Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi

Thanh Hào – Sông Hồng và làng bãi

 

Thanh Hào?… Chắc đa số mọi người sẽ nghĩ một chút, rồi: à, nhà thơ chuyên về thơ thiếu nhi.

Thanh Hào có sáng tác cả văn xuôi đấy. Tập bút ký Sông Hồng và làng bãi (2009) của ông lắm đoạn thật là gợi cảm, đọc văn mà ta như thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ được bao nhiêu cảnh sắc và hương vị thôn quê, quen thuộc có, độc đáo có… Quê ở Bắc bộ thì cũ kỹ vô cùng, cái gì đây mà độc đáo? À, Thanh Hào từng cư ngụ ở một nơi mà địa hình có nét lạ. Ở nơi ấy cả cảnh sắc lẫn hương vị đều hơi khác thường so với các làng quê điển hình châu thổ sông Hồng.

Hãy nghe một tri kỷ của nhà văn kể về “bãi Giữa”: “Ngày xưa… dẫu cũng chưa xưa lắm, có một bãi cát ở giữa sông Hồng (…) nay đứng giữa cầu Long Biên, ta không thể thấy nổi một hạt cát, một ngọn cỏ của cái bãi hàng trăm mẫu đất trước đây lau sậy, cỏ bói mọc như rừng (ấy nữa)… Nó đã dâu biển ngay trước mắt người Hà Nội, nó lở dần, lở dần rồi… biến mất”. Trên bãi Giữa có làng: “… xanh um những tre, chuối, đu đủ, ngọn cau vây quanh những ngôi nhà phần lớn còn lợp lá. Những vườn hoa, vườn rau vuông vắn điểm xuyết (…) (Làng) như tấm thảm thêu. Bao quanh phía ngoài, sát mép sông là bãi ngô xanh mướt”. Muốn thăm cái chốn “đất giữa nước” ấy, dễ lắm: “Lên cầu Long Biên, đến giữa cầu, đi xuống (…) bậc thang (…) là (…) được đằm chân lên cát mịn như nhung, đi giữa hai hàng râm bụt vào những ngõ quê mà đáng ra phải đi hàng chục cây số ra ngoại thành (…) mới gặp”.(1)

Hình như ít ai biết, nơi cái bãi Giữa nên thơ này ở một ngày xưa hơn nữa, “dẫu cũng chưa xưa lắm”, đã từng xảy ra một trận đánh nhỏ nhưng ác liệt. Đêm 17/2/1947, Trung đoàn Thủ Đô bí mật rút khỏi Hà Nội. Trung đoàn không vượt sông Hồng một hơi, mà ra đến bãi Giữa thì nghỉ lại, đến đêm ngày 18 mới vượt tiếp qua bờ bên kia, vào vùng tự do. Gần sáng ngày 19, chỉ còn độ hai chục người đang đợi thuyền thì quân Pháp ập đến. Bộ đội cùng tự vệ địa phương chống trả kiên cường nhưng do địch quá đông, hỏa lực áp đảo, nên nhiều chiến sĩ ta hy sinh. Ngày 19/2 từ đó trở thành ngày giỗ trận ở làng Tứ Tổng.(2)

Trở lại với Sông Hồng và làng bãi. Cái môi trường sống của dân tộc Việt Nam suốt mấy nghìn năm không phải là một nơi thật dễ sống, nhưng nó rất giàu thi vị. Rồi chính cái cuộc tồn tại của tổ tiên ta trên đất ấy tuy khó khăn vất vả, nhưng nhiều lúc cũng chan chứa thi vị. Không ít văn thi nhân miền Bắc khi sáng tác đã thể hiện được cái chất thơ trong cảnh vật và trong sinh hoạt của quê hương mình. Chúng tôi thấy Thanh Hào cũng là một trường hợp như thế, nên xin trích bàn một số đoạn từ tập bút ký này của ông. Sau đây là lần trích bàn thứ nhất (các tiểu đề đều là tạm đặt).

