triệu lượt khách, đó là con số mà nhiều địa phương đang đầu tư ngành du lịch hằng mơ ước. Mới đây, sau khi quan sát các công trình của Suối Tiên, chủ tịch nhiều hiệp hội vui chơi, giải trí thế giới đều mở lời khen ngợi, tỏ ra thích thú trước sự đa dạng, phong phú và rất riêng của đại diện ngành giải trí Việt Nam. Nhiều năm trước đây, trong một số bài viết nói về các khu du lịch, tôi đã từng đặt cho ông Đinh Văn Vui một mỹ danh: “Ông vua của ngành công nghiệp giải trí quốc gia!”. Đánh giá nầy không có gì quá đáng so với óc sáng tạo, sự nỗ lực và lợi ích mang đến cho cộng đồng của một người hăng say làm việc. Tôi đã có dịp đến hầu hết các quốc gia ở vùng Đông Nam Á, nhận thấy Suối Tiên không thua kém nơi nào, có những mặt còn vượt trội, rất đáng tự hào. Ngoài một số lễ hội truyền thống mang tầm vóc khu vực như: Giỗ tổ Hùng Vương, Lễ hội trái cây Nam bộ, Ngày hội Thiện tâm nhân ái của người khuyết tật, Đại lễ Vu lan báo hiếu…, các hoạt động xã hội khác của Suối Tiên luôn thu hút sự quan tâm của nhiều tầng lớp công chúng. Sự sáng tạo, hiệu quả, lợi ích của khu du lịch đã mang đến một vinh dự danh giá cho người sáng lập và tổ chức, giữa năm 2016, ông Đinh Văn Vui được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. Tâm sự với tôi, ông nói: “Thành phố đã tạo nhiều điều kiện cho tôi hoạt động, trong sự thành công của mình, tôi luôn nhớ đến những tình cảm sâu đậm của người, của đất, thậm chí cả đường đi, lối về…”.

Tôi có thể kể cho bạn nghe hàng ngàn, hàng vạn câu chuyện thần kỳ về những người nhập cư như thế. “Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường”, huống hồ gì mảnh đất nầy là nơi mưa thuận gió hòa, là nơi ẩn chứa nhiều tiềm lực của quốc gia, là nơi xuất phát nhiều chương trình nghĩa tình, nhân ái. Sau 55 năm lập nghiệp ở Pháp, Giáo sư Trần Văn Khê quyết định về sống hẳn ở Việt Nam và ông chọn thành phố Hồ Chí Minh làm nơi cư trú. Trong một lần trò chuyện với tôi, nhà nghiên cứu âm nhạc lừng danh châu Á nói: “Thành phố nầy ấm áp lắm. Ấm áp không phải là thời tiết mà là lòng người. Cái nhân, cái nghĩa, cái tình đã tạo nên một mảnh đất đáng yêu như thế!”.

Trần Tử Văn
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 421

Ý Kiến bạn đọc