Thơm ngát một thời

“Quê tôi ngày xưa trồng rất nhiều bưởi (…) Mùa hoa bưởi quê tôi hương thơm tỏa ngát cả một vùng. Buổi sáng sớm (…) sương đè làn hương không bốc lên cao được, hương bưởi càng đậm đặc. Người đi trên đê qua làng như đi trong một lớp hương thơm tưởng chừng như giơ tay có thể bốc được. Ta có cảm giác con người phải chen trong hương thơm để tìm lối ra. Lớp hương mơ hồ bao bọc, xoắn xuýt lấy người. Trên áo, trên vai, trên tóc và mặt mũi, hương hoa như xa lại như gần, lúc sực nức, lúc thoang thoảng. Người đã đi qua xa ngoái đầu nhìn lại tưởng như mùi hoa còn đuổi theo (…) rồi biết rằng mình đã “thoát” ra khỏi cái vùng hương của hoa (…) vội vàng hít lấy, hít để, thấy quanh mình chẳng còn chút hương nào, bấy giờ mới tiếc ngẩn ngơ muốn quay trở lại cái vùng đất, vùng trời thơm ngát ấy (…) Mùa hoa bưởi, không khí làng nhộn nhịp hẳn lên (…) Mờ mờ mặt người đã trèo cây hái hoa (…) từng bông một nên rất lâu (…) Cửa nhà mua hoa xôn xao, tấp nập (…) Người mang hoa đến bán, lúc ra về (…) xin ít bã hoa về cho người nhà đun nước gội đầu. Anh con trai chưa vợ (…) ngượng ngùng không lấy bã hoa, chủ lò nhắc vui: “Không lấy một ít hoa chín về cho “người dưng” à?”. Người ta kiêng dùng chữ bã mà gọi là “hoa chín” (…) Hoa chín được chủ nhà đổ ra nong, ra nia ngay cửa nhà, ai muốn bốc bao nhiêu tùy ý (…) Mùa hoa bưởi đi qua (…) dư hương đọng lại trong (…) cái kẹo, chè lam, bánh khảo, bánh đậu xanh, chè đỗ đãi, bánh trôi, xôi vò, cho đến phẩm oản chay cúng Phật (…) (tất cả đều) thơm ngát cái tình quê mộc mạc. Ðặc biệt (…) quả bưởi đã chín vàng lại được gặp cái hương của hoa nó trong những chiếc bánh Trung Thu trên mâm cỗ trông trăng”. Cất nước hoa, cái nghề nên thơ quá nhỉ. Thế mà thôi rồi: “… tiếc cho cây bưởi trong những năm gần đây không được gửi hương hoa”. Kể ra, bởi “dư hương đọng lại” ta vẫn thi thoảng gặp, trong bột sắn dây chẳng hạn, nên hoa bưởi cũng còn được gửi mùi mình vào quà quê đấy, nhưng chả là gì so với xưa kia. Mỗi mùa xuân Trời cho bao nhiêu là hương, mà để bay lên trả lại Trời gần hết, uổng quá đi, người ơi… À, mà cái việc sản xuất nước hoa bưởi chắc đã “đổi mới”. Chắc không ở “quê tôi” nào còn có thể gặp những anh con trai chưa vợ gánh hoa sống đi bán, lúc ra về ngượng ngùng khi chủ lò nhắc lấy “hoa chín” về cho “người dưng”… Đọc bài viết về một nền nếp sinh hoạt địa phương đã mai một, chợt liên tưởng rộng ra đến toàn thể cái không gian văn hóa dân tộc từng tồn tại suốt bao nhiêu thế hệ. Chợt thấy mình là một người vừa đi qua khỏi một thời dằng dặc, đang “ngoái đầu nhìn lại tưởng như mùi văn hóa cũ còn đuổi theo (…) biết rằng (…) đã “thoát” ra khỏi cái vùng hương của hoa (…) vội vàng hít lấy, hít để” cái hương không còn nữa, mà “tiếc ngẩn ngơ muốn quay trở lại cái thời nghìn năm thơm ngát ấy”!

Bánh khúc quê bãi

“Mùa rau khúc ở quê bãi, bắt đầu từ cuối tháng giêng (…) mọc lên từ phù sa (…) trong nắng gió và không khí đặc biệt của dòng sông, cây rau khúc (ở đây) mang (…) hương vị riêng (…) Có hai loại: khúc nếp và khúc tẻ. Khúc nếp (…) nhỏ lá và mau cành hơn. Lá (…) chỉ nhỏ như ngòi bút ba-la (…) Cả hai (…) thân và lá đều ánh lên như phủ một lớp tuyết nhung trắng mượt mà (…) Mặc dù (…) là anh em họ với loài hoa cúc, nhưng hoa rau khúc không thơm nồng (…) phải đưa lên mũi mới thấy được phảng phất mùi thơm man mát. Chúng tôi (…) đi lang thang khắp những cánh bãi non (…) hái khúc nếp (…) Rau hái buổi sáng, đến trưa cả nhà ăn cơm cháo qua loa, rồi ai vào việc ấy. Chị em tôi thay nhau giã bột, cứ hai phần ba gạo nếp thêm một phần gạo tẻ. Mẹ tôi luộc rau xong, chắt nước luộc rau để vào một chỗ, lát nữa nhào bột để lấy mùi thơm. Rau khúc giã xong (…) trộn vào bột cho thật đều. Nhân bánh bằng đậu xanh, hành mỡ, thịt ba chỉ có rắc hạt tiêu và vẩy vào vài giọt cà cuống. Bánh nặn xong cái nào xếp ra lá chuối trải trên mâm. Xong tất cả, mẹ tôi xếp bánh vào chõ. Xếp đến đâu bà lại rắc gạo nếp làm áo ngoài đến đấy. Cả nhà ngồi chờ mẹ đồ bánh. Khi chõ bánh đã sôi được một lúc, mùi bánh lan tỏa khắp nhà (…) thời gian chờ bánh chín sao mà lâu đến thế (…) Những mùi thơm tho của nhân bánh không át nổi mùi rau khúc. Cái mùi thơm thật khó tả, nó phảng phất như mùi đá núi phơi nắng, ngạt ngào của hơi phù sa mới và hăng nhè nhẹ của họ hàng nhà cúc (…) khiến khi nuốt miếng bánh, muốn nuốt hết cả mùi (…) một cách vội vàng, kẻo nó bay vào không khí mất”. Rau mà lại phảng phất “mùi đá núi phơi nắng”! Mùi xa xôi đó và mùi “hăng nhè nhẹ (quen thuộc) của họ hàng nhà cúc” là hương cơ bản của cây rau khúc? Chứ còn cái “ngạt ngào của hơi phù sa mới” thì hẳn là mùi riêng của thứ rau khúc mọc ở vùng quê bãi mà thôi. Thanh Hào nghĩ rau khúc “có thể trong đồng cũng có”. Ðọc Tô Hoài, ta biết chắc trong đồng cũng có, lại là đồng cao… Làm sao tổ tiên ta trông cái cây “dại” như thế, lại nghĩ ra được cách dùng đúng chỗ như thế nhỉ? Thì cái miếng ngon nào chẳng là sáng tạo tài tình.

Nấu kẹo mầm

“Hàng năm cứ khoảng cuối tháng chạp âm lịch, bà tôi lại nấu một nồi nha, để Tết làm kẹo lạc và chè lam (…) Trước đó bà ủ thóc nếp cho lên mầm (…) Khi mầm thóc dài khoảng đốt ngón tay (…) bà nấu một nồi to cháo gạo nếp loãng. Cháo nấu thật nhuyễn, đổ thóc mầm vào tiếp tục đun, vừa đun, vừa phải dùng đũa cả đánh luôn tay. Ðánh liên tục, không để bén dưới đáy nồi. Ðây là khâu vất vả nhất, bà thường đứng chỉ bảo cho hai cô tôi thay nhau đánh đũa cả nồi nha. Các cô tôi nói với bà: “Ðược miếng bánh, miếng kẹo của u thì sái cả cánh tay hết cả mùa xuân”. Bà bảo: “(…) Sau này anh nào nó rước đi cho, cứ là… nó cũng sướng một đời! “Có làm thì mới có ăn. Không dưng ai dễ đem phần đến cho?””. Thế là các cô tôi lại phá lên cười: “Ðấy, đấy… U lại đọc cho nghe mấy bài ca dao nữa bây giờ…” (…) Bà tôi (…) hay ví von. Bất cứ làm việc gì bà cũng ví, cũng đọc một câu ca dao (…) phù hợp (…) Các cô tôi thường bảo bà tôi là người “cổ”. Bà cười và chửi yêu: “Phục sinh nhà các cô! Không có cổ sao có kim?”. Các cô tôi (…) lại rúc rích cười và làm việc nhanh hơn. Sau khi tất cả cháo và mầm thóc, nhân thóc nhuyễn vào nhau thành nước sền sệt, nước ấy đem đổ vào túi vải, treo lên xà nhà để lọc vào một cái chậu sành. Nước nha phải lọc hai lần. Lần đầu dùng hai lần vải xô, bỏ bã trấu đi. Lần hai dùng vải dầy hơn (…) Sau cùng được một loại nước trong như thủy tinh vàng mơ. Nước này đem cô lại. Khi cô cần đun nhỏ lửa, tránh sôi bồng và cũng phải đảo luôn tay để tránh bén nồi (…) Nước nha bốc hơi, tỏa mùi thơm (…) tưởng như không khí quanh khu bếp chạm vào đầu lưỡi đều thấy ngọt mát (…) Tôi có cảm giác: nếu để không khí ấy bay đi, thật phí! Nước nha (…) quánh lại (…) chuyển từ màu vàng mơ sang màu vàng như mật ong (…) Keo đó đổ ra liễn sứ, để nguội kẹo đặc lại. Ðó là kẹo nha. Ðó là kẹo mầm (…) Anh em chúng tôi đã chuẩn bị mỗi đứa một chiếc đũa (…) đón chiếc đũa từ tay mỗi đứa, bà lại nói: “Nào đưa đây. Sứ giả ăn trước Thành Hoàng!”. Bà véo nha dính vào đầu đũa cho mỗi đứa một viên to bằng quả cau (…) tha hồ ngậm hàng tiếng đồng hồ mới hết”. “Ðó là (…) Ðó là (…)”. Ðó cũng chính là “mạch nha” ở miền Trung, miền Nam. Chúng tôi nhớ hồi còn nhỏ ở Sài Gòn thỉnh thoảng được ăn mạch nha đựng trong lon như lon sữa bò nhưng có nắp, hình như đặc sản Quảng Ngãi, cũng dùng đũa quấn cái chất dẻo quánh ấy cho đến khi chiếc đũa “trông như một chiếc chùy nhỏ”… Trẻ con thành phố thì không được làm “sứ giả” ăn kẹo nha vừa mới làm xong, không được hưởng cái thú hít mùi “nước nha” đang cô (cũng như mùi bánh khúc, phải hít hết, không thì “thật phí”). Cũng không thể nghe “bà tôi” vừa chỉ huy “các cô tôi” vừa đọc ca dao liên tục… Cái hương nha ngày xưa, đối với người cầm bút ghi lại nó không biết bao nhiêu năm sau, hẳn đã hóa thành như một thứ “hương nhà” đấy nhỉ. Cái không khí gia đình ở quê trước kia đầm ấm quá, thế mà nay coi như đã “bay đi” rồi, “thật phí”!

Ngô nướng, ngô luộc

“Ngô nướng phải chọn ngô mới đông sữa, tẽ ra không bị vỡ. Khi nướng để nguyên cả bẹ, gác lên bếp kiềng đốt lửa to. Vừa đốt vừa xoay giở (…) nước bên trong bốc hơi không kịp thoát ra, tạo thành lớp mồ hôi. Lớp mồ hôi này sôi lên, làm chín hạt ngô trước khi chúng kịp nổ (…) không bị thôi ra nước như ngô luộc, không bay mất mùi thơm như ngô nướng bóc trần. Khi bẹ ngô đã cháy vào đến trong cùng (…) mùi ngô nướng thơm bay khắp nhà, khắp xóm. Mùi thơm ngòn ngọt của chất đường, pha lẫn mùi béo của sữa ngô mới đông, mùi ngai ngái của râu ngô, bẹ ngô cháy. Tất cả quyện vào nhau thành một mùi thơm (…) đến ngỡ ngàng (…) Bóc lần bẹ cuối cùng (…) ngon mắt làm sao. Tất cả (…) hạt ngô đều có màu cà-phê (…) Tẽ hạt ngô bỏ vào miệng, có cảm giác là ăn ngô “quay”, chứ không phải ngô nướng. Bì hạt ngô giòn giòn, thịt hạt ngô dẻo quánh, nhân hạt ngô ngòn ngọt, thật sướng cả hàm răng (…) (Ngô luộc) phải luộc “hai lửa” mới ngon. Tối hôm trước cho nhiều nước, đun cho ngô chín và cạn bớt nước. Sáng hôm sau dậy sớm, đun lại cho nước ngô cạn chỉ còn vài bát nước (…) mọi người ăn ngô xong (…) tráng miệng bằng nước ngô (…) vàng, sánh như mật ong. Ngọt lừ và thơm phức”. Ở quê bãi một nhà nướng ngô, cả xóm được ăn… mùi! Dĩ nhiên chính nhà nướng ngô thì mọi người ăn bằng mũi xong, ăn tiếp luôn bằng miệng. Ở quê bãi, ngô luộc cũng khác hẳn ngô luộc bán rong trên phố… Ngô nướng, ngô luộc đã ăn bao nhiêu rồi, nước ngô luộc cũng có uống rồi, nhưng bây giờ thưởng thức… ngô kể của Thanh Hào, mới biết mình coi như chưa được ăn, được uống!

Cái thú đò dọc

“Sáng tinh mơ (…) Người khách (…) cúi khom lưng bên mạn thuyền, nhúng chiếc khăn xuống mặt nước (…) Cái mát lạnh của (…) mặt nước còn đượm hơi sương (…) ngấm vào khăn, cho khách cái cảm giác được áp lên mặt cả một vùng sông nước, sảng khoái đến lạ lùng. Cả mặt sông là một màu hồng rực rỡ. Mặt trời buổi sớm đỏ như quả cầu lửa. Quả cầu vỡ ra, màu son chói lòa tràn vào sương khói, làm mặt nước cháy lên những ánh lửa liu riu (…) Thỉnh thoảng trục bánh lái lại cọ vào đuôi thuyền két két khẽ như tiếng cánh cửa bức bàn (…) Khách (…) ngồi trên mui (…) thả tầm mắt ngắm nhìn đôi bờ đang từ từ chạy lại phía sau. Những cô gái giặt lụa, đập xuống mặt nước cả tấm lụa gấp nhỏ, thành tiếng kêu “đùm đụp” (…) cất lời (…) “Thuyền đi có nhớ bến chăng…” (…) tiếng cười làm chòng chành cả con thuyền (…) Ðò chiều mang lại cho khách những thú vị khác (…) Buồm căng phồng (…) thuyền cưỡi sóng mà lướt (…) những bãi mía, nương ngô, tre, chuối chìm dần vào màu da cam rồi (…) tím sẫm (…) bóng những con thuyền khác lúc xa lúc gần, khi ẩn khi hiện, đan vào nhau, lờ mờ như những cánh buồm ma (…) Vầng trăng đã mắc trên đỉnh cột buồm. Chủ đò dọn mâm rượu trên mui (…) Lòng sông như rộng ra (…) nhưng con đò lại đi trong một khung sông hạn hẹp bởi sự mờ ảo của màn đêm (…) Ðò đi đến đâu, sông giãn ra đến đấy (…) Trăng sao (…) xa vời vợi lại hóa gần (…) Mặt nước là tấm gương khổng lồ (…) Sông vàng lên như dãi lụa, những ngôi sao là những chấm hoa sáng long lanh, lấp lóa, kỳ ảo. Chén rượu nhỏ cũng thu được cả bầu trời. Khách đò nâng chén chúc nhau, trong đáy chén có trăng, có sao (…) Chén rượu mới đặt lên môi mà men say đã ngấm ngây ngất lòng người”. Nguyễn Tuân cũng có lần tùy bút về đò dọc: “Ấm trà sớm uống trên mặt sông, điếu thuốc lào hút trên mui thuyền, hương vị khác hẳn (…) Kế đến bữa rượu sớm dọn ở đằng sau khoang lái, ăn đến đâu, vứt xương thịt xương cá xuống ngay dòng nước chảy lùi (…) (Ăn xong) nằm phơi mình trên mui thuyền, nép dưới bóng lá buồm (…) hưởng cái gió sông (…) Nhá nhem tối (…) Trời nổi cơn giông rồi mưa. Mưa lộp độp, mưa rào rào, gõ mãi vào mui nan cật, mỗi giọt gieo nặng là mỗi tiếng đánh thức nhiều chuyện (…) của những ngày qua” (trong “Chiếc va-li mới”). Hai chuyến đi, mỗi chuyến hấp dẫn một lối. Chuyến Thanh Hào, sáng thơ mộng đêm huyền ảo. Chuyến Nguyễn Tuân thì đầy ắp phong vị giang hồ. Giời ơi, đọc các cụ mà ao ước quá. Làm sao đây để tinh mơ được nhúng một cái khăn xuống “mặt nước còn đượm hơi sương” mà “áp lên mặt cả một vùng sông nước” rồi khoanh chân trên mui đò nâng chén trà khói nóng bốc lên chen vào sương mát, để trong đêm bí mật được nâng thứ chén thơm khác chứa cả bầu trời vằng vặc trăng và lấp lánh sao, để được nằm dưới một mui bồng nghe mưa lộp độp, rào rào, rả rích, mưa không ướt da mà tạt sâu vào đến tận lòng, làm da diết nhớ tri âm cũ… Ờ, có khi ở đâu đó cũng còn thứ phương tiện đường thủy lạc hậu ấy. Nhưng chắc chắn không đâu còn có thể thấy được trên bờ những cô gái giặt lụa cất lời trêu khách rồi cười “làm chòng chành cả con thuyền”, hay những nàng con gái “thương ai nấp bụi, nấp bờ / sớm trông đò ngược, tối chờ đò xuôi” nữa…

Sông Hồng mùa thu

“Mùa thu đã đến rồi! Nước sông Hồng bắt đầu chuyển màu. Phù sa đỏ đã nằm lại trên các triền sông, trên những bãi mía, nương dâu để nuôi cây. Gió heo may đang dẫn đường cho những đàn chim én chao đảo trên mặt sóng, bắt những con vờ cuối cùng của mùa hè còn sót lại. Tiếng kêu của chim én làm cho những buồng chuối đôi bờ lên màu trứng cuốc. Cho những cây mía đôi bờ mang đường lên ngọn. Những vườn cúc của những làng hoa bên núi Nùng đang nở hoa vàng như nắng. Người ơi! Hãy mang hoa cúc bên núi Nùng ra bến Tứ Liên tìm một con đò sang ngang. Thuyền hoa của ta sẽ trở thành thuyền chở nắng thu. Ta thả mấy bông cúc xuống nước, cho dòng sông đỏ lung linh sắc nắng hoa vàng. Nhìn những bông hoa bập bềnh trên sóng nước, ta có thể bắt gặp những cánh cò chen vào bên những bông hoa. Những cánh cò bay sang từ bờ bắc, qua sông về phố Lò Ðúc để xem xem cái cây ngày xưa làm tổ đã thay đổi ra sao”. Cái con sông mà hình ảnh hay được nhớ là “cuồn cuộn”, “phăng phăng”, dữ dằn, mà có lúc hiền hòa, êm ả, thơ mộng đến thế ư. Thanh Hào viết bài này năm 1993, nhưng không biết đây là sông Hồng vào quãng ấy hay ông hồi tưởng một thời nào… Bây giờ mùa thu, én có còn về bắt vờ không nhỉ? Cái bến Tứ Liên có còn đấy chăng, nhớ hôm nào đi trên đường Âu Cơ, thấy chùa Tứ Liên ngơ ngác bên đường giữa cơ man nhà tầng mới xây. Những cánh cò từ bờ bắc sang sông về thăm tổ cũ nay chắc chỉ vừa qua đến bờ nam đã thấy bỡ ngỡ… Chợt nhớ cái câu “Thành phố này đã bắt ăn hết cả chim trời” của người hay kể “chuyện cũ Hà Nội”(3). Thôi, quên phố Lò Đúc đi, sang lại sông ngay đi, bay lả bay la ơi.

Dưới trăng, giữa sen

“Giữa đầm (…) có những cái chòi nhỏ (…) mái lợp tạm bợ bằng dăm ba tầu lá cọ, bốn phía để trống (…) Những cái chòi canh sen (…) Vài ba người bạn (…) bơi chiếc thuyền con, mang theo bộ đồ trà. Ở chòi đã có cái hỏa lò đất nung, cùng nắm củi tre ngâm, bình nước mưa lấy từ lòng lá sen (…) Các cụ nhen (…) lửa (…) Với tay xuống dưới chòi, ngửa lòng tay rũ chỗ trà ướp (…) trong hoa từ đêm trước. Cánh chè ỉu ra, ngậm đầy hương thơm ngát. Mỗi bông hoa đủ cho một ấm (…) Trà pha đã đủ ngấm, rót ra tống (…) hương (…) bay đầy chòi (…) từ tống chuyên ra những cái chén mắt trâu (…) đưa lên miệng (…) đầu lưỡi (…) thấm cái vị tinh khiết (…) Lòng già tưởng (…) vừa thoát tục (…) Trăng (…) lung linh huyền ảo làm sáng lên những mặt người như trẻ lại”. Nhã thú là thế này đây. Ngồi giữa sen uống hương sen vào bụng, khéo hóa sen mất! Hương sen hay hương trăng mà “đằm thắm cõi không gian”…(4)

Làm chè lam ngày tết

“Sáng ngày mồng hai Tết, bà tôi đánh thức các cô tôi, mẹ tôi dậy từ tờ mờ đất. Người rang gạo nếp cái thành bỏng, người rây bột, người rang vừng đem ra xát vỏ (…) Tôi cũng dậy xem (…) Chao ôi, mùi vừng rang, gạo nếp rang cứ bay quanh sực nức khắp nhà. Dường như những mùi thơm ấy luồn cả vào trong chăn, vào đầu, vào cổ, ai có thể nằm yên được (…) Bà nhìn tôi (…) tay bà sục xuống dưới cái vỉ buồm đậy bỏng nếp, vốc cho tôi một nắm (…) bảo: “Lại sứ giả ăn trước Thành Hoàng!” (…) Nồi nước đường (kẹo nha, gừng, nước) cô tôi đun, thỉnh thoảng bà lại lấy đầu đũa nhúng vào, lấy một giọt, nhỏ vào bát nước lã nguội. Lần cuối cùng giọt đường trong bát nước tròn xoe như viên bi nhỏ. Bà vớt viên đường ra đưa cho tôi, bảo cắn thử. Tôi cắn viên đường, nghe tiếng vỡ giòn tan trong mồm. Bà sai cô tôi đổ bột gạo nếp xay vào nồi (…) tiếp tục đun và đảo cho đều. Một lát sau, chè lam được đổ ra mấy cái mâm đồng đã rắc vừng lót dưới lòng mâm, cùng với bột nhỏ mịn rây ra. Sau đó, dàn mỏng chè cho đều trên mâm, rồi lấy chai, lấy con lăn bằng gỗ rắc bột, rắc vừng vào, cán cho chè mỏng đều và kết vào nhau thành một bánh. Cuối cùng để chè nguội, lấy thước đặt vào, dùng dao cắt thành từng thỏi hình chữ nhật, to hơn con tam cúc. Cắt được miếng nào đều đem tẩm bột làm áo để những miếng chè không dính được vào với nhau nữa”. Ngày mồng hai Tết mà phải “dậy từ tờ mờ đất” để làm việc! Việc khác thì mất Tết như chơi, nhưng việc này không sao cả, nhất là đối với “tôi”, là người phụ trách những công tác “ngồi xem”, “nuốt nước bọt”, “ăn trước Thành Hoàng” nắm bỏng, “cắn thử” viên bi đường, và hẳn rút cuộc là nhai thử thỏi chè lam đầu tiên… Thứ quà ngọt ấy có cái tên lạ. “Chè”, có thứ đựng trong chén mà uống, lại có thứ để trên đĩa mà cầm lên ăn. Vừa uống chè vừa ăn “chè”, Tết thật!

Viết đã lâu
Sửa lần chót tháng 5-2020

Thu Tứ
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 598

——————-
(1) Bài “Ven sông, có một nhà thơ…” của Vân Long.
(2) Xem trang quansuvn.net.
(3) Tô Hoài, bút ký Chuyện cũ Hà Nội.
(4) Bài “Sáng láng” của Hàn Mặc Tử có câu: “Như hương trăng đằm thắm cõi không gian”.

Ý Kiến bạn đọc